Và có lẽ việc Ngua tôi cho rằng Lã Mông là bậc tài trí sẽ làm một vài tiên sinh bất ngờ bởi lẽ đã từng bị ảnh hưởng nhiều từ những điều huyễn hoặc từ TQDN của La tiên sinh với quan điểm bảo hoàng ủng hộ tập đoàn Lưu Bị mà đánh giá thấp những nhân tài thuộc các thế lực quân sự khác, đặc biệt điều này xảy ra với nhà Ngô (Du, Túc đều đã từng bị đánh giá rất tầm thường đấy thôi). Nói chính xác thì Lã Mông quả thật là một vị đô đốc tài trí của Đông Ngô, chẳng thua Công Cẩn mấy nỗi. Trong TQDN của La tiên sinh, khi phía Ngô mở tiệc sau thắng lợi Kinh Châu cũng có nhắc lại câu nói của Tôn Quyền rằng: "Lã Tử Minh còn hơn cả Chu Lang cùng Tử Kính". Dẫu có thể đánh giá rằng đó là một lúc cao hứng của Tôn Quyền, song cũng thấy ở đó phần nào sự thật, đó là tài trí Lã Mông được người đương thời công nhận. Và dưới đây xin dành cả bài này viết về vị đô đốc tài trí của Đông Ngô: Lã Mông.
Lã Mông là người Nhữ Nam, xuất thân nghèo khổ, ngay từ thuở nhỏ đã có tuệ khác thường, thích làm điều nghĩa hiệp nhưng lại rất ít đọc sách. Lã Mông theo về dưới trướng của Tôn Quyền từ năm Kiến An thứ bảy, do tài cán khá nổi trội nên chỉ sau một năm đã được cất nhắc lên chức Bình Bắc đô uý. Tam Quốc Chí của Trần Thọ, phần Lã Mông truyện chép rằng: "Lã Mông có khí chất của bậc quốc sỹ, Tôn Quyền đã từng khen Lã Mông có thao lược kỳ tài gần như Chu Công Cẩn". Trong số những vị đô đốc nước Ngô thì Lã Mông có hoàn cảnh xuất thân và quan điểm chính trị có nhiều phần giống với Chu Du, tức là rất khác biệt với Lỗ Túc, song hai người Túc và Mông lại có quan hệ rất thân thiết, hai bên đều rất nể trọng nhau, Túc thường khen ngợi tài cán của Lã Mông với Tôn Quyền, lại từng nhận mẹ Lã Mông là mẹ mình, cùng với Lã Mông kết tình huynh đệ.
Sau khi Lỗ Túc mất, Lã Mông được cử lên nắm đại quyền quân sự ở Giang Đông, do đường lối tư duy của Mông khác với Túc nên trong quan hệ ngoại giao giữa Đông Ngô và Kinh Châu có những thay đổi từ nền móng, ngoài mặt Lã Mông vẫn thể hiện ra với Quan Vũ sự kính trọng nhất định, nhưng trong bụng lại có những toan tính ngấm ngầm.
Từ một chức Bình bắc đô uý cỏn con sau 5 năm đã nhảy lên hàng đại tướng quân, lại sau chừng 10 năm nữa, Lã Mông nhanh chóng leo lên địa vị của một người nắm quân quyền quốc gia đại sự khá thấy tài trí Lã Mông chẳng tầm thường. Sử ghi lại câu chuyện rằng, khi Mông lên nắm chức đô đốc, do rất lười đọc sách nên Tôn Quyền đã từng gặp riêng Mông và khuyên Mông rằng: "Tướng quân nên chăm đọc sách một chút, việc đọc sách là để mở mang kiến thức, biết được nhiều kinh nghiệm của tiền nhân, sẽ có ích cho việc điều hành quân chính, lại rất tiện lợi đối với công tác hành chính địa phương”. Tuy nhiên Mông lại từ chối, lấy cớ rằng việc quân bận rộn không có thời gian rảnh rỗi đọc sách. Quyền lại bảo rằng: “Ta khuyên ngươi đọc sách chẳng phải mong ngươi làm tiến sỹ, ngươi bảo bận rộn, ta đây chẳng lẽ ít bận rộn hơn ngươi? Vậy mà ta vẫn thường đọc sách để tự nâng cao kiến thức của mình".
TQC có kể rằng, Lã Mông vốn có bệnh, thường đau yếu luôn, một lần đau yếu xin về nhà ở Thẩm Dương chữa bệnh, có nhiều thời gian rảnh rỗi, Mông đóng cửa đọc sách suốt đêm ngày. Thời gian sau đó không lâu, Quyền đến thăm bệnh tình của Lã Mông, hai người đàm đạo chuyện quân quốc đại sự, lát sau Quyền phải kinh ngạc nói rằng: "Tướng quân, thao lược của tướng quân chẳng phải là Lã Mông ngày xưa nữa!" Mông cười nói rằng: "Kẻ sỹ xa nhau ba ngày, dụi con mắt mà ngóng đợi, huynh đến muộn quá đấy thôi!”
