TAM QUỐC CHÍ.
Thiên thứ 6: Ngụy thư quyển 6 - Đổng nhị Viên Lưu truyện.
Truyện Đổng Trác.
Biên soạn: Tây Tấn - Trần Thọ.
Chú giải: Lưu Tống - Bùi Tùng Chi.
Phiên dịch: Taolao, Khach, Lí Thái Hàng.
Hiệu chính: Lí Thái Hàng.
Nguồn: Filux.
Đổng Trác tự Trọng Dĩnh, người huyện Lâm Thao quận Lũng Tây.
Anh hùng kí chép: Cha Trác tên là Quân Nhã, từ chức quan nhỏ làm Luân Chi Úy ở quận Dĩnh Xuyên. Có ba con: con cả là Trạc, tự Mạnh Cao, chết sớm; thứ là Trác; em Trác là Mân, tự Thúc Dĩnh.
Thủa trẻ ưa hiệp khách, từng đi chơi ở miền Khương Trung(1), kết thân hết với các hào súy. Sau về cày bừa ở ruộng mà vẫn có hào súy xin đi theo, Trác bèn cùng về, giết trâu cày để cùng vui vẻ ăn yến. Các hào súy cảm ý ấy, về chọn được hơn nghìn con súc vật để tặng Trác.
Ngô thư chép: Quận gọi Trác làm quan, sai coi xét giặc cướp. Rợ Hồ từng ra cướp, bắt nhiều người dân, Lương Châu Thứ sử Thành Tựu gọi Trác làm Tòng sự, sai lĩnh binh kị đánh bắt, đại phá chúng, bắt chém nghìn tên. Tinh Châu Thứ sử Đoàn Quýnh tiến cử Trác cho công phủ, Tư đồ Viên Ngôi mời làm Duyện thuộc.
Cuối thời Hán Hoàn Đế, lấy con nhà lành ở sáu quận làm Vũ lâm lang. Trác giỏi võ, sức khỏe ít người sánh kịp, hai vai đeo hai túi tên, tay trái phải đều bắn được. Làm Quân tư mã, theo Trung lang tướng Trương Hoán đánh ở Tinh Châu có công, bái làm Lang trung, ban chín nghìn bó lụa, Trác đem chia hết cho quan quân. Chuyển làm Quảng Vũ Lệnh, Thục Quận bắc bộ đô úy, Tây Vực mậu kỉ hiệu úy, bị bãi quan. Gọi về bái làm Tinh Châu Thứ sử, Hà Đông Thái thú,
Anh hùng kí chép: Trác nhiều lần đánh rợ Khương, Hồ, trước sau hơn trăm trận.
chuyển làm Trung lang tướng, đánh giặc Khăn vàng, quân thua đáng tội. Bọn Hàn Toại nổi dậy ở Lương Châu, lại làm Trung lang tướng, sang phía tây chống Toại. Ở tại phía bắc vách Vọng Hoàn bị mấy vạn quân Khương, Hồ vây, lương thực thiếu hết, Trác bèn vờ muốn bắt cá, đắp đê ngăn nước sông qua đường về của địch để làm ao, khiến cho nước tràn đầy mấy chục dặm, rồi ngầm từ dưới đê đi qua chỗ quân địch mà tháo đê. Kịp lúc quân Khương, Hồ nghe biết liền đuổi theo, lúc ấy nước đã sâu, không qua được. Bấy giờ sáu cánh quân lên giữ ở quận Lũng Tây, năm cánh quân thua vỡ, riêng cánh quân của Trác trọn vẹn mà về, đóng đồn ở quận Phù Phong. Bái làm Tiền tướng quân, phong Li Hương Hầu, gọi làm Tinh Châu Mục.
