Bước 2: Khởi động chương trình:
Ở mục project menu, bạn chọn Output Format là DVD NTSC, còn tại sao lại chọn như vậy, tớ sẽ giải thích sau.
Nếu trước đó bạn đã làm 1 project, nhưng vì lý do nào đó phải ngừng lại và bạn đã save lại quá trình làm việc của mình, chọn Open a Project file.
Các chức năng trên thanh công cụ:
Click vào nút
Source để tạo 1 Project mới. (1)
Click vào nút
Menu để tạo menu DVD, với điều kiện đã hoàn thành xong Project. (Bước này không hoàn toàn bắt buộc). (2)
Click vào nút
Simulation để kiểm tra lại project cũng như xem thử hoàn toàn các effect đã được tạo ra trong quá trình làm project. (3)
Click vào nút
Output sau khi đã hoàn thành việc kiểm tra project và chắc chắn để convert sang DVD. (4)
Tinh chỉnh trong Option:
Option là vùng chọn bên góc phải màn hình của giao diện chính, tại đây bạn có thể xem qua phần hướng dẫn sử dụng (bằng tiếng anh), hoặc ghé thăm trang chủ của TMPGEnc, cập nhật thông tin mới nhất…Để tinh chỉnh, bạn chọn Preferences.
1. Work Folder: thư mục làm việc của TMPGEnc
• DVD output: Nơi xuất folder DVD
• DivX output: nơi xuất ra file DivX
2. Clip Editing: Chỉnh sửa video – nên để theo giá trị mặc định.
• Scene Change Detection: có 5 mức để bạn lựa chọn, gồm Weakest, Weak, Normal, Strong, Strongest, file size của output cũng theo 5 mức ấy mà tăng dần đều. Khuyến cáo nên để mức Normal nếu input của bạn là những file có chất lượng bình thường, chỉ khi nào file gốc là High Quality thật sự thì hãy set mức Strong hay Strongest.
3. Project Default Setting: Lựa chọn ngôn ngữ cho DVD của bạn, các thứ khác để nguyên theo mặc định.
DVD video Setting:
• Video Encoder Advance Settings: tick vào Output bitstream for editing để TMP auto fix những lỗi nhỏ trong quá trình encode, tick vào detect scene change để chất lượng hình ảnh ở những đoạn chuyển động rõ nét hơn, Ở mục Motion search Precision, cũng có 4 mức cho bạn lựa chọn, mức càng cao thì quá trình convert càng chậm, filesize càng lớn, như đã khuyến cáo bên trên, nếu file của bạn không thật sự quá cao cấp thì không cần phải chọn ở mức cao nhất.
• Default Audio Format: bạn có thể lựa chọn format là PCM (*.WAV), Dolby Digital (*.AC3) hoặc MP2, theo đó nếu âm thanh của bạn là 5.1 channels, thì bạn nên chọn Dolby Digital, nếu là 2 channels bình thường thì có thể chọn PCM hoặc MP2, tuy nhiên 1 số đầu đọc cũ có thể không đọc được audio MP2.
• Với DivX setting cũng như trên.
Bây giờ ta có thể tiến hành làm DVD được rồi, tuy nhiên trước khi làm bạn có thể đọc thêm sơ qua 1 ít về các vấn đề sau:
• Đối với 1 DVD bình thường, max bitrate là 9.8mbps để đầu đĩa có thể đọc được bình thường, vì vậy khi chỉnh bitrate cho Audio và Video các bạn cần chú ý làm sao để tổng bitrate = 9.8mbps là được (Chú ý Mbps khác với MBps). VD như clip của bạn chọn Audio là PCM, thì bitrate của nó chiếm đến 1.5mbps, vì vậy video chỉ có thể chọn tối đa từ 8.3Mbps trở xuống. Nếu âm thanh bạn chọn là AC3 thì nó chỉ chiếm tối đa 448Kbps => video sẽ còn nhiều chỗ hơn, tương tự như vậy với MP2 (384kbps là max).
• Để tiết kiệm thời gian khi convert, TMP có hỗ trợ Smart Rendering (SM) khi input là mpg (Với độ phân giải phù hợp vơi DVD, nếu ko thì cũng ko sử dụng được SM), tức là TMP sẽ không hoàn toàn convert đoạn video đó, nó chỉ thay đổi những chỗ cần thiết nên thời gian sẽ rất nhanh so với Full Rendering.
• Đã là Convert thì chắc chắn sẽ là lossy, vì thế bạn đừng thắc mắc tại sao khi cùng 1 bitrate nhưng video gốc và video output có sự khác nhau về chất lượng.
Bước 3: Bắt đầu làm DVD:
(1) – Tick vào Source, sẽ hiện ra giao diện như sau
Cột bên trái:
Nhấn Add a Track để tạo thêm track mới cho DVD nếu bạn không thích các clip bị nhập chung vào 1 track.
