Nào nào :) cùng nhau điểm lại các loại khí tài trong dòng BF2 nào

. Kể cả Mod

trước khi đến với BF3 nhé
Vì sao lại là là khí tài mà ko phải vũ khí.... Đơn giản thôi, đề tài vũ khí súng ống trong game ( BF series) đã đem ra khoe + bàn nát tuơng rồi còn đâu
SU-34 Flanker MEC

Su-34 là loại máy bay tấn công 2 chỗ ngồi với 2 động cơ phản lực turbo đẩy sau AL-31MF. Su-34 có khả năng tấn công chính xác các mục tiêu được phòng thủ chắc chắn trong bất kì điều kiện thời tiết nào, ngày hay đêm. Su-34 có thể huỷ diệt mọi mục tiêu trên bộ, trên biển và có thể được sử dụng để do thám.
Su-34 có khả năng tiếp nhiên liệu trên không và hệ thống cabin tiện nghi cho phép phi công thực hiện các chuyến bay đường dài mà không cảm thấy mệt mỏi.
Điều đặc biệt là Su-34 còn có hệ thống an toàn vượt trội - cho phép thực hiện những động tác nhào lộn khi bay với tốc độ tối đa 1.400 km/giờ ở tầm thấp. Su-34 cũng là máy bay duy nhất trên thế giới có buồng lái chống đạn.
Su-34 sẽ thay thế máy bay S-24M (khoảng 400 chiếc), máy bay do thám Su-24MR (trên 100 chiếc) và máy bay tiêm kích MiG-25RB (khoảng 70 chiếc). Nga sẽ phải chế tạo từ 550 đến 600 máy bay Su-34 để thay thế số máy bay lỗi thời này trong vòng 10 – 15 năm tới.
Su-34, với vai trò thay thế Su-24, là loại máy bay nằm trong mục tiêu hiện đại hóa của Nga, giai đoạn 2006 - 2015. Là phiên bản cải tiến từ Su-27 Flanker, Su-34 có trang thiết bị hiện đại, bao gồm tổ lái và hệ thống tự bảo vệ kiểu mới. Buồng lái của Su-34 là một "nhà kính" hiện đại, với màn hình hiển thị màu đa chức năng CRT. Về cấu tạo khí động học, Su-34 có cấu trúc cánh, đuôi, và động cơ tạo ra sự ổn định khi bay, tăng tính linh hoạt và giảm bớt các lực kéo có hại ở đầu mũi.
Su-34 rất hiệu quả trong việc đối phó với các loại vũ khí từ cá nhân cho tới hạng nặng trên chiến trường và tấn công các mục tiêu nằm trong tuyến phòng thủ & hậu phương của đối phương. Bên cạnh đó, nó còn có thể được sử dụng trong các nhiệm vụ trinh sát hay tấn công các mục tiêu trên biển.
Theo Chương trình hiện đại hóa vũ khí đoạn 2006-2015, Su-34 được thay thế cho các loại máy bay cường kích Su-24M (khoảng 400 chiếc), máy bay trinh sát Su-24MR (trên 100 chiếc), máy bay tiêm kích MiG-25RB (khoảng 70 chiếc).
Như vậy, để hoàn thành mục tiêu thay thế toàn bộ các loại máy bay cũ này, quân đội Nga phải được trang bị từ 550 tới 600 chiếc Su-34 mới trong khoảng thời gian 10 đến 15 năm.
Tuy nhiên, kế hoạch của Bộ Quốc Phòng Nga chỉ có thể cho phép mua khoảng 58 chiếc từ nay đến năm 2015, và đến năm 2022 tổng số mới là 300 chiếc.
Nhiều ý kiến cho rằng nếu như cả 2 loại Su-24 và MiG-25RB bị thay thế trước năm 2020, thì quân đội Nga sẽ không có đủ số lượng máy bay cường kích và máy bay trinh sát. Một số khác thì lại cho rằng, số lượng như vậy vẫn đủ cho chiến lược không quân mới.