Linh Đế kỉ chép: Năm Trung Bình thứ năm, gọi Trác làm Thiếu phủ, hạ lệnh đem quan quân trong trại của mình thuộc vào Tả tướng quân Hoàng Phủ Tung, đi đến chỗ ấy. Trác dâng sớ nói: "Lương Châu nhiễu loạn, kình nghê(2) chưa diệt, đây là buổi bầy tôi phải gắng sức giúp nước. Vả lại quan quân hăng hái, nhớ ân báo đáp, đều chặn xe thần, nói lời khẩn thiết, chưa lên đường ngay được. Xin tạm làm việc Tiền tướng quân, dốc lòng vỗ về, gắng sức đánh trận". Năm thứ sáu, lấy Trác làm Tinh Châu Mục, lại lệnh đem quân quân thuộc vào Hoàng Phủ Tung. Trác lại dâng sớ nói: "Thần nắm việc binh mười năm, quân sĩ lớn nhỏ quen nhau đã lâu, nhớ ân nuôi dưỡng của thần, vui vì nước nhà mà dẫn thân một sớm, xin được làm tướng ở châu này, trổ sức ở biên thùy". Trác lại làm trái chiếu lệnh, kịp lúc được Hà Tiến gọi.
Linh Đế băng, vua nhỏ lên ngôi. Đại tướng quân Hà Tiến cùng Tư lệ hiệu úy Viên Thiệu mưu trừ bọn hoạn quan, Thái hậu không theo. Tiến bèn gọi Trác sai quân tướng đến kinh sư. Trác lại ngầm sai người dâng thư rằng: "Bọn Trung thường thị Trương Nhượng cậy được sủng ái, vấy bẩn khắp nước. Ngày xưa Triệu Ưởng dấy binh ở Tấn Dương(3) để đuổi kẻ ác ở bên cạnh vua. Thần xin gõ chuông trống đến Lạc Dương, nhanh đánh bọn Nhượng". Muốn làm thế để ép Thái hậu. Trác chưa đến thì Tiến chết.
Tục Hán thư chép: Tiến tự Toại Cao, người quận Nam Dương, là anh khác mẹ của Thái hậu. Tiến vốn là con nhà giết mổ(4), cha là Chân. Sau khi Chân chết, Tiến đem em gái gửi nhờ quan Hoàng môn để được vào cung đình, được sủng ái, năm Quang Hòa thứ ba lập làm Hoàng hậu, do đó Tiến được tôn quý. Năm Trung Bình thứ nhất, giặc Khăn vàng nổi dậy, bái Tiến làm Đại tướng quân.
Điển lược chép biểu của Trác rằng: "Thần cúi nghĩ thiên hạ có kẻ phản nghịch không ngừng là vì bọn Hoàng môn thường thị Trương Nhượng khinh nhờn đạo trời, chuyên quyền lấn vua, cha con anh em chúng đều giữ châu quận, một tờ thư ra cửa phải nạp nghìn vàng, mấy trăm vạn thửa ruộng màu mỡ ở các quận ven kinh kì đều thuộc bọn Nhượng, dẫn đến khí oán bốc lên, giặc ác nổi dậy. Thần lúc trước vâng lệnh đánh Ư Phù La, tướng sĩ đói khốn, không chịu vượt sông, đều nói là muốn đến kinh sư giết bọn hoạn quan để trừ cái hại của dân, đến phủ quan đòi xin của cải. Thần đi theo vỗ về mới được yên ổn. Thần nghe nói ngăn chặn nước sôi không bằng rút củi khỏi lửa cháy, phá nhọt dẫu đau nhưng còn hơn là nuôi trong thịt. Nếu đợi chìm thuyền thì hối không kịp".
Bọn Trung thường thị Đoàn Khuê cướp vua đến bến Tiểu Bình, Trác bèn đem quân đi đón vua ở Bắc Mang, rồi về cung.
Hán kỉ của Trương Phan chép: Vào ngày canh ngọ tháng tám, Đế bị bọn quan Hoàng môn cướp, đi bộ khỏi cửa cung, chạy đến bên sông. Các quan Hoàng môn đã nhảy xuống sông chết. Bấy giờ Đế mười bốn tuổi, Trần Lưu Vương chín tuổi, anh em đi bộ một mình muốn về cung, mờ tối, đuổi theo ánh đom đóm mà đi, được mấy dặm, được người dân lấy xe trần chở đi. Ngày tân mùi, công khanh trở xuống cùng với Trác đón Đế ở dưới sườn núi Bắc Mang.
