1. Quá trình lớn mạnh (từ lúc lúa mới sạ tới khi chuẩn bị tượng đòng). Đây là công đoạn quan yếu cần đảm bảo mật độ, liều lượng, tỷ lệ và chất lượng các dòng axit humic
khi này cây lúa cần được bón phân với tỷ lệ phân chứa N cao hơn, nhằm giúp cây tăng sinh trưởng và đẻ nhánh tập trung (giai đoạn này quyết định số bông trên 1 đơn vị diện tích). Ưu tiên bón phân urê hoặc SA. Nếu như là phân NPK thì chú ý tỷ lệ 3:2:1 hoặc 3:1:1 (tính chung cho cả phân bón lá và phân bón gốc). các đợt bón như sau:
Bón lót (khi bừa đất lần cuối hoặc trước sạ một ngày): Nhằm hồi phục sức khỏe đất và thăng bằng lại những chất dinh dưỡng bị mất đi trong khoảng vụ canh tác trước chậm tiến độ. không những thế, bón lót còn nhằm kích thích bộ rễ lớn mạnh sớm giúp cây lúa vững chắc và nâng cao khả năng hút dinh dưỡng, tích lũy đủ dinh dưỡng cho công đoạn tiếp theo.
Bón thúc một (sau sạ 7 – 10 ngày): Bón thúc lần này giúp cây lúa lớn mạnh nhanh hơn (tăng chiều cao và sinh khối của bộ rễ).
Bón thúc 2 (sau sạ 18 – 22 ngày): Bón thúc lần 2 để giúp cây lúa đẻ nhánh nhanh, tập hợp và hạn chế nhánh vô hiệu, tăng số nhánh hữu hiệu (đạt tiêu chuẩn số bông tối thích trên 1 doanh nghiệp diện tích đất).
2. quá trình sinh trưởng sinh thực: trong khoảng lúa tượng đòng tới lúc thu hoạch, bón phân theo 2 thời kỳ sau:
Đợt 1 (bón thúc đòng và nuôi đòng): lúc lúa được 40-45 ngày tuổi.
lúc này cây lúa sở hữu nhu cầu về phân lân (P) cao để hình thành đòng và quyết định số hạt trên bông lúa (số hạt tối ưu trên một bông lúa là 1 trong những nhân tố cấu thành năng suất). bởi vậy, bón kali nitrat thì tỷ lệ N:P:K = 1:2:1 hoặc 1:2:1,5 (tính chung cho cả phân bón lá và gốc).
Đợt hai (bón nuôi hạt): Tính trong khoảng sau thụ phấn tới lúc hạt lúa chín sáp.
Đây là lúc cây lúa cần bón cân đối các chất đa lượng NPK và trung vi lượng nhằm giúp tránh tỷ lệ hạt kẹ lửng, nâng cao nhanh việc phát triển trọng lượng hạt, giúp cho việc tăng số hạt chắc (chỉ tiêu này cũng là một trong 3 yếu tố cấu thành năng suất lúa).
giai đoạn này rất cần chất dinh dưỡng kali để tăng cường giai đoạn chuyên chở chất dinh dưỡng từ lá vào hạt; chất đạm (N), calci (ca) và vi lượng (TE) để giúp cho lá đòng và hai lá kế lá đòng xanh lâu hơn (tăng hiệu suất quang hợp), tăng độ bóng, độ mẩy chắc của hạt, làm cho tăng trị giá thương phẩm, giảm thiểu sự tiến công của mầm bệnh (như bệnh xịt hạt,...) và thúc đẩy nhanh thời kỳ chín đồng loạt, nâng cao chất lượng và số lượng hạt chắc. Đợt bón này cần ưu tiên dùng những dạng phân NPK với tỷ lệ N:P:K = 3:1:3 hoặc 2:0:2 (N – 0 – K).
khi này cây lúa cần được bón phân với tỷ lệ phân chứa N cao hơn, nhằm giúp cây tăng sinh trưởng và đẻ nhánh tập trung (giai đoạn này quyết định số bông trên 1 đơn vị diện tích). Ưu tiên bón phân urê hoặc SA. Nếu như là phân NPK thì chú ý tỷ lệ 3:2:1 hoặc 3:1:1 (tính chung cho cả phân bón lá và phân bón gốc). các đợt bón như sau:
Bón lót (khi bừa đất lần cuối hoặc trước sạ một ngày): Nhằm hồi phục sức khỏe đất và thăng bằng lại những chất dinh dưỡng bị mất đi trong khoảng vụ canh tác trước chậm tiến độ. không những thế, bón lót còn nhằm kích thích bộ rễ lớn mạnh sớm giúp cây lúa vững chắc và nâng cao khả năng hút dinh dưỡng, tích lũy đủ dinh dưỡng cho công đoạn tiếp theo.
Bón thúc một (sau sạ 7 – 10 ngày): Bón thúc lần này giúp cây lúa lớn mạnh nhanh hơn (tăng chiều cao và sinh khối của bộ rễ).
Bón thúc 2 (sau sạ 18 – 22 ngày): Bón thúc lần 2 để giúp cây lúa đẻ nhánh nhanh, tập hợp và hạn chế nhánh vô hiệu, tăng số nhánh hữu hiệu (đạt tiêu chuẩn số bông tối thích trên 1 doanh nghiệp diện tích đất).
2. quá trình sinh trưởng sinh thực: trong khoảng lúa tượng đòng tới lúc thu hoạch, bón phân theo 2 thời kỳ sau:
Đợt 1 (bón thúc đòng và nuôi đòng): lúc lúa được 40-45 ngày tuổi.
lúc này cây lúa sở hữu nhu cầu về phân lân (P) cao để hình thành đòng và quyết định số hạt trên bông lúa (số hạt tối ưu trên một bông lúa là 1 trong những nhân tố cấu thành năng suất). bởi vậy, bón kali nitrat thì tỷ lệ N:P:K = 1:2:1 hoặc 1:2:1,5 (tính chung cho cả phân bón lá và gốc).
Đợt hai (bón nuôi hạt): Tính trong khoảng sau thụ phấn tới lúc hạt lúa chín sáp.
Đây là lúc cây lúa cần bón cân đối các chất đa lượng NPK và trung vi lượng nhằm giúp tránh tỷ lệ hạt kẹ lửng, nâng cao nhanh việc phát triển trọng lượng hạt, giúp cho việc tăng số hạt chắc (chỉ tiêu này cũng là một trong 3 yếu tố cấu thành năng suất lúa).
giai đoạn này rất cần chất dinh dưỡng kali để tăng cường giai đoạn chuyên chở chất dinh dưỡng từ lá vào hạt; chất đạm (N), calci (ca) và vi lượng (TE) để giúp cho lá đòng và hai lá kế lá đòng xanh lâu hơn (tăng hiệu suất quang hợp), tăng độ bóng, độ mẩy chắc của hạt, làm cho tăng trị giá thương phẩm, giảm thiểu sự tiến công của mầm bệnh (như bệnh xịt hạt,...) và thúc đẩy nhanh thời kỳ chín đồng loạt, nâng cao chất lượng và số lượng hạt chắc. Đợt bón này cần ưu tiên dùng những dạng phân NPK với tỷ lệ N:P:K = 3:1:3 hoặc 2:0:2 (N – 0 – K).