Chiến lược không quân mới không hoàn toàn dựa vào các đặc điểm chiến đấu của Su-34 mà còn dựa trên 2 yếu tố khác, đó là tầm hoạt động xa với khả năng tiếp dầu trên không, chiếc Su-34 có thể tự tiếp dầu cho nhau thông qua các bình xăng dự trữ nằm ở 2 bên cánh và khoang lái tiện dụng giúp phi hành đoàn không cảm thấy mệt mỏi khi phải bay xa. Các đơn vị được trang bị Su-34 có thể tiến hành liên tiếp các các chiến dịch. Ví dụ, chỉ cần xuất phát từ một căn cứ không quân tại Nga, một đơn vị có thể hôm nay đánh bom một căn cứ khủng bố ở Trung Á, ngày mai tấn công một trạm tên lửa ở châu Âu, rồi ba ngày sau lại bay tới Ấn Độ Dương để hỗ trợ cho một đơn vị liên hợp giữa các hạm đội Biển Đen, hạm đội Đại Tây Dương và hạm đội phía Bắc.
Su-34 được trang bị các loại vũ khí tầm xa chính xác, có thể bay sát mặt đất, điều này giúp không quân Nga giảm thiệt hại trong các chiến dịch thần tốc bởi việc sử dụng một số lượng ít máy bay Su-34 sẽ giúp công tác đào tạo phi hành đoàn đạt tới mức độ hoàn hảo.
Trên thực tế, đây không phải là một chiến lược mới. Các phi đội máy bay chiến đấu tinh nhuệ của Đức và Nhật Bản thời Thế chiến thứ II được hình thành từ những phi công được huấn luyện hoàn hảo từng là những đơn vị nòng cốt trong lực lượng không quân của hai nước này.
Mặc dầu vậy, những phi đội tinh nhuệ này vẫn có thể bị các tốp máy bay thông thường của đối phương tiêu diệt một cách nhanh chóng trong một cuộc chiến toàn cầu mang tính tiêu hao dài lâu như Thế Chiến thứ II. Đứng trên quan điểm này, chiến lược mới của không quân Nga lộ ra những điểm yếu. Tuy nhiên, quốc gia này cũng đã có sẵn trong tay vũ khí thứ ba - vũ khí nguyên tử cho một cuộc chiến toàn cầu.
Trong một cuộc chiến trường kỳ, sẽ khó có thể xác định được không quân Nga sẽ cần tới bao nhiêu máy bay: 200, 600 hay 1500 chiếc và cũng sẽ khó có thể xác định được hiệu quả của những quả bom nguyên tử mà họ sẽ ném xuống đầu đối phương.
Dù vậy, trong một cuộc chiến quy mô nhỏ chỉ có một đến hai đối tượng tác chiến, hoặc trong một chuỗi các xung đột khu vực, việc sở hữu một loại máy bay có tốc độ, khả năng bảo vệ cao và vũ trang tốt như Su-34 có thể lại là nhân tố quyết định. Thậm chí chỉ với 58 chiếc Su-34, được sử dụng đúng thời điểm, tại đúng nơi thì có thể sẽ là một lực lượng hùng mạnh. Với khoảng từ 200 đến 300 chiếc Su-34, được chia ra thành một số phi đội, sử dụng tại những điểm then chốt trên chiến trường, có thể sẽ đảm nhiệm được phần lớn các nhiệm vụ phức tạp.
Thậm chí chỉ với 58 chiếc máy bay tiêm kích kiêm cường kích Su-34 được sử dụng tại cùng một không gian và thời gian cũng đã tạo nên một sức mạnh vô cùng lớn. Một nhóm 200 đến 300 chiếc, được chia thành các đơn vị để sử dụng tại các khu vực trọng yếu trên chiến trường, cũng có thể đảm trách hầu như tất cả các nhiệm vụ phức tạp nhất. Ngoài Su-34, không quân Nga cũng sẽ được trang bị các loại máy bay mới có đủ tính năng kỹ thuật để duy trì sức mạnh chiến đấu cần thiết của lực lượng này. Các đơn vị mới, được thành lập để đảm trách các nhiệm vụ cụ thể, sẽ được trang bị các loại máy bay tiêm kích, cường kích, máy bay chỉ huy và cảnh báo sớm, máy bay tiếp dầu trên không, và các phương tiện trên không không người lái.
Các đơn vị này có khả năng cơ động cao, cho phép máy bay nhanh chóng tiếp cận khu vực tác chiến. Cách phát triển này cho thấy chiến lược mới của Nga gần giống với chiến lược của Lực lượng Không quân Viễn chinh Mỹ (AEF). Đó là một chiến lược mềm dẻo nhưng đầy uy lực của một lực lượng không quân với khả năng nhanh chóng tác chiến trên mọi địa điểm toàn cầu.