Hiến Đế xuân thu chép: Lúc trước trẻ con hát rằng: "Hầu chẳng phải Hầu, Vương chẳng phải Vương, nghìn xe vạn ngựa chạy đến Bắc Mang". Bấy giờ Trác vừa đến, đóng đồn ở vườn Hiển Dương. Nghe tin Đế đang về, đem quân đón Đế.
Điển lược chép: Đế từ xa thấy quân của Trác thì khóc lóc; bầy tôi bảo Trác rằng: "Có chiếu sai lui quân". Trác nói: "Các ngài là đại thần của nhà nước, không thể uốn sửa nhà vua, khiến cho nhà nước nghiêng ngửa, sao lại sai lui binh"! Rồi cùng vào thành.
Hiến Đế kỉ chép: Trác nói với Đế, Đế không đáp được. Lại nói chuyện với Trần Lưu Vương, hỏi nguyên nhân gây nên loạn họa; Vương đáp tự đầu đến cuối, không có gì sai sót. Trác cả mừng, bèn có ý phế lập.
Anh hùng kí chép: Hà Nam trung bộ duyện Mẫn Cống đỡ Đế cùng Trần Lưu Vương lên đến Lạc Xá thì dừng. Đế cưỡi riêng một ngựa, Trần Lưu Vương cùng với Cống cưỡi một ngựa, từ Lạc Xá đi về phía nam. Công khanh trăm quan đợi đón ở dưới sườn núi Bắc Mang, Thái úy Thôi Liệt dẫn đi trước. Trác đem mấy nghìn quân kị bộ đến đón, Liệt quát sai lui ra, Trác mắng Liệt rằng: "Ta ngày đêm đi ba trăm dặm đến đây, sao lại bảo lui ra, ta không chém được đầu khanh chăng"? Đến gặp Đế nói: "Bệ hạ khiến cho bọn quan Hoàng môn gây loạn mới thế, chuốc lấy họa hại, lầm lỗi chẳng nhỏ đâu"! Lại đến chỗ Trần Lưu Vương nói: "Ta là Đổng Trác, tới đây ta ôm". Lại túm lấy Vương ở trong vòng tay của Cống.
Anh hùng kí lại chép: Có sách chép là Vương không đến cho Trác ôm, Trác cùng Vương đều mỗi người một ngựa mà đi.
Bấy giờ em Tiến là Xa kị tướng quân Miêu bị quân của Tiến giết,
Anh hùng kí chép: Miêu là anh cùng mẹ của Thái hậu, mẹ lúc đầu lấy con trai nhà họ Chu. Bộ khúc của Tiến là Ngô Khuông vốn oán Miêu không cùng lòng với Tiến, lại ngờ Miêu thông mưu với hoạn quan, bèn lạnh trong quân rằng: "Kẻ giết Đại tướng quân là Xa kị tướng quân vậy". Rồi dẫn quân cùng em Trác là Mân đánh giết Miêu ở dưới cửa Chu Tước.
bộ khúc của Tiến, Miêu không còn chỗ theo, liền đều đến chỗ Trác. Trác lại sai Lữ Bố giết Chấp kim ngô Đinh Nguyên, nạp quân của Nguyên, cho nên binh quyền ở kinh đô rơi cả vào tay Trác.
Cửu châu xuân thu chép: Trác mới vào Lạc Dương, có không quá ba nghìn quân kị bộ, tự hiềm quân ít, không được gần xa chịu phục; được bốn, năm ngày liền sai quân ra bốn cửa thành, hôm sau bày cờ trống mà vào, báo tin rằng: "Quân miền tây lại vào đến Lạc Dương". Mọi người không biết, bảo là quân của Trác không thể đếm hết.
Trước đó, Tiến sai Kị đô úy người quận Thái Sơn là Bào Tín mộ quân ở quận ấy, vừa đến, Tín bảo Thiệu rằng: "Trác nắm quân mạnh, có chí khác, nay nếu không sớm đánh đi thì sẽ bị hắn ép chế; lúc hắn mới đến mệt mỏi, đánh úp thì có thể bắt được". Thiệu sợ Trác, không dám phát binh, Tín bèn về quê nhà.
