trinh phuc tuan
Donkey Kong
- 19/6/10
- 301
- 45
- Thread starter
- #21
Giữ cô thành, Võ – Ngô tử tiết
Tha hàng quân, Trần – Vũ rạng danh
Tháng 5 năm (1801), niên hiệu Cảnh Thịnh thứ nhà Tây Sơn, quân Tây Sơn vây thành Bình Định đã gần hai năm. Thành Quy Nhơn cạn lương, chủ tướng Nam triều là Đại Tướng quân Hậu dinh Võ Tánh phải sai người giết ngựa, voi lấy thịt nuôi quân. Rồi voi, ngựa cũng hết, lương thảo cạn kiệt, tướng sĩ nhiều người đói, bàn với Võ Tánh tìm cách thoát vây. Võ Tánh liền cho người đem mật thư, lẻn ra ngoài thành hẹn với Nguyễn Văn Thành đem quân từ đồn Phú Quý đánh vào để đón quân trong thành đánh ra giải vây.
Võ Tánh truyền quân nai nịt, đem theo binh khí nhẹ, chuẩn bị đánh thoát ra khỏi thành. Đến lúc điểm quân, thiếu mất một viên hiệu úy, Võ Tánh ngờ là cơ mưu đã tiết lộ, bèn không đi nữa. Nguyễn Văn Thành ở ngoài thấy phía trong không có giao tranh cũng không dám đem quân đánh vào.
Binh thế trong thành đã đến lúc cùng quẫn, Võ Tánh liệu biết không thể giữ được nữa, đoán chừng Nam Vương Nguyễn Phúc Ánh đã hạ được thành Phú Xuân, bèn viết thư sai người đem đến dâng cho chủ tướng quân Tây Sơn đang vây thành là Thiếu phó Trần Quang Diệu. Thiếu phó Trần Quang Diệu mở thư xem, thấy đại ý viết:
- Tôi vâng lệnh chủ vương đem quân giữ thành, cùng tướng quân đối địch, đến nay đã gần hai năm, lớn nhỏ giao chiến vài mươi trận. Tướng quân đem quân cả nước đến vây thành, vì vua mà gắn sức kể cũng là tướng giỏi đời nay. Tôi cầm mấy vạn quân giữ cô thành, chống chọi với đại quân, dẫu không tự ví mình như các danh tướng đời xưa nhưng cũng có cái vinh hạnh cùng tướng quân đối địch nơi trận tiền. Nay khí số Tây Sơn đã hết, tướng quân đem cái lòng cô trung mà giúp chúa, phỏng có ích gì, chỉ khiến cho binh sĩ đầu chất thành núi, máu chảy thành sông. Chi bằng cổi giáp, thu binh, khuất phục Nam triều, tôi sẽ đem cái chết để bảo đảm. Còn như tướng quân vẫn lấy chữ trung làm trọng, thì phận làm tướng Tánh này cũng vậy. Nay thành đã cạn lương, Tánh này dẫu có lòng ham đánh cũng lực bất tòng tâm, đánh lấy cái chết mà đền mạng. Tướng sĩ trong thành gần hai vạn, ai nấy đều có cha mẹ vợ con, lẽ nào phải chịu chết oan. Ta thường nghe tướng quân thờ mẹ rất có hiếu, so với ??? cũng không chịu nhường. Tánh này nghe nói, người làm tướng lấy nhân nghĩa làm đầu, chỉ xin tướng quân một điều là tha mạng cho ba quân tướng sĩ trong thành để lưu tiếng nhân nghĩa về sau. Thư chẳng cạn lời, mong tướng quân soi xét.
Thiếu phó Trần Quang Diệu xem thư xong, ngậm ngùi than với các tướng:
- Võ Tánh quả là trung thần, muốn lấy cái chết để đền mạng cho tướng sĩ. Chúng ta là quân nhân nghĩa, lẻ nào lại lạm sát người vô tội.
Bèn phê thư chấp nhận cho hàng, tha chết cho toàn quân trong thành, sai người mang về. Đại ý nói:
- Tây Sơn chúng ta là quân nhân nghĩa, dấy binh trừ bạo, quyết không lạm sát kẻ vô tội.
