Đi tìm hậu duệ Ngụy, Thục, Ngô

  • Thread starter Thread starter ~Pawn~
  • Ngày gửi Ngày gửi

~Pawn~

Donkey Kong
Tham gia ngày
8/7/06
Bài viết
430
Reaction score
16
Đi tìm hậu duệ Ngụy, Thục, Ngô

anhso-31_02.jpg


Thời Tam Quốc phân tranh ở Trung Hoa đã trôi vào lịch sử ngót 2 thiên niên kỷ. Những nhân vật lừng lẫy một thời như Lưu Bị, Tào Tháo, Tôn Quyền, Gia Cát Lượng, Quan Công, Mã Siêu... đã thành cát bụi nhưng hậu duệ của họ vẫn còn đó, vẫn tiếp tục cuộc sinh tồn.

Một điều bất ngờ thú vị là hàng ngàn năm nay, hậu duệ ba hoàng đế lừng danh thời Tam Quốc: Thục đế Lưu Bị, Ngô đế Tôn Quyền và Ngụy đế Tào Tháo đều sống tập trung dọc theo bờ sông Phú Xuân, huyện Phú Dương, tỉnh Triết Giang, khiến nơi đây trở thành trọng điểm văn hóa lịch sử của Trung Quốc.

Sống Kim, chết Lưu

Thôn Thự Tinh, xã Ngư Sơn, huyện Phú Dương là vùng định cư của hậu duệ Thục đế Lưu Bị (161-223). Trong thôn có đền thờ Lưu Bị và hầu hết người dân đều mang họ Kim.

Ông Kim Khôn Tiều, hậu duệ đời thứ 73 của Lưu Bị, cho biết ông đã mạo hiểm giữ lại bộ gia phả Phú Xuân Lưu thị tông phổ, báu vật trấn môn của gia tộc họ Lưu, trong cuộc “cách mạng văn hóa” tàn khốc.

Cuốn gia phả này đã được chỉnh lý nhiều lần, mỗi lần đều có đề tự của các nhân vật nổi tiếng như: Chu Hy, Văn Thiên Tường, Phương Hiếu Nhu...

Theo Phú Xuân Lưu thị tông phổ, Lưu Bị là hậu duệ của Hán Cao Tổ Lưu Bang. Sau khi soán Tào lên ngôi, lập ra nhà Tấn, kết thúc thời Tam Quốc, Tư Mã Viêm đã ra Tru Lưu chiếu (chiếu diệt Lưu) nên gia tộc họ Lưu phải rời vùng Tứ Xuyên đi tị nạn.

Từ đó, trong gia tộc quy định chữ Lưu bỏ đi bộ “mão” và bộ “đao” còn lại chữ Kim và lấy đó làm họ. Gần 200 năm sau, khi triều Tấn bị diệt vong, họ Lưu mới được khôi phục.

Tuy nhiên, đến đời Minh, dòng dõi Lưu Bị là hoạn quan Lưu Cẩn lộng quyền, năm 1510 bị xử lăng trì. Triều đình bấy giờ lại muốn tru diệt Lưu tộc nên con cháu họ này lại chuyển thành họ Kim và di tản đến Phú Dương - Triết Giang.

Dòng họ Lưu lúc còn sống đều lấy họ Kim, chết đi mới thờ lại họ Lưu. Đây là quy định "Tử Lưu hoạt Kim" (sống Kim, chết Lưu) của hậu duệ Lưu Bị.

Hơn 90 đời họ Tôn

Thủy tổ của Ngô đế Tôn Quyền (182-252) vốn là họ Trần tên Thư, người thời Xuân Thu, sau có công được Tề Vương ban họ Tôn. Đến đời thứ ba, họ Tôn sinh ra Tôn Vũ, thiên tài quân sự Trung Hoa cổ đại, người để lại Binh pháp Tôn Tử 13 thiên nổi tiếng.

Con thứ của Tôn Vũ là Tôn Minh được phong Phú Xuân Hầu, đây là ông tổ đời thứ nhất của họ Tôn ở Phú Dương. Đời thứ 19 là Tôn Chung sinh ra Tôn Kiên, tức cha Tôn Quyền.

Tính đến nay, dòng họ Tôn đã truyền hơn 90 đời. Tôn Quyền tự là Trọng Mưu, giỏi về chính trị. Đối thủ của ông là Tào Tháo từng nói: “Sinh con thì nên như Tôn Trọng Mưu”.