Bấy giờ vì lâu ngày không mưa, hạ lệnh bãi quan Tư không Lưu Hoằng mà cho Trác thay chức, chốc lại chuyển làm Thái úy, ban Giả tiết, trao quân hổ bôn. Bèn phế Đế làm Hoằng Nông Vương. Rồi lại giết Vương và Hà thái hậu, lập con út của Linh Đế là Trần Lưu Vương, đấy là Hiến Đế.
Hiến Đế kỉ chép: Trác mưu phế Đế, hội bầy tôi ở triều đường, bàn rằng: "Trên là trời đất, thứ là vua tôi, cho nên được trị. Nay Hoàng đế yếu kém không thể giữ tông miếu làm vua của thiên hạ. Ta muốn noi theo việc cũ của Y Doãn, Hoắc Quang, lập Trần Lưu Vương, thế nào"? Thượng thư Lô Thực nói: "Xét kinh Thượng thư thì Thái Giáp đã lập mà không sáng suốt, Y Doãn đuổi đến ở Đồng Cung; Xương Ấp Vương lập được hai mươi bảy ngày mà gây hơn nghìn tội, cho nên Hoắc Quang phế đi. Nay vua tuổi còn trẻ, làm việc chưa có sai, không đáng sánh với việc xưa". Trác giận, bãi hội, muốn giết Thực, Thị trung Sái Ung khuyên can mới thoát. Ngày giáp tuất tháng chín, Trác lại bày hội bầy tôi nói: "Hà Thái hậu bức ép Vĩnh Lạc thái hậu, làm cho lo lắng mà chết, trái lễ nghi vợ thiếp, không có đạo hiếu thuận. Thiên tử nhỏ dại, yếu mền chẳng đủ làm vua. Ngày xưa Y Doãn đuổi Thái Giáp, Hoắc Quang phế Xương Ấp Vương, chép ở sách sử, mọi người cho là hay. Nay Thái hậu đúng như Thái Giáp, Hoàng hậu đúng như Xương Ấp Vương. Trần Lưu Vương có lòng nhân hiếu nên lên ngôi Đế tôn quý".
Hiến Đế khởi cư chú chép lệnh rằng: "Hiếu Linh Hoàng Đế không giữ được tuổi thọ lâu dài, sớm bỏ bầy tôi. Hoàng đế nối nghiệp, cả nước trông mong, nhưng Đế tính khí khinh nhờn, không đủ uy nghi, để tang trễ nhác, tính kém mới thế; đức xấu đã rõ, nổi phát tiếng nhơ, làm nhục thần kí, vấy bẩn tông miếu. Hoàng thái hậu không có lễ nghi của người mẹ, chính thống rối loạn. Vĩnh Lạc thái hậu chợt băng, mọi người cảm thương. đạo lí tam cương, phép thường trời đất mà lại thiếu sót, đấy là tội lớn vậy. Trần Lưu Vương tên là Hiệp, đức hạnh cao đẹp, khuôn phép chuẩn mực, dưới yên trên vui, có đức của vua Nghiêu, để tang đau buồn, nói chẳng sai sót, tính khí khảng khái, có tính của Chu Thành Vương. Tiếng hay danh đẹp, thiên hạ nghe biết, nên nối nghiệp lớn, thống lĩnh thiên hạ, đáng để giữ tông miếu. Nay phế Hoàng đế làm Hoằng Nông Vương. Hoàng thái hậu trao chính sự". Quan Thượng thư đọc lệnh xong, bầy tôi chẳng ai dám nói, Thượng thư Đinh Cung nói: "Trời gây họa nhà Hán, tang loạn càng nhiều. Ngày xưa Sái Trọng phế Hốt lập Đột, kinh Xuân thu khen sự quyền biến ấy. Ngày nay đại thần nên bày kế giúp xã tắc, hóa hợp trời người, xin xưng 'vạn tuế'". Trác vì Thái hậu bị phế, cho nên công khanh trở xuống không mặc triều phục, lúc táng, mặc áo trắng mà thôi.