Lễ bộ Ngô Tòng Chu mặc triều phục chỉnh tề, hướng về phía kinh đô Phú Xuân làm lễ triều bái rồi ung dung đọc bài thơ khẩu chiến :
Kinh tuế đạn hoàn địa
Cô thân thỉ thạch trường
Trung quân vô biệt sách
Tôi tửu hữu phê sương
Tạm dịch:
Năm tháng xông tên đạn
Thân cô giữa chiến trường
Lòng trung không đổi khác
Hòa độc ấy lẽ thường
Đoạn nâng chén rượu độc uống cạn, lát sau thì mất. Năm ấy Ngô Tòng Chu hơn bốn mươi tuổi, chưa có con, chỉ có một người cháu họ tên là Ngô Tòng Hoảng.
Đại Tướng quân Hậu dinh Võ Tánh hay tin, than:
- Ngô công đã đi trước ta rồi.
Đoạn đích thân đến phủ đường làm lễ khâm liệm, hậu táng Ngô Tòng Chu. Mọi việc xong xuôi, ngày hôm sau, Võ Tánh mặc võ phục, mời tất cả tướng sĩ đến lễ đài, mình ngồi nơi lầu Bát giác, truyền bảo tướng sĩ:
- Ta vâng lệnh vương thượng đến trấn thủ thành này. Tây Sơn kéo hết quân cả nước đến vây đánh gần hai năm. Nhờ tướng sĩ đồng lòng mà giữ vững thành. Nay lương hết, quân sĩ mỏi mệt, đánh nữa vô ích. Ta sẽ nhận lấy cái chết, các ngươi chớ có buồn phiền, phần tướng sĩ các ngươi, ta đã cho người đem thư nhận hàng, Tây Sơn Trần Quang Diệu đã chấp nhận.
Rồi lấy chiếc súng chim hai nòng trao cho Lưu thủ Nguyễn Văn Thịnh, bảo:
- Ngươi hãy cầm cái này trao cho Quang Diệu, bảo rằng ta tạm gửi quan quân cho hắn.
Đoạn sai Phó Tướng quân Nguyễn Văn Biện châm mồi lửa, Nguyễn Văn Biện khóc, bỏ chạy. Võ Tánh châm thuốc hút, rồi tự cầm mồi châm ngòi cháy. Đám lửa bốc bùng lên dữ dội, thuộc tướng Nguyễn Tiến Huyên từ ngoài chạy vào, Võ Tánh hỏi:
- Ngươi đến đây làm gì?
Nguyễn Tiến Huyên trả lời:
- Tôi muốn được theo cầm roi ngựa hầu tướng quân dưới suối vàng.
Đoạn gieo mình vào lửa. Bấy giờ đám lửa ở lầu Bát Giác cháy bùng lên, lát sau cả Võ Tánh và Nguyễn Tiến Huyên đều thành tro cả. Năm ấy Đại Tướng quân Hậu dinh Võ Tánh hơn bốn mươi tuổi, còn Tham tướng Nguyễn Tiến Huyên chỉ gần ba mươi.
Thi sĩ Ngô Giáp Đậu có thơ khen:
Sơn tụ khuynh Tây, thủy tẩu Đông
Quan thường thục cánh tử Hoài Công
Thập niên khôn ngoại sương hoa bạch
Bát Giác lâu tiền hỏa thụ hồng
Tướng hiệu hữu tâm tranh nghĩa liệt
Ngoan cừ vô kế khả anh hùng
Đường đường đại tiết kham thiên cổ
Thị Nại hà nhân chiếm thú công
Tạm dịch:
Non dốc Tây, nước chảy về Đông
Cân đai mấy kẻ sánh Hoài công
Mười năm cửa tướng sương tóc bạc
Bát Giác lầu kia lửa rực hồng
Tả hữu có người tranh chết nghĩa
Cường binh mấy kẻ khuất anh hùng
Tiết cả cao vời lừng (lưu) thiên cổ
Thị Nại duy người nhất chiến công
Ngọc Du Công chúa ở thành Gia Định hay hung tin, vật mình tha khóc, có làm bài thơ tế chống:
Vịnh Võ công
Những tưởng ra tay giúp nước nhà,
Ai dè binh địa nổi phong ba.
