trinhphuctuan
Dragon Quest
- 30/3/07
- 1,204
- 19
- Banned
- #1
1. Giang Hạ:
Đất hẹp, địa bàn hung yếu là nơi trành giành giữa 3 thế lực Lưu Biểu, Tôn Sách và Viên Thuật. Dễ chiếm mà khó giữ. Giang Hạ cũng như Lư Giang là nơi Đông Ngô muốn chiếm để từ đó chiếm giữ 2 bờ Giang Bắc, Giang Nam.
Từ Giang Hạ có thể tiến đánh Tân Dã hay đưa quân đi chiếm Lư Giang. Vì nó tối xung yếu nên tất cả các bên đều cố tranh đoạt.
2. Tân Dã:
Đất hẹp, bốn mặt thụ địch. Bắc là Tào Tháo, Tây Bắc là Trương Tú ở Uyển Thành, Đông là Giang Lăng, Tây là Trương Lỗ ở Hán Trung. Đây là địa bàn để từ đó uy hiếp Hứa Đô của Tào Tháo hoặc bàn đạp tấn công Thượng Dung, mở đường vào Thục. Ngược lại Ngụy cũng muốn chiếm bằng được để mở đường đến Kinh Châu.
Nếu đã muốn giữ Tân Dã thì phải đưa quân chiếm Giang Lăng để yểm trợ hoặc là phải hòa hõa với Tôn Quyền để tránh thế lưỡng đầu thọ địch
3. Lư Giang:
Có một điều gây tranh cãi trong RTK11 là Hạ Bì và Hợp Phì là 2 địa bàn khác nhau. Hạ Phì nơi Lữ Bố bị yểm nước rồi chết ở thành Bạch Môn có ở trong RTK. Còn địa bàn thứ hai là Hợp Phì thì không có. Theo ý của tác giả thì Hợp Phì là một vùng đất bao gồm cả Lư Giang và Thọ Xuân thì đúng hơn.
Lư Giang là cửa ngõ để tiến quân lên bắc, nhưng ngược lại Ngụy lại không dùng Lư Giang để đưa quân xuống Nam. Lý do đơn giản là quân Bắc không thạo thủy chiến mà đường thủy từ Lư Giang đi đến miền Nam lại quá xa. Do đó chiến trường Lư Giang thường là tranh chấp ở các cửa khẩu mà thôi. Ngô cũng không muốn chiếm vì nếu xuất quân mà thất bại thì không có đường lui. Đánh lâu ngày thì binh lương thiếu hụt.
4. Tiểu Bái:
Đất hẹp, địa bàn trống trải là địa đầu của Từ Châu. Từ Tiểu Bái có thể uy hiếp Bộc Dương, Trần Lưu của Tháo, Thọ Xuân của Viên Thuật. Cái may của Tiểu Bái là các đường dẫn đến đều hiểm trở nên có thể kéo dài thời gian chống cự. Tuy nhiên để có thể trú đóng Tiểu Bái thì phải liên kết với 1 trong ba phe Lữ, Viên hoặc Tào.
5. Bình Nguyên:
Bắc giáp Bắc Bình, Tây giáp Ký Châu, Đông giáp Bột Hải, Nam giáp Bộc Dương. Của khẩu thường xuyên bị đánh phá, rất khó phát triển binh lương. Ký Châu và Bắc Bình quá hùng mạnh, thường đem quân uy hiếp. Nếu chơi Viên Thiệu thì sau khi chiếm Bình Nguyên phải chiếm luôn Bột Hải hoặc của khẩu của Bột Hải để khỏi bị đánh phá. Từ Hà Bắc tràn xuống Quan Trung chỉ có 2 con đường: hoặc qua cửa khẩu Bạch Mã hoặc qua cửa khẩu Đông Quận. Con đường thứ 3 là từ Bột Hải men theo triền sông đánh Đông Quận. Đường này vừa xa vừa trống trải nên khó bề thủ thắng. Điểm yếu của họ Viên là ít tướng tài nên xuất binh theo đường này thì nên cho Nhan Lương, Văn Xú, Trương Cáp hoặc Cao Lãm cầm quân. Mỗi tướng đi kèm 1 một mưu sĩ để chống ploy. 4 đạo quân xuất trước. Một đạo chuyển lương theo sau.
6. Thọ Xuân:
Đất kinh đô, rộng rãi nhưng bốn bề thọ địch. Thành thấp dế bị thủy công. Giữ Thọ Xuân thì dễ nhưng phát triển thì khó. Chiếm Tiểu Bái hay Lư Giang đều không có lợi vì sẽ bị quấy rối ngay. Chiếm Hoài Nam thì lợi nhưng lại đụng phải thế lực mạnh là Tháo. Muốn hiểu được độ khó của Thọ Xuân thì chọn phe Viên Thuật là hiểu liền. Ngay cả khi cầm phe Tháo lúc thiên hạ đã tam phân. cầm Trương Liêu để chống Đông Ngô cũng toát cả mồ hôi. Thọ Xuân và Lư Giang nổi danh Trương Liêu cũng từ đây mà ra.