Trác chuyển làm Tướng quốc, phong Mi Hầu, bái chẳng xưng tên, đeo kiếm lên điện, lại phong mẹ Trác làm Trì Dương Quân, đặt các quan Lệnh, Thừa ở nhà. Trác đã lĩnh quân tinh nhuệ đến, gặp lúc nhà vua loạn lạc, bèn chuyên quyền phế lập, chiếm lấy binh giáp kho tàng, vật báu của nhà nước, oai động thiên hạ. Trác tính tàn ác bất nhân, bèn dùng hình phạt uy hiếp mọi người, hiềm khích nhỏ nhoi cũng báo thù, mọi người không tự giữ được mình.
Ngụy thư chép: Ý muốn của Trác không cùng, bảo tân khách rằng: "Ta tôn quý không ai hơn".
Anh hùng kí chép: Trác muốn ra oai, Thị ngự sử Nhiễu Long Tông đến chỗ Trác bẩm việc, không cởi kiếm, liền đánh giết người ấy, kinh sư kinh động. Phát quan của Hà Miêu, đem thây ra, rút đốt xương ném ở bên đường. Lại bắt mẹ của Miêu là Vũ Dương Quân mà giết đi, phơi thây ở trong lá khô giữa vườn, không cho thu liệm.
Từng sai quân đến Dương Thành, bấy giờ vào tháng hai tế thần xã, dân đều ở dưới miếu tế, liền chém đầu con trai trong hội, chất lên xe bò, chở đàn bà của cải ấy, lấy đầu mà mình chém treo ở trục càng xe, kéo đi về Lạc Dương, nói là đánh giặc bắt được, xưng 'vạn tuế'; vào cửa thành Khai Dương, đốt cháy đầu ấy, đem đàn bà cho binh lính làm tì thiếp; còn gian loạn với công chúa cung nhân. Người này hung nghịch như thế.
Lúc đầu, Trác tin dùng bọn Thượng thư Chu Bí, Thành môn hiệu úy Ngũ Quỳnh, dùng người mà họ tiến cử là bọn Hàn Phức, Lưu Đại, Khổng Trụ, Trương Tư, Trương Mạc, cho ra giữ các châu quận. Nhưng bọn Phức đến phủ quan đều hợp binh tướng để đánh Trác. Trác nghe tin, cho là bọn Bí, Quỳnh thông mưu hại mình, đều chém đi.
Anh hùng kí chép: Bí tự Trọng Viễn, người quận Vũ Uy, Quỳnh tự Đức Du, người quận Nhữ Nam.
Hậu Hán thư của Tạ Thừa chép: Ngũ Phu tự Đức Du, thủa trẻ có khí tiết cao đẹp, làm Môn hạ thư tá trong quận. Viên ấp trưởng của Phu có tội, quan Thái thú sai Phu truyền lệnh đòi quan Đốc bưu bắt lấy, Phu không chịu nhận lệnh, nép xuống đất ngẩng đầu can ngăn rằng: "Vua dẫu không ra vua nhưng tôi không thể không là tôi, minh phủ sao lại sai Phu truyền lệnh sai người ngoài bắt viên ấp trưởng của mình? Xin hãy sai người khác". Thái thú thấy lạ mà nghe theo. Sau đó Đại tướng quân Hà Tiến gọi làm Đông tào duyện, dần dần chuyển làm Thị trung, Hà Nam Doãn, Việt kị hiệu úy. Đổng Trác làm loạn, trăm quan run sợ. Phu mặc áo giáp nhỏ, lúc chầu đeo kẹp thanh đạo trong áo mà gặp Trác, muốn đợi lúc thuận tiện thì đâm giết hắn. Nói xong đi ra, Trác tiễn đến giữa cửa, Phu nhân đấy lấy đao ra đâm hắn. Trác sức khỏe, lùi lại không bị trúng, liền bắt lấy Phu. Trác nói: "Khanh muốn phản chăng"? Phu lớn tiếng nói: "Mi không phải là vua của ta, ta cũng chẳng phải là tôi của mi, sao lại có phản? Mi loạn nước cướp vua, tội lớn ác nặng. Nay là ngày ta chết cho nên đến giết thằng giặc gian vậy, chỉ hận không được lấy xe phanh thây mi ở phố chợ để tạ thiên hạ". Bèn giết Phu.