Xót người vị quốc liều thân ngọc,
Khiến thiếp cô phòng ủ mặt hoa.
Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ,
Đài mây xiêu lạc phách hồn xa.
Lửa trung đốt đỏ gương hào kiệt,
Nóng ruột thuyền quyên giọt lệ sa!
Lễ bộ Đặng Đức Siêu sau có bài văn tế Đại Tướng quân Hậu dinh Võ Tánh và Lễ bộ Thượng thư Ngô Tòng Chu.
VĂN TẾ lao động đường phố MÃ CHƯỞNG HẬU QUÂN VÕ TÁNH VÀ LỄ BỘ THƯỢNG THƯ NGÔ TÒNG CHÂU
Than ôi!
Đạo thần tử hết lòng thờ Chúa, gian nan từng trải dạ trung thành;
Đấng anh hùng vì nước quyên sinh, điên bái chẳng sai lòng tiết nghĩa.
Ngọc dù tan vẻ trắng nào phai;
Trúc dẫu cháy tiết ngay vẫn để.
Nhớ hai người xưa:
Thao lược ấy tài;
Kinh luân là chí.
lao động đường phố vạc Hán thuở ngôi trời chếch lệch, chém gai đuổi lũ hung tàn;
Vớt xe Đường khi thế nước chông chênh, cầm bút ra tay kinh tế.
Mối nghĩa sánh duyên gác tía, bước gian truân từng cậy dạ khuông lao động đường phố;
Màn kinh giúp sức cung xanh, công mông dưỡng đã đành lòng uỷ ký.
Hậu quân thuở trao quyền tứ trụ, chữ ân uy lớn nhỏ đều phu;
Lễ bộ phen làm việc chánh khanh, bề trung ái sớm khuya chẳng trễ.
Ngoài cõi vuốt nanh ra sức, chí tiêm cừu đà rải xuống ba quân;
Trong thành then khoá chia lo, lòng ưu quốc đã thấu lên chín bệ.
Miền biên khổn hai năm chia sức giặc, vững lòng tôi bao quản thế là nguy;
Cõi Phú Xuân một trận khét oai trời, nặng việc nước phải lấy mình làm nhẹ.
Sửa áo mũ lạy về Bắc khuyết, ngọn quang minh hun mát tấm trung can;
Chỉ non sông giã với cô thành, chén tân khổ nhắp ngon mùi chánh khí.
Há rằng ngại một phen thỉ thạch, giải trùng vây mà tìm đến quân vương;
Bởi rằng thương muôn mạng tỳ hưu, thà nhất tử để cho toàn tướng sĩ.
Tiếng hiệu lệnh mơ màng trước gió, ấn tín xưa người bộ khúc thương tâm;
Bóng tinh trung thấp thoáng dưới đèn, phong nghi cũ kẻ liêu bằng sái lệ.
Cơ đãng định kíp chầy đành hẹn buổi, xót trướng doanh sao vắng mặt thân huân; Phận truy tuỳ gang tất cũng đền công, tiếc nhung mạc bỗng thiệt tay trung trí.
Nay gặp tiết thu;
Bày đàn uý tế.
Hai chữ cương thường gánh nặng, rõ cổn hoa cũng thoả chốn u minh;
Ngàn thu hoà nhạc khí thiêng, giúp mao việt để mớ nền bình trị.
Hỡi ơi! thượng hưởng !