Về máy bay trinh sát, các nước công nghiệp hướng tới thay thế chúng bằng các loại phương tiện trên không không người lái (UAVs). Thế giới luôn thay đổi và bối cảnh mới đòi hỏi những loại hình chiến tranh mới. Su-34 Fullback được đánh giá là một trong những chiếc máy bay tiêm kích ném bom hàng đầu thế giới hiện nay. Với khả năng mang vũ khí rất lớn, Su-34 được giới quân sự Nga đặt cho biệt danh là “Xe tăng bay” bởi sức mạnh hỏa lực ghê gớm của chiến đấu cơ này, Với sức chứa nhiên liệu rất lớn, Su-34 có thể bay 4.500 km mà không cần tiếp nhiên liệu. Đây là loại máy bay chiến đấu duy nhất của không quân Nga có khả năng bay một mạch từ đầu đến cuối nước Nga mà không cần phải nghỉ chân. Liệu Su-34 có sánh vai với huyền thoại "Xe Tank Bay WW2" Ilyushin Il-2 Shturmovik !
Thông số kỹ thuật của Su-34
Đặc điểm riêng
Phi đoàn: 2
Chiều dài: 22 m
Sải cánh: 14,7 m
Chiều cao: 5,93 m
Diện tích : 62,04 m²
Trọng lượng rỗng: không xác định
Trọng lượng cất cánh: 39.000 kg
Trọng lượng cất cánh tối đa: 45.100 kg
Động cơ: 2× động cơ phản lực Lyulka AL-35F, công suất sau khi đốt nhiên liệu lần 2 là 137.2 kN (30.845 lbf) mỗi chiếc
Hiệu suất bay
Vận tốc cực đại: Mach 1,8 trên trần bay thông dụng, Mach 1,14 trên biển
Tầm bay: 4.500 km (tuần tiễu).
Bán kính hoạt động: hơn 1.000 km.
Trần bay: 14.000 m
Vận tốc lên cao: không xác định
Lực nâng của cánh: 629 kg/m²
Lực đẩy/trọng lượng: 0.68
Vũ khí
1 pháo 30 mm GSh-30-1, 150 viên đạn
2 giá treo ở đầu cánh cho tên lửa không đối không R-37 (AA-11 'Archer')
10 giá treo dưới cánh và thân mang được 8.000 kg vũ khí, bao gồm vũ khí không đối không, không đối đất, không đối biển, tên lửa chống tàu, bom điều khiển laser, và các loại khác.
T-90 MBT MEC
Tăng T-90 là phiên bản cải tiến cuối cùng của tăng T-72B. Lúc đầu người ta dự tính sau khi biên chế vào quân đội, loại tăng cải tiến này sẽ được gọi là T-72BU. Tuy nhiên, khi Liên Xô tan rã, nó được đặt tên mới là T-90, đồng nghĩa với việc khẳng định chất lượng của nó khác hẳn với loại T-72 vốn đã phần nào lạc hậu.
Việc sản xuất hàng loạt T-90 bắt đầu vào mùa thu năm 1992. Song, do đơn đặt hàng của quân đội Nga ngày càng giảm, nên loại tăng hiện đại này không thể được đưa vào sử dụng rộng rãi. Đến năm 2000, bộ binh Nga mới được trang bị khoảng 200 chiếc T-90.
Thừa kế các ưu điểm của T-72, chiếc T-90 có cấu tạo kỹ thuật cao, nhưng cơ động hơn, linh hoạt hơn nên rút ngắn thời gian huấn luyện, giảm thiểu chi phí đào tạo ê-kíp lái. Một trong những khác biệt của T-90 so với T-72B là hệ thống thấu kính “Shtora-1-7”. Hệ thống này nhằm bảo vệ chiếc tăng khi đối phương sử dụng vũ khí laser (đạn, bom, hỏa tiễn...) bằng cách gây nhiễu bức xạ. Đồng thời giúp ê-kíp lái xác định và tránh các loại tên lửa chống tăng phổ biến như TOW, HOT, MILAN, M47 Dragon, hay các đầu đạn điều khiển bằng laser như Maverick, Hellfire, Copperhead. Ngoài ra, nó còn có hệ thống điều khiển vũ khí 1A45 “Yrtysh”, súng máy liên thanh điều khiển từ xa, súng bắn bom phá có độ chính xác cao...