Tạ Thừa chép tên tự và quận gốc của Phu thì giống với Quỳnh, nhưng việc bị giết chết khác với Phu, không biết Phu là tên khác của Quỳnh hay là có Ngũ Phu khác? Đại khái không rõ vậy.
Hà Nội Thái thú Vương Khuông sai quân của quận Thái Sơn đóng quân ở bến Hà Dương muốn để mưu đánh Trác. Trác sai nghi binh như muốn vượt bến Bình Âm, lại ngầm sai quân tinh nhuệ từ bến Tiểu Bình vượt sang bờ bắc, vây đánh phía sau, đại phá quân ấy ở phía bắc bến, người chết gần hết. Trác vì hào kiệt miền Sơn Đông cùng nổi dậy, do đó lo sợ không yên. Tháng hai năm Sơ Bình thứ nhất, bèn dời Thiên tử đến đóng đô ở Tràng An, đốt cháy cung thất ở Lạc Dương, đào bới hết lăng mộ, lấy vật báu.
Hán thư của Hoa Kiệu chép: Trác muốn chuyển đến Tràng An, gọi các công khanh trở xuống hội bàn. Tư đồ Dương Bưu nói: "Ngày xưa Bàn Canh(5) năm lần dời đô, người nhà Ân oán thán, cho nên chép ba bài văn để cho dân trong thiên hạ hiểu rõ. Ngày nay cả nước yên ổn, không cớ gì mà dời đô, chỉ sợ trăm họ kinh động, đấy là 'nai hất tổ kiến'(6) gây loạn vậy". Trác nói: "Miền Quan Trung màu mỡ cho nên nhà Tần nuốt chiếm được sáu nước. Nay dời đô sang miền tây, lúc ấy nếu hào kiệt miền Quan Đông dám phát động thì ta lấy quân mạnh ở đấy để đánh chúng, có thể đẩy họ về phía bờ biển". Bưu nói: "Cả nước phát động rất dễ, yên ổn rất khó. Vả lại cung thất ở Tràng An đã vỡ nát, khó mà dùng lại được". Trác nói: "Vũ Đế thời xưa trú dưới núi Nam Sơn ở huyện Đỗ Lăng, có sẵn mấy chục cái lò sành ở đấy, nếu đem gỗ cây ở Lương Châu sang phía đông để dựng cung thất thì làm không khó". Trác nghĩ khó được, lại ra vẻ nói: "Ông muốn cản kế của ta chăng? Biên Chương, Hàn Ước có gửi thư đến muốn xin triều đình nên dời đô. Nếu đại quân bên ấy đến đây, ta không thể lại cứu nhau, ông lại có thể cùng họ Viên đi về phía tây". Bưu nói: "Miền tây thì tự Bưu đi được vậy, nhưng ngoảnh xem chưa biết ý thiên hạ ra sao"! Bàn xong, Trác sai Tư lệ hiệu úy Tuyên Phiên vu vạ xét tội, do đó lệnh bãi chức Bưu.