Cách thị trấn Phú Dương 20 km về hướng Tây Nam là thôn cổ Vương Châu, cố hương của Tôn Quyền. Bên trong thôn có miếu thờ Ngô Đại đế rất uy nghi, có di tích Tôn Chung trồng dưa... Đặc biệt, tại đây còn có bia của vua Quang Tự sắc lập, đánh dấu đất phát tích của Ngô gia.

Tuy nhiên, nơi tụ cư đông nhất của hậu duệ Tôn Quyền là thị trấn cổ Long Môn, cách Hàng Châu khoảng 50 km. Long Môn có hơn 7.000 người thì đến 95% là con cháu Tôn Quyền và họ định cư ở đây đã hơn ngàn năm.

Thị trấn này rộng khoảng 2 km², đến nay vẫn còn giữ hoàn chỉnh các quần thể kiến trúc cổ độc đáo đời Nguyên, Minh, Thanh. Trong đó, nổi tiếng có từ đường họ Tôn, Lạc Thiện Đường, Minh Triết Đường, Bách Sư Đường, Đồng Hưng tháp... Tổ tiên của Tôn Trung Sơn cũng khởi nguồn từ đây.

Gần Long Môn có thôn Hóa Trúc cũng là một điểm tụ cư của con cháu Tôn Quyền. Họ đều là hậu duệ của hoàng tử thứ ba của Tôn Quyền là Tôn Hòa và cháu là Tôn Hạo.

Nơi đây còn giữ được bộ Phú Xuân Tôn thị gia phổ 57 cuốn do hoàng đế các đời Minh, Thanh nhuận sắc, được xem là “hoàng gia ngọc điệp” vô cùng trân quý.

Từ Tào đến Tháo

Thôn cổ Đông Đồ Thượng có hơn 1.500 người thì trên 90% mang họ Tào. Khảo sát cho thấy đây là dòng chính của Tào Thực, con trai thứ của Ngụy Vũ đế Tào Tháo (155-220). Trong thôn có từ đường Tào thị quy mô hoành tráng, bố cục nghiêm cẩn.

Theo đề tự trong Tào thị gia phổ, cuối đời Ngụy, họ Tào đã suy, quyền chính nằm trong tay dòng họ Tư Mã. Anh em Tư Mã Chiêu muốn soán đoạt ngôi vị nên thẳng tay bức hại con cháu họ Tào. Năm 266, Tư Mã Viêm phế nhà Ngụy, lập nhà Tấn, lại càng gia tăng việc tàn sát hậu duệ Tào Tháo.

Trong 25 người con của Tào Tháo chỉ có 2 người trốn thoát được. Một nhánh của Tào Thực từ huyện Hấp, tỉnh An Huy (cố hương của Tào Tháo) chạy về Triết Giang. Một nhánh khác của Tào Lâm chạy về Phiên Dương, tỉnh Giang Tây và đổi thành họ Tháo.

Theo Tiều Quốc Tháo thị gia phổ, do Tào và Tháo đều là người một nhà nên có môn quy rất nghiêm: Hai họ tuyệt đối không được kết hôn với nhau. Chi tộc họ Tháo ngày càng đông đúc và phân bố ở 14 huyện, tỉnh Trung Quốc, lưu lạc cả sang Đông Nam Á. Theo một thống kê vào tháng 7-2001, gia tộc họ Tháo có đến khoảng 300.000 nhân khẩu.

Chung sống thanh thản, hòa ái

Hằng năm, cứ vào mùng 7 tháng giêng âm lịch, hậu duệ của ba dòng Lưu, Tôn, Tào lại tổ chức họp mặt nâng chén vui chơi rất vui vẻ.

Nếu như ông tổ của họ chia ba thiên hạ, tranh chiếm giang sơn thì giờ đây họ sống thanh thản và hòa ái với nhau. Ngoài ra, mỗi dịp húy kỵ ông tổ của họ nào thì tất cả đều cùng đến chung vui.

Quá khứ bi hùng của 18 thế kỷ trước lại được tái diễn qua những tuồng tích mà ai nấy đã thuộc lòng.

Tại Phú Dương, con cháu Lưu Bị đa phần làm nghề nông. Con cháu của Tôn Quyền hầu hết làm nghề thủ công, nổi tiếng trong sản xuất vợt cầu lông. Trong khi đó, con cháu của Tào Tháo thì làm nghề đánh bắt cá trên sông Phú Xuân và hầu như không ai tham gia chính trị.