Track setting:
Dưới đây là giao diện chính của Track Setting, gồm các thẻ General, Video, Audio và Subtitle (Lưu ý chỉ có thể điều chỉnh trong track setting khi đã Add Clip vào).
Thẻ Video:
• Encode mode: chọn Automatic để TMP tự phát hiện những đoạn video có khả năng sử dụng chức năng Smart Rendering (rút ngắn thời gian encode và giảm thiểu sự giảm sút chất lượng của video qua quá trinh convert) hoặc Full Rendering (Luôn chuyển đổi 100% video gốc sang video mới).
• Video Stream Format: MPEG-2
• Size : 720X480
• Aspect Ratio: 4:3 nếu là màn hình vuông bình thường, 16:9 nếu là màn hình rộng (wide screen).
• Frame rate: 29.97 – chuẩn NTCS
NTCS: chuẩn video thường dùng ở Nhật, Mỹ với khung hình (Frame) có size là 720X480 và 29.97 hình/giây, chuẩn video này biểu diễn chuyển động của hình ảnh mượt hơn so với chuẩn PAL. Tuy khung hình nhỏ hơn PAL nhưng chất lượng khác nhau không nhiều.
PAL: chuẩn video thường dùng ở các nước châu âu, khung hình là 720X576 và 25hình/giây, PAL cho hình ảnh sắc nét hơn, nhưng chuyển động kém hơn so với NTCS. Hình ảnh thường sẽ không thật ở những đoạn chuyển động nhanh như cách quạt quay, đua xe…
[thông tin về các nước sử dụng chuẩn video chênh lệch nhau, theo
wiki thì khác, theo TMP thì khác, thông cảm phần này vậy

]
• Display mode và Field mode : Automatic
• Rate control mode : chọn VBR (1pass hoặc 2pass) hoặc CBR
VBR là chế độ encode video với bitrate động, mức độ chênh lệch có thể tùy chọn, chế độ này thích hợp nhất để encode video, vì nó tiết kiệm được filesize do hạ thấp bitrate ở những đoạn hình ảnh đơn giản và nâng cao bit rate ở những đoạn hình ảnh phức tạp, nhiều màu sắc và chuyển động.
Mở rộng hơn tí về VBR 1pass và VBR 2pass:
•VBR 1pass khi convert sẽ ghi từng phần của video lên đĩa cứng, điều này có nghĩa là trong quá trình convert, bạn có thể kiểm tra chất lượng của video được tạo ra bằng cách play nó. VBR 1pass có thể được sử dụng khi bạn là người không đặt yêu cầu quá cao về chất lượng mà tốc độ convert mới là cái bạn quan tâm. Khi convert ở chế độ này, mức bitrate mà bạn lựa chọn sẽ được làm 1 lần duy nhất và áp dụng cho đoạn video output, vì vậy sẽ rút ngắn được thời gian so với VBR 2pass.
•VBR 2pass khi convert sẽ không viết từng phần của video lên đĩa cứng mà sẽ viết 1 lần duy nhất khi đoạn video đã được convert xong hoàn toàn => bạn không thể kiểm tra được chất lượng vì không thể xem được video trong khi đang convert. Lý do là vì ở chế độ này, trước khi xuất hẳn file output, TMP sẽ đọc qua 1 lần source, nó ghi nhớ lại những thời điểm cần nhiều/ ít bitrate khác nhau và save lại thành file *.tmp, từ file này, TMP sẽ áp dụng 1 lượng bitrate ổn định để cho chất lượng hình ảnh của file output tốt hơn với lượng bitrate mà nó nên có.
Và việc lựa chọn chế độ nào, là tùy ở bạn ::)
CBR là chế độ encode với 1 bitrate duy nhất, chế độ này thích hợp cho những ai thích chất lượng cao, đồng đều ở mọi thời điểm. Tuy nhiên filesize sẽ lớn hơn so với VBR mode.
Bitrate: nếu ở VBR mode, bitrate sẽ là bitrate trung bình (khi hình ảnh đơn giản, bitrate sẽ được hạ thấp xuống dưới mức trung bình và ngược lại), sẽ có thêm tùy chọn Picture quality ở VBR mode, mặc định là 90%, nếu thích chất lượng cao, bạn có thể tăng lên 100%. Tùy vào chất lượng của đoạn video gốc mà bạn muốn làm DVD có chất lượng như thế nào, bạn có thể set mức bitrate cho phù hợp, nếu file gốc là mpg thì bạn cứ để nguyên các giá trị mặc định. Còn nếu video gốc là những file dạng khác như avi, wmv, mov… thì có lẽ bạn nên dùng thêm 1 chương trình thứ 2, tốt nhất là các player có khả năng đọc được bitrate của clip đó. Sau khi đã có được thông số bitrate của video, bạn điền vào. Lưu ý là khi điền bitrate vào, bạn nên điền cao hơn giá trị thực tế 1 ít, ví dụ bitrate của đoạn video đó là 2.3mbps, bạn có thể điền vào là 2.5 hoặc 2.7mbps.
