trinh phuc tuan
Donkey Kong
- 19/6/10
- 301
- 45
Bài viết này là tập hợp các tư liệu về Đế chế Nguyên Mông từ lúc hình thành cho đến khi diệt vong. Đây là bài nằm trong loạt bài liên quan đến Patch Việt Ver 2.0.
Đế Chế Mông Cổ là đế chế trãi dài từ Đông Âu cho đến Châu Á trong suốt các thế kỷ 13 và 14. Đây là đế chế lục địa liên tục lớn nhất trong lịch sử thế giới. Đế chế khởi nguồn từ sự thống nhất các bộ tộc người Mông Cổ (Mongol) và Turkic trên mãnh đất Mông Cổ ngày nay, và phát triển thông qua các cuộc xâm lược, sau khi Thành Cát Tư Hãn (Ghengis Khan) tuyên bố là người lãnh đạo của toàn bộ người Mông Cổ vào năm 1206. Địa vi của đế chế vào thời kỳ đỉnh cao trãi dài từ sông Danube đến biển Nhật Bản, từ bắc Siberia cho đến Camboja ( nam Ấn Độ), bao phủ trên 33,000,000 km2 (12,741,000 sq mi), chiếm khoảng 22% diện tích lục địa của trái đất và có dân số trên 100 triệu người. Do kết quả của các cuộc xâm lược của đế chế, các tác động kinh tế, chính trị của nó lên phần lớn thế giới cũ (Old World), các cuộc chiến của đế chế với các cường quốc ở Châu Phi, Châu Á. Châu Âu được xem là một cuộc chiến tranh thế giới cổ đại.
Tuy nhiên đế chế bắt đầu tan rã vào theo sau các cuộc chiến liên tiếp từ 1260 - 1264 với việc Hãn quốc Kim Trướng (Golden Horse) và Hãn quốc Sát Hợp Đài (Chagatai Khanate) trên thực tế là những thực thể độc lập và từ chối công nhận Hốt Tất Liệt (Khubai Khan) là Đại Hãn (Khagan). Tại thời điểm mà Hốt Tất Liệt mất, Đế chế Mông Cổ đã phân liệt thành bốn hãn quốc (khanate) hay đế chế riêng lẽ, mỗi hãn quốc theo đuổi những mục tiêu và lợi ích riêng. Nhưng Đế chế Mông Cổ là một tổng thể vẫn còn mạnh và thống nhất. Các lãnh chúa Mông Cổ ở Trung Á vẫn thành công trong việc chống lại nổ lực của Hốt Tất Liệt buộc các gia tộc Sát Hợp Đài (Chagatayid) và Oa Khoát Đài ( Ogedeid) phải khuất phục. Mãi cho đến tận 1304, khi tất cả các hãn Mông Cổ đồng ý tuân phục người kế vị của Hốt Tất Liệt, Đại hãn Thiết Mộc Nhĩ (Khagan Temür Öljeytü). Với sự sụp đổ của nhà Nguyên năm 1368, đế chế Mông Cổ cuối cùng cũng phân rã.
Đế Chế Mông Cổ là đế chế trãi dài từ Đông Âu cho đến Châu Á trong suốt các thế kỷ 13 và 14. Đây là đế chế lục địa liên tục lớn nhất trong lịch sử thế giới. Đế chế khởi nguồn từ sự thống nhất các bộ tộc người Mông Cổ (Mongol) và Turkic trên mãnh đất Mông Cổ ngày nay, và phát triển thông qua các cuộc xâm lược, sau khi Thành Cát Tư Hãn (Ghengis Khan) tuyên bố là người lãnh đạo của toàn bộ người Mông Cổ vào năm 1206. Địa vi của đế chế vào thời kỳ đỉnh cao trãi dài từ sông Danube đến biển Nhật Bản, từ bắc Siberia cho đến Camboja ( nam Ấn Độ), bao phủ trên 33,000,000 km2 (12,741,000 sq mi), chiếm khoảng 22% diện tích lục địa của trái đất và có dân số trên 100 triệu người. Do kết quả của các cuộc xâm lược của đế chế, các tác động kinh tế, chính trị của nó lên phần lớn thế giới cũ (Old World), các cuộc chiến của đế chế với các cường quốc ở Châu Phi, Châu Á. Châu Âu được xem là một cuộc chiến tranh thế giới cổ đại.
Tuy nhiên đế chế bắt đầu tan rã vào theo sau các cuộc chiến liên tiếp từ 1260 - 1264 với việc Hãn quốc Kim Trướng (Golden Horse) và Hãn quốc Sát Hợp Đài (Chagatai Khanate) trên thực tế là những thực thể độc lập và từ chối công nhận Hốt Tất Liệt (Khubai Khan) là Đại Hãn (Khagan). Tại thời điểm mà Hốt Tất Liệt mất, Đế chế Mông Cổ đã phân liệt thành bốn hãn quốc (khanate) hay đế chế riêng lẽ, mỗi hãn quốc theo đuổi những mục tiêu và lợi ích riêng. Nhưng Đế chế Mông Cổ là một tổng thể vẫn còn mạnh và thống nhất. Các lãnh chúa Mông Cổ ở Trung Á vẫn thành công trong việc chống lại nổ lực của Hốt Tất Liệt buộc các gia tộc Sát Hợp Đài (Chagatayid) và Oa Khoát Đài ( Ogedeid) phải khuất phục. Mãi cho đến tận 1304, khi tất cả các hãn Mông Cổ đồng ý tuân phục người kế vị của Hốt Tất Liệt, Đại hãn Thiết Mộc Nhĩ (Khagan Temür Öljeytü). Với sự sụp đổ của nhà Nguyên năm 1368, đế chế Mông Cổ cuối cùng cũng phân rã.