Đất hẹp, địa bàn hung yếu là nơi trành giành giữa 3 thế lực Lưu Biểu, Tôn Sách và Viên Thuật. Dễ chiếm mà khó giữ. Giang Hạ cũng như Lư Giang là nơi Đông Ngô muốn chiếm để từ đó chiếm giữ 2 bờ Giang Bắc, Giang Nam.
Từ Giang Hạ có thể tiến đánh Tân Dã hay đưa quân đi chiếm Lư Giang. Vì nó tối xung yếu nên tất cả các bên đều cố tranh đoạt.
2. Tân Dã:
Đất hẹp, bốn mặt thụ địch. Bắc là Tào Tháo, Tây Bắc là Trương Tú ở Uyển Thành, Đông là Giang Lăng, Tây là Trương Lỗ ở Hán Trung. Đây là địa bàn để từ đó uy hiếp Hứa Đô của Tào Tháo hoặc bàn đạp tấn công Thượng Dung, mở đường vào Thục. Ngược lại Ngụy cũng muốn chiếm bằng được để mở đường đến Kinh Châu.
Nếu đã muốn giữ Tân Dã thì phải đưa quân chiếm Giang Lăng để yểm trợ hoặc là phải hòa hõa với Tôn Quyền để tránh thế lưỡng đầu thọ địch
3. Lư Giang:
Có một điều gây tranh cãi trong RTK11 là Hạ Bì và Hợp Phì là 2 địa bàn khác nhau. Hạ Phì nơi Lữ Bố bị yểm nước rồi chết ở thành Bạch Môn có ở trong RTK. Còn địa bàn thứ hai là Hợp Phì thì không có. Theo ý của tác giả thì Hợp Phì là một vùng đất bao gồm cả Lư Giang và Thọ Xuân thì đúng hơn.
Lư Giang là cửa ngõ để tiến quân lên bắc, nhưng ngược lại Ngụy lại không dùng Lư Giang để đưa quân xuống Nam. Lý do đơn giản là quân Bắc không thạo thủy chiến mà đường thủy từ Lư Giang đi đến miền Nam lại quá xa. Do đó chiến trường Lư Giang thường là tranh chấp ở các cửa khẩu mà thôi. Ngô cũng không muốn chiếm vì nếu xuất quân mà thất bại thì không có đường lui. Đánh lâu ngày thì binh lương thiếu hụt.
4. Tiểu Bái:
Đất hẹp, địa bàn trống trải là địa đầu của Từ Châu. Từ Tiểu Bái có thể uy hiếp Bộc Dương, Trần Lưu của Tháo, Thọ Xuân của Viên Thuật. Cái may của Tiểu Bái là các đường dẫn đến đều hiểm trở nên có thể kéo dài thời gian chống cự. Tuy nhiên để có thể trú đóng Tiểu Bái thì phải liên kết với 1 trong ba phe Lữ, Viên hoặc Tào.
5. Bình Nguyên:
Bắc giáp Bắc Bình, Tây giáp Ký Châu, Đông giáp Bột Hải, Nam giáp Bộc Dương. Của khẩu thường xuyên bị đánh phá, rất khó phát triển binh lương. Ký Châu và Bắc Bình quá hùng mạnh, thường đem quân uy hiếp. Nếu chơi Viên Thiệu thì sau khi chiếm Bình Nguyên phải chiếm luôn Bột Hải hoặc của khẩu của Bột Hải để khỏi bị đánh phá. Từ Hà Bắc tràn xuống Quan Trung chỉ có 2 con đường: hoặc qua cửa khẩu Bạch Mã hoặc qua cửa khẩu Đông Quận. Con đường thứ 3 là từ Bột Hải men theo triền sông đánh Đông Quận. Đường này vừa xa vừa trống trải nên khó bề thủ thắng. Điểm yếu của họ Viên là ít tướng tài nên xuất binh theo đường này thì nên cho Nhan Lương, Văn Xú, Trương Cáp hoặc Cao Lãm cầm quân. Mỗi tướng đi kèm 1 một mưu sĩ để chống ploy. 4 đạo quân xuất trước. Một đạo chuyển lương theo sau.
6. Thọ Xuân:
Đất kinh đô, rộng rãi nhưng bốn bề thọ địch. Thành thấp dế bị thủy công. Giữ Thọ Xuân thì dễ nhưng phát triển thì khó. Chiếm Tiểu Bái hay Lư Giang đều không có lợi vì sẽ bị quấy rối ngay. Chiếm Hoài Nam thì lợi nhưng lại đụng phải thế lực mạnh là Tháo. Muốn hiểu được độ khó của Thọ Xuân thì chọn phe Viên Thuật là hiểu liền. Ngay cả khi cầm phe Tháo lúc thiên hạ đã tam phân. cầm Trương Liêu để chống Đông Ngô cũng toát cả mồ hôi. Thọ Xuân và Lư Giang nổi danh Trương Liêu cũng từ đây mà ra.
, quân Tháo cũng loe ngoe vài thành, anh éo chấp. 