Tại sao phải làm như vậy? Lý do là vì trong quá trình encode, chất lượng video sẽ giảm sút, việc giới hạn bitrate ở 1 mức độ thấp (ở đây thấp có nghĩa là = với bitrate cũ) sẽ làm giảm sút chất lượng của video, chưa kể 1 số định dạng như avi(DivX hay XviD), rmvb có độ nén cao hơn vob (mpg) của DVD rất nhiều, ở cùng 1 mức bitrate thì các định dạng trên biễu diễn hình ảnh tốt hơn vob. Còn nếu bạn thật sự ko am hiểu vấn đề này, hãy cứ để theo mặc định (Việc để bitrate cao hơn bitrate gốc chỉ có thể làm giảm tối đa sự giảm sút của chất lượng hình ảnh, qua đây muốn nói luôn với các bạn rằng
1 đoạn clip với bitrate gốc thấp thì dù khi convert có để bitrate cao đến mấy, output chất lượng vẫn sẽ như bản gốc, thậm chí là xấu hơn).
Khi add track vào các bạn cần lưu ý cái thanh màu hồng bên dưới cùng của giao diện TMP:
Bạn ADD track làm sao để phù hợp với chiếc DVD của mình, không được hơn 4.7GB với DVD 1 lớp, và ko quá 8.5GB với DVD 2 lớp.
Thẻ Audio Setting:
• Audio Stream number: Automatic.
• Encode mode: Automatic, Re-encode if necessary (tự động chuyển đổi nếu cần thiết) hoặc Re-Encoder (luôn luôn convert lại – chất lượng sẽ giảm sút). Ở mục này nên để chế độ Re-encode if necessary.
• Language: chọn ngôn ngữ để khi play trên đầu đọc sẽ hiển thị ngôn ngữ của âm thanh (thường là dùng cho các đĩa phim có thuyết minh - video có nhiều stream âm thanh).
Thẻ Subtitle: Chọn Automatic nếu không có phụ đề, nếu có phụ đề thì bạn có thể tùy chỉnh chọn phụ đề 1, 2.. còn nếu bạn muốn disable phụ đề đã được add sẵn trong video (vob chẳng hạn) thì bạn có thể chọn none.
Cột bên phải:
Bấm
Add file để lựa chọn các file cần làm DVD => add vào. Source Wizard để add những file mà không thể add trực tiếp được khi sử dụng nút add file (Những file của DVD, của Camera…).
Add slideshow để tạo và chèn slideshow tự tạo bằng các bức ảnh, đây là phần tool mở rộng của TMP, bạn nào thích có thể tự tìm hiểu, tớ chỉ hướng dẫn cách làm DVD từ những file video có sẵn thôi (Lười :'>).
Cut-Edit: Lựa chọn này để bạn có thể cắt, chỉnh sửa video, chỉnh lại kích cỡ của khung hình theo ý thích, cân bằng âm lượng của video…vv. Khi bạn Add file thì cửa sổ Clip Properties cũng sẽ được bật lên, gồm 3 thẻ là Clip Properties, Cut-Edit và Subtitles.
1: Khi bạn kéo đoạn video đến 1 đoạn nào đó, nếu bấm vào nút này, frame tại thời điểm đó sẽ được ghi nhớ lại, bạn có thể set cho frame đó là điểm bắt đầu của 1 chapter.
*: Chắc đọc tới đây một vài người chưa biết track và chapter trong TMP nghĩa là gì, tớ giải thích thêm tí:
• Track: Nếu chiếc DVD phim của bạn không phải là 1 phim mà là 2 đến 3 phim, hoặc nhiều phần, thì mỗi phim (phần) sẽ tương ứng là 1 track.
• Chapter: Trong phim, hay cụ thể hơn là trong 1 Track, bạn muốn ngắt từng đoạn để khi bấm nút next trên đầu đọc, nó sẽ tự nhảy tới thời điểm đó (những đoạn phim hành động gay cấn, 1 pha nóng bỏng nào đó chẳng hạn

), mỗi track sẽ có lượng chapter tùy thích.
2: Tick vào nút này để ngắt đoạn video tại thời điểm mà bạn chọn.
3: Hủy frame vừa chọn.
4: Điều chỉnh âm thanh
Ở thẻ Audio Gap:
Tick vào Enable Audio Gap Correction để chỉnh thời gian cho video khớp với hình (áp dụng cho những đoạn video có tiếng nhanh hoặc chậm hơn hình).