Thi sĩ Ngô Giáp Đậu có bài thơ khen Tham tướng Nguyễn Tiến Huyên:
Hiệu thủ cô thành kỷ lịch niên
Đan tâm tranh tự sứ quân hiền
Tây cừ phách lạch Long Giang độ
Hối bất đương thời tảo chấp tiên
Tạm dịch:
Trấn thủ cô thành dạ chẳng nao
Lòng son ai sánh tướng quân cao
Tây Sơn mất mía Long Giang độ
Tiếc chẳng cầm roi tự thuở nào
Tha hàng quân, Trần – Vũ rạng danh
Tháng 5 năm (1801), niên hiệu Cảnh Thịnh thứ nhà Tây Sơn, quân Tây Sơn vây thành Bình Định đã gần hai năm. Thành Quy Nhơn cạn lương, chủ tướng Nam triều là Đại Tướng quân Hậu dinh Võ Tánh phải sai người giết ngựa, voi lấy thịt nuôi quân. Rồi voi, ngựa cũng hết, lương thảo cạn kiệt, tướng sĩ nhiều người đói, bàn với Võ Tánh tìm cách thoát vây. Võ Tánh liền cho người đem mật thư, lẻn ra ngoài thành hẹn với Nguyễn Văn Thành đem quân từ đồn Phú Quý đánh vào để đón quân trong thành đánh ra giải vây.
Võ Tánh truyền quân nai nịt, đem theo binh khí nhẹ, chuẩn bị đánh thoát ra khỏi thành. Đến lúc điểm quân, thiếu mất một viên hiệu úy, Võ Tánh ngờ là cơ mưu đã tiết lộ, bèn không đi nữa. Nguyễn Văn Thành ở ngoài thấy phía trong không có giao tranh cũng không dám đem quân đánh vào.
Binh thế trong thành đã đến lúc cùng quẫn, Võ Tánh liệu biết không thể giữ được nữa, đoán chừng Nam Vương Nguyễn Phúc Ánh đã hạ được thành Phú Xuân, bèn viết thư sai người đem đến dâng cho chủ tướng quân Tây Sơn đang vây thành là Thiếu phó Trần Quang Diệu. Thiếu phó Trần Quang Diệu mở thư xem, thấy đại ý viết:
- Tôi vâng lệnh chủ vương đem quân giữ thành, cùng tướng quân đối địch, đến nay đã gần hai năm, lớn nhỏ giao chiến vài mươi trận. Tướng quân đem quân cả nước đến vây thành, vì vua mà gắn sức kể cũng là tướng giỏi đời nay. Tôi cầm mấy vạn quân giữ cô thành, chống chọi với đại quân, dẫu không tự ví mình như các danh tướng đời xưa nhưng cũng có cái vinh hạnh cùng tướng quân đối địch nơi trận tiền. Nay khí số Tây Sơn đã hết, tướng quân đem cái lòng cô trung mà giúp chúa, phỏng có ích gì, chỉ khiến cho binh sĩ đầu chất thành núi, máu chảy thành sông. Chi bằng cổi giáp, thu binh, khuất phục Nam triều, tôi sẽ đem cái chết để bảo đảm. Còn như tướng quân vẫn lấy chữ trung làm trọng, thì phận làm tướng Tánh này cũng vậy. Nay thành đã cạn lương, Tánh này dẫu có lòng ham đánh cũng lực bất tòng tâm, đánh lấy cái chết mà đền mạng. Tướng sĩ trong thành gần hai vạn, ai nấy đều có cha mẹ vợ con, lẽ nào phải chịu chết oan. Ta thường nghe tướng quân thờ mẹ rất có hiếu, so với ??? cũng không chịu nhường. Tánh này nghe nói, người làm tướng lấy nhân nghĩa làm đầu, chỉ xin tướng quân một điều là tha mạng cho ba quân tướng sĩ trong thành để lưu tiếng nhân nghĩa về sau. Thư chẳng cạn lời, mong tướng quân soi xét.
Thiếu phó Trần Quang Diệu xem thư xong, ngậm ngùi than với các tướng:
- Võ Tánh quả là trung thần, muốn lấy cái chết để đền mạng cho tướng sĩ. Chúng ta là quân nhân nghĩa, lẻ nào lại lạm sát người vô tội.
Bèn phê thư chấp nhận cho hàng, tha chết cho toàn quân trong thành, sai người mang về. Đại ý nói:
- Tây Sơn chúng ta là quân nhân nghĩa, dấy binh trừ bạo, quyết không lạm sát kẻ vô tội.
