zinzin_1992
Donkey Kong
- 28/11/08
- 366
- 2
đọc TQDN hay 1 vài bộ tiểu thuyết dã sử , lịch sử # của Tàu cứ thấy nó nói tới tên tự ( VD lưu bị tự huyền đức , triệu vân tự tử long ,....) , cho hỏi tên tự là cái wai' ji` vậy , tự đặt dc hok ???
Follow along with the video below to see how to install our site as a web app on your home screen.
Note: This feature may not be available in some browsers.
đọc TQDN hay 1 vài bộ tiểu thuyết dã sử , lịch sử # của Tàu cứ thấy nó nói tới tên tự ( VD lưu bị tự huyền đức , triệu vân tự tử long ,....) , cho hỏi tên tự là cái wai' ji` vậy , tự đặt dc hok ???
Sak!!! Ông trả lời kiểu đấy để chết con nhà người ta àh.
Tên "tự" là tên do người đó tự đặt ra. Ở TQ thời xưa, khi người ta sinh ra thì cha mẹ đặt cho người ta 1 cái tên theo họ cha, tên đó gọi là "danh". Đến khi trưởng thành (18 - 20 tuổi) thì họ tự đặt cho mình một cái tên dựa theo "danh", tên đó gọi là "tự". Ví dụ, Triệu Vân là "danh" nghĩa là đám mây, sau này hắn đặt tên "tự" là Tử Long nghĩa là rồng nhỏ, ý muốn mình trở thành rồng bay lượn trong mây.
vậy lưu bị tự huyền đức giả ithichs ra sao bác
Cái này tui cũng chịu:hug: chữ TQ bẻ đôi cũng ko biết, càng chẳng nghiên cứu gì về nó thì lấy đâu ra câu trả lời. Ngày trước cũng thắc mắc y như vậy, rồi đọc quyển sách nào nó giải thích về vấn đề này như thế nên nhớ thôi. Cái tên Triệu Vân nó dễ nhớ còn tên Lưu Bị thì... bó tay. Chỉ có thể chắc chắn Lưu là họ, Bị là danh, còn Huyền Đức là tên tự.
Tên chính thức phải ghi trong sổ hộ, nhân khẩu và dùng để khi ra ngoài xã hội là : "tên Họ/Tính" + "tên Huý". Ví dụ: Âu Đại Nhậm 歐大任 là tác giả sách Bách Việt tiên hiền chí có "tên Họ" là Âu 歐 + "tên Huý" là Đại Nhậm 大任.
"Tên Huý" là tên gọi do cha mẹ sinh ra đặt cho. Ví dụ: Nguyễn Trãi 阮廌 một danh thần triều Lê có "tên Huý" là Trãi 廌 tên một con thú có một sừng thường húc giống không ngay thẳng, thường được so sánh cho người ngay thẳng. Tên này do cha mẹ Nguyễn Trãi đặt cho tên này là mong muốn Trãi sau này là người ngay thẳng, làm quan ngay thẳng.
Để gọi tôn kính thường dùng "tên Tự" hoặc "tên Hiệu" kết hợp với tên Họ, vì kiêng "tên Huý". Ví dụ: Âu Đại Nhậm, tên Tự là Trinh Bá 楨伯, hiệu là Lôn Sơn 崙山 nên gọi là Âu Trinh Bá 歐楨伯 hoặc Âu Lôn Sơn 歐崙山.
"Tên Tự" là tên là tên về nghĩa hoặc chiết tự có liên quan giải thích ý nghĩa "tên Huý". Ví dụ: Đại Nhậm 大任: trách nhiệm lớn lao (công việc của quan lại, kẻ sĩ là chăn dân, làm cha mẹ thiên hạ). Nên "tên Tự" là Trinh Bá 楨伯: gốc rễ của bá chủ làm cha mẹ thiên hạ.
"Tên Hiệu" là tên mình gọi cho đẹp. Ví dụ: Gia Cát Lượng 诸葛亮 thời Hán làm nhà ở gần trái núi Ngoạ Long Cương nên lấy "tên Hiệu" là Ngoạ Long.
"Tên Thuỵ" là tên tên được đặt cho những người đã khuất, thường là quân vương. Ví dụ: Lưu Bang 劉邦 là hoàng đế khai sáng nhà Hán, công lao vượt bậc nên khi băng hà được quần thần đặt "tên Thuỵ" là Cao Hoàng Đế (高皇帝).
Chả thấy có gì khó hiểu:nôm na là tên húy và tên tự là do cha mẹ đặt, tên hiệu là tên do mình tự xưng vậy thôi. Giống như Bác Hồ khi sinh ra dc ông đặt tên húy là Sinh Cung, còn tên tự là Tất Thành, về sau Bác đổi tên thành Nguyễn Ái Quốc hay Hồ Chí Minh cũng đều coi là tên hiệu cả thôi.