Vũ khí chính của T-90 là nòng pháo 125 ly, có thể bắn đạn (tầm bắn 4.000m), phóng hỏa tiễn (5.000m), bom phá (10.000m). Nếu bắn thẳng đứng thì có thể hạ mục tiêu ở độ cao đến 2.120m. Trong chế độ tự động, T-90 có thể bắn 8 lần/phút, còn nếu điều khiển bằng tay thì 2 lần/phút. Nhờ các hệ thống định vị PNK-4S hay TKN-4S mà T-90 có thể tìm diệt các mục tiêu vào ban đêm và ban ngày trong khi xe vẫn đang chuyển động, trong bất kỳ thời tiết nào, trên băng tuyết hay sa mạc nắng nóng.
Khi bắn mục tiêu, hệ thống SUO bao gồm những thấu kính hiện đại, các bộ cảm biến kỹ
thuật cao đảm bảo tự điều chỉnh các tham số bắn, tự tính toán tốc độ di chuyển của tăng, tầm xa của mục tiêu, góc bắn, nhiệt độ, áp suất khí quyển và cả hướng gió. Bên cạnh đó, hệ thống điều khiển 9K119 “Reflex” (nhờ nó mà T-90 có tên gọi là tăng hỏa tiễn chứ không phải tăng pháo như thông thường) cho phép phóng hỏa tiễn bằng nòng pháo vào các mục tiêu cố định và di động từ khoảng cách 100m – 5.000m. Thực ra, trước đó vào năm 1985, 9K119 “Reflex” đã được lắp đặt cho tăng T–80U, T-80UD, T-72AG để phục vụ cho việc xuất khẩu.
Hệ thống kính ngắm mới cho phép T-90 tăng độ phát hiện mục tiêu trên chiến trường từ 1.500 – 2.500m (đạt chuẩn quốc tế hiện nay). Tuy nhiên, do chi phí để sản xuất hệ thống kính ngắm này tại Nga khá đắt, nên T-90 sẽ dùng loại Catherine do hãng Thales của Pháp cung cấp (hợp đồng vừa được ký giữa Rosoboronexport và Thales tại Russian Expo Arms-2008). Tới đây, Thales sẽ cung cấp hệ thống kính ngắm cho 25 chiếc T-90. Trước đó, Rosoboronexport từng mua hơn 1.000 hệ thống kính này lắp cho loại T-80 và T-90 xuất khẩu.
Để triệt hạ các mục tiêu mở và các loại xe bọc thép, T-90 được trang bị súng liên thanh 12,7 ly, súng tự động AKMS-74 ngay trên tháp tăng với khoảng 2.000 viên đạn. Phía trong khoang còn có súng ngắn và 10 trái lựu đạn loại F-1.
Tiếp tục hoàn thiện
T-90 có động cơ V-84MS, 12 xi-lanh chạy dầu diesel có công suất 840 mã lực. Khác với động cơ của T-72, V-84MS có thể sử dụng nhiều loại nguyên liệu từ diesel, xăng.
Chỗ ngồi của xa trưởng và xạ thủ pháo được bố trí ngay trên tháp quay của tăng, người lái ngồi riêng ở khoang phía trước mũi xe. Kích thước và trọng lượng T-90 hầu như không khác so với T-72 và T-80. Tuy nhiên, trục lăn của T-90 rộng hơn so với T-72B nên nó chịu tải lớn hơn và có thể dùng vòng xích loại cao su-sắt hỗn hợp, hoặc loại xích sắt có khớp nối. Do có vỏ bọc thép thuộc thế hệ thứ ba, T-90 có thể chịu được loại đạn 120 ly của các loại tăng hiện đại như M1 Abrams hoặc Leopard 2, cũng như các loại đạn khác được bắn từ phía trên xuống.
T-90 được thiết kế và phát triển thành 3 kiểu là T-90K, T-90S và T-90SK. Mỗi loại đều được cải tiến và lắp đặt thêm các trang thiết bị khí tài tân tiến. Trong số này, T-90S phục vụ cho xuất khẩu, có động cơ V92S2 mạnh hơn. Các hệ thống kỹ thuật đều thuộc loại mới nhất và đây chính là chiếc tăng được giới thiệu tại Russian Expo Arms-2008.