Lễ bộ Ngô Tòng Chu mặc triều phục chỉnh tề, hướng về phía kinh đô Phú Xuân làm lễ triều bái rồi ung dung đọc bài thơ khẩu chiến :
Kinh tuế đạn hoàn địa
Cô thân thỉ thạch trường
Trung quân vô biệt sách
Tôi tửu hữu phê sương
Tạm dịch:
Năm tháng xông tên đạn
Thân cô giữa chiến trường
Lòng trung không đổi khác
Hòa độc ấy lẽ thường
Đoạn nâng chén rượu độc uống cạn, lát sau thì mất. Năm ấy Ngô Tòng Chu hơn bốn mươi tuổi, chưa có con, chỉ có một người cháu họ tên là Ngô Tòng Hoảng.
Đại Tướng quân Hậu dinh Võ Tánh hay tin, than:
- Ngô công đã đi trước ta rồi.
Đoạn đích thân đến phủ đường làm lễ khâm liệm, hậu táng Ngô Tòng Chu. Mọi việc xong xuôi, ngày hôm sau, Võ Tánh mặc võ phục, mời tất cả tướng sĩ đến lễ đài, mình ngồi nơi lầu Bát giác, truyền bảo tướng sĩ:
- Ta vâng lệnh vương thượng đến trấn thủ thành này. Tây Sơn kéo hết quân cả nước đến vây đánh gần hai năm. Nhờ tướng sĩ đồng lòng mà giữ vững thành. Nay lương hết, quân sĩ mỏi mệt, đánh nữa vô ích. Ta sẽ nhận lấy cái chết, các ngươi chớ có buồn phiền, phần tướng sĩ các ngươi, ta đã cho người đem thư nhận hàng, Tây Sơn Trần Quang Diệu đã chấp nhận.
Rồi lấy chiếc súng chim hai nòng trao cho Lưu thủ Nguyễn Văn Thịnh, bảo:
- Ngươi hãy cầm cái này trao cho Quang Diệu, bảo rằng ta tạm gửi quan quân cho hắn.
Đoạn sai Phó Tướng quân Nguyễn Văn Biện châm mồi lửa, Nguyễn Văn Biện khóc, bỏ chạy. Võ Tánh châm thuốc hút, rồi tự cầm mồi châm ngòi cháy. Đám lửa bốc bùng lên dữ dội, thuộc tướng Nguyễn Tiến Huyên từ ngoài chạy vào, Võ Tánh hỏi:
- Ngươi đến đây làm gì?
Nguyễn Tiến Huyên trả lời:
- Tôi muốn được theo cầm roi ngựa hầu tướng quân dưới suối vàng.
Đoạn gieo mình vào lửa. Bấy giờ đám lửa ở lầu Bát Giác cháy bùng lên, lát sau cả Võ Tánh và Nguyễn Tiến Huyên đều thành tro cả. Năm ấy Đại Tướng quân Hậu dinh Võ Tánh hơn bốn mươi tuổi, còn Tham tướng Nguyễn Tiến Huyên chỉ gần ba mươi.
Thi sĩ Ngô Giáp Đậu có thơ khen:
Sơn tụ khuynh Tây, thủy tẩu Đông
Quan thường thục cánh tử Hoài Công
Thập niên khôn ngoại sương hoa bạch
Bát Giác lâu tiền hỏa thụ hồng
Tướng hiệu hữu tâm tranh nghĩa liệt
Ngoan cừ vô kế khả anh hùng
Đường đường đại tiết kham thiên cổ
Thị Nại hà nhân chiếm thú công
Tạm dịch:
Non dốc Tây, nước chảy về Đông
Cân đai mấy kẻ sánh Hoài công
Mười năm cửa tướng sương tóc bạc
Bát Giác lầu kia lửa rực hồng
Tả hữu có người tranh chết nghĩa
Cường binh mấy kẻ khuất anh hùng
Tiết cả cao vời lừng (lưu) thiên cổ
Thị Nại duy người nhất chiến công
Ngọc Du Công chúa ở thành Gia Định hay hung tin, vật mình tha khóc, có làm bài thơ tế chống:
Vịnh Võ công
Những tưởng ra tay giúp nước nhà,
Ai dè binh địa nổi phong ba.