Ở thẻ Noise and Tone Reduction:
Tick vào Enable Noise Reduction để lọc bỏ nhiễu âm, có thể tùy chọn mức độ lọc. Để hủy chọn có thể untick Enable, reset hoặc Cancel.
Cái Time tone reduction tớ thử với nhiều đoạn video nhưng vẫn chưa thấy có sự khác biệt về âm thanh nên tạm bỏ qua phần này vậy
Bên thẻ Volume Adjustment: cân bằng âm lượng.
• Nếu bạn chọn volume change thì bạn phải tự chỉnh cho âm thanh vừa tai bằng cách tăng/giảm âm lượng (tính theo %).
• Tùy chọn normalization cũng có tác dụng tương tự như volume change.
• Volume Uniformization – tùy chọn theo tớ là tốt nhất cho việc cân bằng âm, có thể chỉnh cân bằng theo chế độ Peak hoặc Average.
Thẻ Fade in/out:
Tick vào Enable Fade in/out để làm nhỏ dần âm thanh khi bắt đầu sang clip khác và khi kết thúc clip.
Audio 2 tương tự như vậy.
Nhấn Preview ở bên trên để kiểm tra công việc bạn vừa làm xong.
5: Tương tự Ctrl+Z trong MS Word, hủy bỏ việc cuối cùng bạn vừa làm.
6&12: Di chuyển con trỏ đến vị trí của Frame liền trước hoặc liền sau.
8&10: Di chuyển con trỏ tới Frame liền trước hoặc liền sau được hiển thị trong list Frame.
7&13: Di chuyển con trỏ tới Frame đầu/cuối của clip.
9&11: Đánh dấu vùng chọn trong clip.
14: Tick vào sẽ hiện ra menu như sau:
Crtl+J => di chuyển vị trí con trỏ tới frame cần tìm hoặc khoảng thời gian cần đến.
Crtl+K => xuất hiện bảng chọn bên dưới:
Lựa chọn đầu: tạo chapter tại thời điểm mà bạn chọn.
Lựa chọn 2: tự tạo chapter sau khoảng x phút (x là thời gian mà bạn lựa chọn, theo hình là 5 phút).
Lựa chọn 3: số Chapter sẽ được tạo cho 1 clip.
Clip Properties:
Ở mục clip setting, nên để tất cả theo mặc định nếu bạn không muốn từ SM thành Full Rendering.
Ở mục Video, nhấn vào option để xem thông số của video, các thông số chỉ hiển thị cụ thể với mpg file, còn các file khác hiển thị rất sơ xài. Cái này xem cũng đc, ko xem cũng chả sao.
Ở mục Audio, các bạn như trong hình. Nếu bạn muốn làm cho clip có 2 stream âm thanh (đĩa phim có thuyết minh hoặc chèn thêm bản Karaoke vào cho clip) thì chọn Multi Audio, khi đó bạn import source vào chỗ Audio input 2, lưu ý 2 file phải có cùng thời gian như nhau để khớp với hình.
*: Ở mục Field Order, nếu đoạn clip của bạn có ratio 16:9, và bạn muốn thay đổi ratio cuảđoaạn clip đó, có thể tuỳ chọn thoải mái. Mục tinh chỉnh này cũng có thể áp dụng để tạo 2 viền đen trên dưới cho clip của bạn. Tất nhiên thay đổi ở mục này thì Smart Render => Full Render.
Subtitles Editor:
Tại subtitles list, bạn tick vào subtitles 1 để thực hiện việc tạo sub 1, sau khi hoàn thành sub 1 thì tick vào subtitle 2 để tiếp tục làm sub 2.
Để canh thời gian nhanh cho việc làm sub, bạn cứ việc bấm play clip, đến thời điểm cần xuất hiện subs, bạn tick vào nút pause, sau đó bấm Add để điền nội dung subs. Để điều chỉnh vị trí xuất hiện, font chữ, hiệu ứng của subs, bạn tick vào Edit Menu và chọn Layout Editor. Phần này dành cho bạn nào siêng (canh thời gian cho phụ đề của cả 1 bộ phim chẳng dễ dàng gì) + có con mắt thẩm mỹ 1 tí thì mới làm subs đẹp và chính xác được, tớ tự thấy mình ko có rảnh + ko có khiếu nên ko dám đua đòi phần này :'>.
Lưu ý TMP có hỗ trợ Unicode, nên các bạn có thể tự do add subs với multi language, tuy nhiên chả hiểu sao khi đã hoàn thành xong 1 subs, tớ export subs ra ngoài (file *.subtitle) để lưu lại thì toàn lỗi font, nhưng subs trước đó đã làm cho video thì ko sao cả
Ai muốn tham khảo thêm về làm phụ đề có thể liên hệ mod
Steiner, hoặc đọc 2pic này
Mã:
http://forum.gamevn.com/showthread.php?t=156848