Trong tương lai gần, phía Nga còn dự định nâng công suất động cơ của T-90 lên đến 1.400 mã lực. Và như vậy chiếc xe sẽ có vận tốc cao hơn, cơ động hơn trong tác chiến, vượt các loại tăng có cùng tính năng tương đương của nhiều quốc gia khác hiện nay. Bên cạnh đó, hệ thống thông tin, hệ thống thấu kính, hệ thống điều khiển tự động, các vũ khí đi kèm cũng sẽ được hoàn thiện... Hiện T-90S được các chuyên gia quân sự nước ngoài đánh giá cao, cho rằng không hề thua kém các dòng tăng cùng loại của phương Tây nhưng giá lại rẻ hơn 40 – 50%. Loại tăng này được Ấn Độ ưa chuộng và quân đội nước này dự định sẽ trang bị 1.600 chiếc T-90S.
Cho dù T-90S đầy tiềm năng, nhưng Nga vẫn muốn tiếp tục cải tiến nó. Tại Russian Expo Arms-2008, lãnh đạo Rosoboronexport - ông Sergei Maev, thông báo tới đây T-90 sẽ được trang bị loại hỏa lực mạnh hơn với hỏa tiễn có tầm bắn đạt từ 6.000 – 7.000m. Hệ thống bảo vệ và hệ thống thông tin thế hệ mới nhất cũng sẽ được lắp đặt và vận tốc cao nhất sẽ là 95 km/giờ. Ê-kíp lái sẽ có thể tác chiến 24/24 giờ. Hơn thế nữa, cơ chế hoạt động sẽ được tự động hóa để tiến tới việc điều khiển tăng từ xa.
Theo kế hoạch của Rosoboronexport, từ năm 2020 – 2025, T-90 sẽ là vũ khí chính của quân đội Nga. Đến năm 2020, T-90 sẽ chiếm 50% tổng số tăng của Nga; 50% còn lại sẽ là các dòng cũ như T-72, T-80, hoặc loại T-95 hiện đại nhất
Russian Expo Arms-2008 diễn ra từ ngày 9 – 12.7 với sự tham gia của 500 nhà máy sản xuất vũ khí của Nga, Thụy Điển, Pháp, Thụy Sĩ, Belarus... Các nhà máy của Nga mang đến triển lãm này hơn 200 mẫu vũ khí, khí tài, trong đó có máy bay chiến đấu Su–24, Su–27, trực thăng Mi–24, Mi–35 cũng như các giàn tên lửa, xe thiết giáp kiểu mới nhất. Trong khuôn khổ triển lãm, các loại pháo, tên lửa, xe tăng, xe thiết giáp, cũng như các loại máy bay đã trình diễn bắn đạn thật vào các mục tiêu giả. Có đại diện của khoảng 47 quốc gia đến hội chợ để thương thảo, ký kết các hợp đồng mua bán vũ khí
MI-28 Havok MEC
Mi-28N/MMW Havoc là một máy bay trực thăng tấn công, tối ưu hóa về khả năng tiêu diệt các xe bọc thép và tấn công các mục tiêu bay chậm trên không. máy bay được chế tạo rất chắc chắn và có thể chịu được vụ tai nạn rơi thẳng đứng từ trên cao. Ngoài ra Mi-28 còn được biết đến với tên hiệu NATO Havoc. Nó được thiết kế hoàn toàn cho mục đích tấn công và không hề có thêm chức năng vận tải, và có khả năng chống tăng tốt hơn Mil Mi-24. Chiếc máy bay mang một súng duy nhất tại bệ pháo dưới mũi, các vũ khí treo ngoài được gắn trên các mấu cứng dưới cánh phụ.
Vũ khí chủ yếu của Mi-28 là 16 tên lửa siêu âm điều khiển bằng sóng vô tuyến dải hẹp, khả năng chống nhiễu cao. tên lửa có thể phá hủy các loại vỏ giáp xe tăng, xe bọc thép, kể cả vỏ giáp phản ứng nổ (Era). máy bay có thể mang 4 dàn phóng gồm 80 rocket 80mm (mỗi dàn 20 quả) hoặc 20 rocket 130mm (mỗi dàn 5 quả) tên lửa không đối không Mi-28N có khả năng bắn chính xác cao.
Chiếc Mi-28N đầu tiên được xuất xưởng vào năm 2004 và được không quân Nga thử nghiệm kể từ tháng 6/2005. Ngay sau các cuộc thử nghiệm đầu tiên, không quân Nga đã lập kế hoạch trang bị khoảng 60 chiếc Mi-28N và kể từ đó phiên bản này được đặt biệt danh là Night Hunter - “Thợ săn đêm”.