Xót người vị quốc liều thân ngọc,
Khiến thiếp cô phòng ủ mặt hoa.
Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ,
Đài mây xiêu lạc phách hồn xa.
Lửa trung đốt đỏ gương hào kiệt,
Nóng ruột thuyền quyên giọt lệ sa!
Lễ bộ Đặng Đức Siêu sau có bài văn tế Đại Tướng quân Hậu dinh Võ Tánh và Lễ bộ Thượng thư Ngô Tòng Chu.
VĂN TẾ lao động đường phố MÃ CHƯỞNG HẬU QUÂN VÕ TÁNH VÀ LỄ BỘ THƯỢNG THƯ NGÔ TÒNG CHÂU
Than ôi!
Đạo thần tử hết lòng thờ Chúa, gian nan từng trải dạ trung thành;
Đấng anh hùng vì nước quyên sinh, điên bái chẳng sai lòng tiết nghĩa.
Ngọc dù tan vẻ trắng nào phai;
Trúc dẫu cháy tiết ngay vẫn để.
Nhớ hai người xưa:
Thao lược ấy tài;
Kinh luân là chí.
lao động đường phố vạc Hán thuở ngôi trời chếch lệch, chém gai đuổi lũ hung tàn;
Vớt xe Đường khi thế nước chông chênh, cầm bút ra tay kinh tế.
Mối nghĩa sánh duyên gác tía, bước gian truân từng cậy dạ khuông lao động đường phố;
Màn kinh giúp sức cung xanh, công mông dưỡng đã đành lòng uỷ ký.
Hậu quân thuở trao quyền tứ trụ, chữ ân uy lớn nhỏ đều phu;
Lễ bộ phen làm việc chánh khanh, bề trung ái sớm khuya chẳng trễ.
Ngoài cõi vuốt nanh ra sức, chí tiêm cừu đà rải xuống ba quân;
Trong thành then khoá chia lo, lòng ưu quốc đã thấu lên chín bệ.
Miền biên khổn hai năm chia sức giặc, vững lòng tôi bao quản thế là nguy;
Cõi Phú Xuân một trận khét oai trời, nặng việc nước phải lấy mình làm nhẹ.
Sửa áo mũ lạy về Bắc khuyết, ngọn quang minh hun mát tấm trung can;
Chỉ non sông giã với cô thành, chén tân khổ nhắp ngon mùi chánh khí.
Há rằng ngại một phen thỉ thạch, giải trùng vây mà tìm đến quân vương;
Bởi rằng thương muôn mạng tỳ hưu, thà nhất tử để cho toàn tướng sĩ.
Tiếng hiệu lệnh mơ màng trước gió, ấn tín xưa người bộ khúc thương tâm;
Bóng tinh trung thấp thoáng dưới đèn, phong nghi cũ kẻ liêu bằng sái lệ.
Cơ đãng định kíp chầy đành hẹn buổi, xót trướng doanh sao vắng mặt thân huân; Phận truy tuỳ gang tất cũng đền công, tiếc nhung mạc bỗng thiệt tay trung trí.
Nay gặp tiết thu;
Bày đàn uý tế.
Hai chữ cương thường gánh nặng, rõ cổn hoa cũng thoả chốn u minh;
Ngàn thu hoà nhạc khí thiêng, giúp mao việt để mớ nền bình trị.
Hỡi ơi! thượng hưởng !
Thi sĩ Ngô Giáp Đậu có bài thơ khen Tham tướng Nguyễn Tiến Huyên:
Hiệu thủ cô thành kỷ lịch niên
Đan tâm tranh tự sứ quân hiền
Tây cừ phách lạch Long Giang độ
Hối bất đương thời tảo chấp tiên
Tạm dịch:
Trấn thủ cô thành dạ chẳng nao
Lòng son ai sánh tướng quân cao
Tây Sơn mất mía Long Giang độ
Tiếc chẳng cầm roi tự thuở nào
truyện thì post 1 phần, xong thì mở cái blog rồi update lên đó, forum thì để ng ta bàn và đánh giá thôi. là mxong thì nhìn tình hình ng ta ủng hộ ko, đóng thành ebook, làm kiểu này phản cảm qua.