Câu chuyện trên đây đã được đưa vào điển cố Trung Hoa, câu thành ngữ: "Kẻ sỹ xa nhau ba ngày, dụi con mắt mà ngóng đợi.” chính bắt đầu từ những ghi chép này mà ra vậy.
Với chiến lược ở Kinh châu, khi nắm quyền thay Lỗ Túc, Mông đã gặp riêng Quyền bàn rằng: "Quan Vũ là người kiêu dũng, ngạo mạn, lại nhiều dã tâm, sớm muộn cũng có ngày nảy sinh ý thôn tính phía Đông, bởi vậy chúng ta cần ra tay trước, sau đó tiến hành bố trí lại phòng tuyến." Quyền hỏi: "Nên làm thế nào?". Mông đáp: “Nếu đoạt được Kinh Châu, ta sẽ để Chinh lỗ tướng quân Tôn Kiểu giữ Nam Quận, sai Phan Chương đóng đồn ở Bạch Đế thành, từ hai vị trí đó tạo thành mắt xích nối liền chiến tuyến ngăn cản sự uy hiếp của Lưu Bị ở phía Tây lại, còn Lã Mông tôi sửa sang lại phòng tuyến Kinh Châu thì việc gì phải lo sợ sự uy hiếp của Tào Tháo xuống phía Nam? Từ đó tiến lên chúng ta có thể uy hiếp cả Tào Tháo ở xứ Bắc, vậy thì tại sao ta phải dựa vào Quan Vũ ở Giang Lăng?" Rồi Mông lại nói thêm rằng: "Lưu Bị, Quan Vũ là đồ gian xảo, phản phúc vô thường, chẳng thể coi là đồng minh tâm phúc. Dựa vào người khác sao bằng tự tin ở chính mình? nay khuếch trương thực lực cho người khác để làm chỗ dựa cho mình, một mai thực lực của đối phương vượt quá mình tất sẽ nguy đến bản thân, chi bằng ra tay trước là thượng sách."
Cách nghĩ của Lã Mông cũng là cách nghĩ rất thực tiễn, là cách nghĩ cách nhìn chung của đa số các lãnh đạo quần hùng thời Tam Quốc, nhuốm rõ màu sắc chủ nghĩa anh hùng cá nhân, coi lợi ích trước mắt của cá nhân, của quốc gia hơn là quan tâm đến đại cục. Quả nhiên ý kiến ấy thuyết phục được Tôn Quyền, và thế là công tác chuẩn bị cho cuộc đánh úp Kinh Châu được tiến hành âm thầm trong bóng tối, đằng sau vẻ mặt tươi cười của Lã Mông đã ẩn giấu những mưu mô chết người. Quan Vũ ngạo mạn và kiêu căng xem như dưới mắt không người, cộng thêm với những quyết sách vội vã thiếu những toan tính xác đáng của Lưu Bị cùng Ban tham mưu quân sự của tập đoàn Lưu Bị đã khiến chính quyền non trẻ xứ Thục gặp phải những sóng gió ghê gớm, thậm chí sau này đẩy quan hệ Tôn – Lưu tới bi kịch dữ dội xao động cả hai nước.
Viết đên đây Ngua tôi lại thấy tiếc cho cả Thục và Ngô. Nếu như Lưu Bị nhẫn nại một chút đừng nóng vội đẩy nhanh cuộc chiến Tương Phàn thì Thục chẳng ở thế yếu kém mãi như thế. Nếu như Lỗ Túc sống thêm được vài ba năm nữa biết đâu vận mệnh của Ngô Thục còn kéo dài thêm chứ chẳng ngắn ngủi có 60 năm? Mà cũng biết đâu giang sơn Trung Hoa có thể là của Thục hay Ngô chứ chẳng thuộc về Tấn sau này? Nếu như Lã Mông cùng Tôn Quyền có tầm nhìn xa một chút, đại thế thiên hạ sau này đâu biết sẽ về ai? Hãy thử hình dung xem, sau sự biến Kinh Châu có mấy tháng thì Tào Tháo chết, đấy là cơ hội rất tốt để cả Ngô và Thục cùng khởi binh tranh cường cùng Tào Nguỵ. Phía Tây Bị vượt dải Tần Lĩnh uy hiếp các vùng Tràng An, Tây Lương, từ Kinh Châu Quan Vũ tiến lên đánh phá ở Tương Phàn uy hiếp vùng Uyển Lạc, ở phía Đông Tôn Quyền tấn công từ Hạ Phì tiến lên uy hiếp vùng Từ Châu. Cả ba mặt cùng tiến như thế, liệu Tào Phi có bối rối? Nhà Nguỵ có yên ổn hay không? Cương thổ của Thục và Ngô liệu có bó hẹp trong phạm vi 3 châu Kinh, Dương, Ích? Đáng tiếc, đáng tiếc …