Trực thăng “Thợ săn đêm” có thể bay với vận tốc hơn 300km/h và thực hiện các chuyến bay với khoảng cách 450km.
Đặc điểm kỹ thuật
Đội bay: 1 pilot (phía sau), 1 sĩ quan hoa tiêu/ điều khiển vũ khí (phía trước)
Chiều dài chính: 17.01 m
Chiều dài quy đổi: 55 ft 9 in
Sải cánh chính: 17.20 m
Sải cánh quy đổi: 56 ft 5 in
Chiều cao chính: 3.82 m
Chiều cao quy đổi: 12 ft 7 in
Diện tích chính:
Diện tích quy đổi:
Trọng lượng rỗng chính: 8.095 kg
Trọng lượng rỗng quy đổi: 17.845 lb
Trọng lượng chất tải chính: 10.400 kg
Trọng lượng chất tải quy đổi: 22.930 lb
Trọng lượng cất cánh tối đa chính: 11.500 kg
Trọng lượng cất cánh tối đa quy đổi: 25.705 lb
Động cơ (cánh quạt): Klimov TV3-117VMA
Kiểu: tuốc bin trục
Số lượng: 2
Công suất chính: 1.450 kW
Công suất quy đổi: 1.950 hp
Tốc độ tối đa chính: 300 km/h
Tốc độ tối đa quy đổi: 187 dặm trên giờ
Tầm hoạt động chính: 1.100 km
Tầm hoạt động quy đổi: 640 mi
Trần bay chính: 5.800 m
Trần bay quy đổi: 19.000 ft
Tốc độ lên chính:
Tốc độ lên quy đổi:
Chất tải chính:
Chất tải quy đổi:
Công suất/trọng lượng chính:
Công suất/trọng lượng quy đổi:
Trang bị vũ khí:
1x pháo *30 mm Shipunov 2A42 với 300 viên đạn (220° bắn ngang) lắp dưới mũi
lên tới 2.300 kg trên bốn mấu cứng, gồm bom, rocket, tên lửa và giá súng
Đặc điểm kỹ thuật
Đặc điểm chung
Đội bay: hai, phi công và kỹ thuật viên vũ khí
Chiều dài: 17.01 m (55 ft 10 in)
Đường kính cánh quạt chính: 17.20 m (56 ft 5 in)
Chiều cao: 3.82 m (12 ft 6 in) (không có radar)
Diện tích cánh quạt chính: 232.4 m² (2.500 ft²)
Rỗng: 7.890 kg (17.394 lb)
Chất tải: 10.400 kg (22.930 lb)
Trọng lượng cất cánh tối đa: 12.100 kg (26.700 lb)
Động cơ: 2x Klimov TV3-117VM tuốc bin trục, 1.640 kW (2.200 shp) mỗi chiếc
Hoạt động
Tốc độ tối đa: 305 km/h (190 dặm trên giờ)
Tầm hoạt động: 460 km (286 dặm)
Trần hoạt động: 5.750 m (18.900 ft)
Tốc độ lên: 816 m/phút (2.680 ft/phút)
Chất tải cánh quạt chính: 45 kg/m² (9 lb/ft²)
Công suất/Trọng lượng: 0.31 kW/kg (0.19 hp/lb)
Trang bị vũ khí
1x pháo *30 mm Shipunov 2A42 với 300 viên đạn (220° bắn ngang) lắp dưới mũi
lên tới 2.300 kg trên bốn mấu cứng, gồm bom, rocket, tên lửa và giá súng.
MIG-29 Fulcrum MEC
MiG-29 từng là chiến đấu cơ được kỳ vọng nhưng sau 30 năm, "sự thành công" của MiG-29 không được hiểu theo nghĩa thông thường.
Tháng 3/1969, Cục Thiết kế Mokva, Sukhoi và Cục Yuri Lev đã nghiên cứu chế tạo thành công một loại máy bay chiến đấu mới. Tháng 1/1971, Cục Thiết kế Moskva giao bản thiết kế máy bay mới đó có tên là PFI cho Bộ Công nghiệp hàng không Liên Xô.
So sánh với các loại máy bay MiG-21, MiG-23 và SU-15 thì đặc điểm nổi trội nhất của máy bay PFI là có khả năng cơ động cao nhờ vào thiết kế khí động học, cùng với hệ thống chống rađa và trang thiết bị vũ khí hiện đại.
Tháng 6/1971, Cục Thiết kế Moskva chính thức bắt tay vào nghiên cứu chế tạo loại máy bay PFI.