(theo Người Lao động)


Con cháu Quan Công, Mã Siêu

Quan Công và Mã Siêu là hai vị trong “Ngũ hổ tướng” lừng danh dưới trướng Lưu Bị nước Thục thời Tam Quốc phân tranh. Con cháu của họ trôi dạt khắp nơi lập nghiệp nhưng có rất nhiều người tài giỏi.
Quan Trung Kim, hậu duệ đời thứ 67 của “Võ Thánh” Quan Công (161-219), hiện ở tại thị trấn Hoàng Sơn Đầu, huyện Công An, tỉnh Hồ Bắc, là người đang giữ bộ gia phả khổng lồ Quan thị gia phổ.

Quan Trung Kim cho biết bộ gia phả hàng ngàn năm này được tu bổ vào đời Càn Long nhà Thanh, chỉnh lý lần cuối vào năm 1932, gồm 12 quyển, do cha ông phó thác lại như của gia bảo. Đáng tiếc là trong thời kỳ “cách mạng văn hóa”, do nhiều nguyên nhân, Quan thị gia phổ hiện chỉ còn lại 9 quyển.



Hậu duệ Quan Công: Xuống Nam lập nghiệp


Theo Quan thị gia phổ, Quan Công là hậu duệ đời thứ 27 của trung thần Quan Long Phùng đời Hạ Kiệt, người bị giết vì can gián vua. Ông nội Quan Công là Quan Thẩm, cha là Quan Nghị, đều là người tinh thông kinh sách.

Quan Công tên thật là Quan Vũ, tự Trường Sinh, sau đổi là Vân Trường. Ông có tướng lạ, sức khỏe địch nổi muôn người, kết nghĩa huynh đệ với Lưu Bị, Trương Phi cùng lao động đường phố nhà Hán, đứng đầu trong “Ngũ hổ tướng” nước Thục.

Năm 219, Quan Công mắc mưu tướng Đông Ngô là Lục Tốn, để thất thủ Kinh Châu, bị bắt chém lúc 58 tuổi. Sau khi nhà Ngụy nắm quyền, con cháu họ Quan đổi thành họ Môn để tránh họa, đến đời Tây Tấn mới lấy lại họ Quan.


Quan Công có con ruột là Quan Hưng, tài giỏi nhưng chết sớm, để lại hai cháu trai là Quan Thống và Quan Di. Đích tôn Quan Thống không có con, dòng Quan Di trở thành đại tông phái chính của hậu duệ Quan Công đến nay.

Hậu duệ Quan Công có nhiều người tài giỏi nổi tiếng, như: Quan Lang - đại thần đời Bắc Ngụy, Quan Khang Chi - danh nho đời Nam triều, Quan Phiên-tể tướng đời Đường... Sau khi triều Thục suy vong, dòng họ Quan dần dần chuyển xuống phía Nam, đến Phúc Kiến, Quảng Đông lập nghiệp.


Hiện nay, hậu duệ Quan Công nổi tiếng có tiến sĩ Quan Nghĩa Tân, nhà thực vật học - chuyên gia nông nghiệp hàng đầu Trung Quốc, người có hơn 30 công trình nghiên cứu khoa học.

Tuy nhiên, lừng lẫy hơn cả có lẽ là Quan Anh Tài, truyền nhân đời thứ 72 của Quan Công, người được xưng tụng là “Thuyền vương Brunei”, “Cự phú công thương Đông Nam Á”. Cơ sở làm ăn của ông phát triển mạnh ở Brunei, Singapore, Malaysia.


Quan Anh Tài từng gửi đến 10 triệu nhân dân tệ (hơn 1 triệu USD) về Quảng Đông, Hà Nam, Hà Bắc tài trợ làm từ thiện, trường học, cầu cống, đường sá và được tặng danh hiệu “Công dân danh dự” của hơn 10 tỉnh, thành, địa phương ở Trung Quốc.

Năm 2004, Quan Anh Tài được tiếp kiến thân mật Tổng thống Mỹ G. Bush, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và các quan chức cấp cao Trung Quốc. Năm nay 88 tuổi, Quan Anh Tài hiện là Chủ tịch Tổng hội Long Cương quốc tế (thành viên là hậu duệ của Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi và Triệu Vân).


Con cháu Mã Siêu: Gia tộc Mamikonean


Đầu thế kỷ XXI, nhà sử học nổi tiếng Trung Quốc Tô Trọng Tường công bố một phát hiện chấn động: Tìm thấy hậu duệ của Mã Siêu (176-223), một trong “Ngũ hổ tướng”, ở Armenia - quốc gia liên lục địa giữa châu Âu và Tây Nam châu Á.