Tháng 1/1972, trên cơ sở nghiên cứu công nghệ loại máy bay PFI, Không quân Liên Xô lại đưa ra phương án nghiên cứu loại máy bay chiến đấu hạng nhẹ LFI; tháng 12/1972, hai loại máy bay MiG-29 và Yak-45 được đưa vào nghiên cứu với hai động cơ phản lực PD-33, là loại động cơ phản lực hiện đại nhất thế giới lúc bấy giờ.
Đến ngày 26/7 cùng năm, Chính phủ Liên Xô đã cho công bố quyết định nghiên cứu chế tạo MiG-29. Kết quả đánh giá của Cục Thiết kế Moskva cho thấy, do được trang bị hệ thống tên lửa không đối không tầm thấp R-73, nên khả năng tác chiến của MiG-29 cao hơn rất nhiều so với hai loại máy bay chiến đấu F-15 và F-16.
Tháng 7/1976, Cục Thiết kế Moskva đưa ra mô hình đầu tiên của MiG-29 và đến tháng 8/1977, họ đã cho ra mắt một chiếc máy bay hoàn chỉnh và 2 tháng sau, loại máy bay này được tiến hành kiểm tra lần cuối rồi được đưa vào sản xuất hàng loạt năm 1982.
Hơn một năm sau, 30 chiếc MiG-29 đầu tiên bắt đầu được đưa vào trang bị cho lực lượng Không quân Liên Xô.
BTR-90 MEC
là loại xe chiến đấu của thế kỉ 21, với khả năng cơ động địa hình cao, hỏa lực được tăng cường và khả năng sống sót cao dựa vào những thiết kế cách tân. Chiếc BTR-90 APC này làm tốt hơn tất cả các phiên bản APC nổi tiếng trước đây của Nga và những chiếc APC hiện đại của các quốc gia khác trên thế giới, dựa trên các thiết kế kĩ thuật cao, hỏa lực mạnh, khả năng cơ động và sống sót đáng nể. Cả lực lượng bộ binh cơ giới lẫn lính thủy đánh bộ đều có thể sử dụng nó như là xe yểm trợ hỏa lực, xe chuyển quân, xe trinh sát hay xe tuần tra. Sự cơ động của loại xe này dẫn đến nó có thể sử dụng cho nhiều mục đích đa dạng như chiến đầu, chỉ huy, điều khiển, thông tin, kĩ thuật hay xe tải thương, tất cả đều dựa trên khung xe BTR-90
BTR-90 có vỏ kín làm bằng thép hàn. Vỏ xe được thiết kế dựa trên các kinh nghiệm rút ra từ các cuộc xung đột trên thế giới đối với loại APC. Động cơ nằm ở cuối xe, khoang lính nằm ở giữa. Xạ thủ và trưởng xe được thiết kế vị trí ở tháp pháo, còn lái xe và 7 người lính thì ở giữa xe. Trưởng xe có nhiệm vụ chọn lựa mục tiêu và theo dõi, khi cần thiết có thể trực tiếp điều khiển vũ khí. Binh sĩ trong xe có thể sử dụng cửa trên nóc xe và các lỗ châu mai hai bên thành xe để yểm trợ hỏa lực, cũng tốt như họ sử dụng 2 cái cửa bên hông xe để làm việc đó, kể cả khi xe đang di chuyển.
Cơ cấu vũ khí được đặt trên một cái tháp pháo xoay. Nó bao gồm một khẩu súng 30mm 2A42, một khẩu PKT 7.62mm đồng trục và một khẩu phóng lựa AG-17 30mm. Tháp pháo còn có thể lắp thêm hệ thống ATGM để tăng cường năng lực chống tăng. Thiết bị phóng tích hợp này cũng cho phép bắn tên lửa chống tăng từ mặt đất
Cấu hình: 8x8
Khối lượng chiến đấu: 20 920 kg
Tốc độ cao nhất: 100km/h
Dự trữ hành trình: 800km
Vũ khí: Súng 30mm 2A42, PKT 7.62mm, phóng lựu 30mm AG-17, ATGMS
Góc quay tháp pháo ( độ ): -5 đến +75, 360
Đạn dự trữ
Súng 30mm 2A42: 500 viên
Súng 7.62mm PKT: 2000 viên
Phóng lựu AG-17: 400
ATGM: 4
Tên lửa PK vác vai: 2