Truyền nhân của Mã Siêu là Mã Kháng đã thoát được họa tru di, trốn đi và phục hưng họ Mã ở tận Armenia, hình thành nên gia tộc Mamikonean lừng danh.


Nghiên cứu của giáo sư Tô căn cứ bộ Lịch sử Armenia vào thế kỷ thứ V của sử gia Pawstos Buzand, người được mệnh danh là “cha đẻ của sử học Armenia”.

Theo đó, vào đầu thế kỷ thứ III, có một nhánh người Trung Hoa di cư sang Armenia. Người đứng đầu tên Mamik (tức Mamgon hay Mã Kháng), tự xưng thuộc hoàng tộc Trung Hoa, do đắc tội nên phải trốn sang Ba Tư (Iran ngày nay).

Triều đình lúc ấy truy nã đến Ba Tư, yêu cầu giao nộp Mã Kháng và những người lánh nạn. Hoàng đế Ba Tư cho những người lánh nạn vượt về phía Tây đến Armenia.

Hoàng đế Armenia phân phong cho Mã Kháng ở vùng Dalung, hình thành nên gia tộc Mamikonean. Tính thời gian trị vì của hoàng đế Ba Tư và Armenia lúc ấy ứng vào thời điểm dòng họ Mã ở Trung Quốc bị họa diệt tộc.


Đầu năm 2005, nhóm phóng viên Tân Hoa Xã đã sang Armenia tìm gặp những người trong gia tộc Mamikonean. Tại thủ đô Yerevan, các phóng viên gặp được Suri Mamikonean, Phó hội trưởng Hội Liên hiệp hữu nghị gia tộc Mamikonean. Khi gặp phóng viên Mã Lương của Tân Hoa Xã, Suri tiết lộ: “ Thực ra tôi cũng là họ Mã, tổ tiên tôi đến từ Trung Quốc”. Tuy nhiên, Suri không rõ rốt cuộc ông tổ của mình từ Trung Quốc là ai.


Theo Lịch sử Armenia, Mamikonean là một gia tộc hùng mạnh vào thời cổ trung đại của nước này, đến nay vẫn còn rải rác ở vùng Tây Á. Gia tộc Mamikonean có công lớn trong việc bảo vệ lãnh thổ, chống Ba Tư, giúp Armenia trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới lấy Ky tô giáo là quốc giáo vào đầu thế kỷ thứ V. Các hậu duệ trong gia tộc này như Gardan Mamikonean, Garan Mamikonean... đã trở thành anh hùng dân tộc của Armenia.

Năm 1991, Armenia đã lập ra huân chương “Gardan Mamikonean” tặng cho những người có cống hiến đặc biệt cho độc lập dân tộc. Tại thủ đô Yerevan còn có tượng người anh hùng Gardan Mamikonean.

Sử chép rằng gia tộc Mamikonean có một đội quân thiện chiến với lối giáp công theo kiểu “cuốn chiếu” vây bọc đối phương rất lợi hại. Lối đánh ấy chưa hề phổ biến ở Tây Á trước đó mà chỉ thịnh hành ở vùng Tây Bắc Trung Quốc, nơi người Khương từng hùng cứ (Mã Siêu là người Khương lai Hán).


Theo GS Tô Trọng Tường, Mã Siêu có hai em là Mã Hưu và Mã Thiết; có ba con là Mã Thu, Mã Thừa và Mã Vân Lộc. Rất nhiều khả năng Mã Kháng thuộc dòng trực hệ của gia tộc họ Mã may mắn thoát họa mới có thể hưng khởi gia tộc hùng mạnh ở xứ người.

Thời gian Mã Kháng đến Armenia tị nạn cũng đúng vào thời Tam Quốc. Đối chiếu với các sự kiện sử chép lại, chỉ có hậu duệ của Mã Siêu là tương ứng với gia tộc Mamikonean


(theo Người Lao động)​

Sử chép rằng gia tộc Mamikonean có một đội quân thiện chiến với lối giáp công theo kiểu “cuốn chiếu” vây bọc đối phương rất lợi hại. Lối đánh ấy chưa hề phổ biến ở Tây Á trước đó mà chỉ thịnh hành ở vùng Tây Bắc Trung Quốc, nơi người Khương từng hùng cứ (Mã Siêu là người Khương lai Hán).

Ồ...:)
 
Back
Top