Tục Hán thư chép: Thái úy Hoàng Uyển, Tư đồ Dương Bưu, Tư không Tuân Sảng đều đến chỗ Trác, Trác nói: "Ngày xưa Cao Tổ đóng đô ở miền Quan Trung, sau mười một đời lại trung hưng, chuyển đóng đô ở Lạc Dương. Từ thời Quang Vũ đến nay lại có mười một đời, xét lời sấm 'thạch bao thất', nên lại đóng đô ở Tràng An". Người ngồi đều kinh ngạc, không ai dám nói. Bưu nói: "Dời đô đổi luật là việc lớn của thiên hạ, đều nên nghe theo ý dân, tùy vào lúc vừa hợp. Ngày xưa Bàn Canh năm lần dời đô, dân nhà Ân oán thán, cho nên chép ba bài văn để cho dân trong họ hiểu rõ. Ngày trước Vương Mãng soán nghịch, làm loạn phép thường, vào thời quân Xích mi của Cánh Thủy thiêu đốt Tràng An, tàn hại trăm họ, dân chúng lìa tan, trăm chẳng còn một. Quang Vũ nhận mệnh, chuyển đô về ở Lạc Dương, đấy là điều vừa hợp vậy. Ngày nay dựng lập vua sáng, soi rõ nhà Hán, vậy mà vô cớ phá vỡ cung thất, vứt bỏ vườn lăng, sợ rằng trăm họ kinh động, không hiểu được ý này, tất gây loạn 'nai hất tổ kiến'. Lời sấm 'thạch bao thất' là lời yêu tà, há đáng tin sao"? Trác ra vẻ nói: "Dương Công muốn cản kế giúp nhà nước chăng? Miền Quan Đông đang loạn, giặc nổi lên ở đấy. Hào Hàm(7) vững hiểm, là chỗ phòng giữ của nhà nước, lại có gỗ cây ở miền Lũng Hữu, làm được chẳng khó. Dưới núi Nam Sơn ở huyện Đỗ Lăng cò lò gốm cũ của Hiếu Vũ Đế, một sớm làm ngói là được. Cung thất phủ quan thì có gì đáng kể! Trăm họ là dân nhỏ, sao đáng bàn đến! Nếu có địch đến thì ta lấy đại quân ở đấy đuổi chúng, chúng há được tự tiện"! Trăm quan sợ hãi thất sắc. Uyển bảo Trác rằng: "Đấy là việc lớn, lời của Dương Công, đáng không nghĩ kĩ"! Trác bãi hội, liền hôm đó sai Tư lệ hiệu úy tấu hặc Bưu và Uyển, đều bãi quan. Xa giá sang miền tây. Trác sai quân đốt mặt ngoài thành Lạc Dương cả trăm dặm. Lại tự đem quân đốt cung thất, kho phủ, nhà dân và tông miếu ở nam bắc, khiến cho trong thành đất đai sạch nhẵn. Lại bắt lấy các nhà giàu, kể tội ác mà thu hết tài vật của họ; kẻ vô tội mà bị giết chết không thể kể hết. Hiến Đế kỉ chép: Trác bắt được quân sĩ miền Sơn Đông, lấy mỡ heo bôi lên mười tấm vải dùng để quấn thân họ rồi đốt cháy, trước đốt từ chân lên. Bắt được Dự Châu Tòng sự Lí Diên của Viên Thiệu, nấu giết Diên. Có thằng người Hồ mà Trác tin yêu, cậy sủng mà phóng túng, bị Tư lệ hiệu úy Triệu Khiêm giết chết, Trác cả giận nói: "Ta thích chó mà vẫn không muốn để người khác quát nó, huống chi là người đây"! Bèn gọi Tư lệ đô quan đi đánh giết Khiêm.
Trác đến tây kinh(8), làm Thái sư, hiệu là Thượng Phủ. Cưỡi xe gắn hoa vàng lọng xanh, vẽ hình hai bên, người thời ấy gọi là xe 'can ma'.
Ngụy thư chép: Ý nói là ép thiên tử vậy.
Hiến Đế kỉ chép: Trác đã làm Thái sư, lại muốn xưng là Thượng Phủ, đem việc hỏi Sái Ung, Ung nói: "Ngày xưa Vũ Vương nhận mệnh, Thái Công làm thầy giúp đỡ nhà Chu để đánh kẻ vô đạo, cho nên thiên hạ tôn kính, xưng là Thượng Phủ. Nay ngài công đức cao vời, nên tạm đợi lúc miền Quan Đông yên xong, xa giá về miền đông rồi mới bàn". Bèn thôi. Kinh sư động đất, Trác lại hỏi Ung, Ung đáp rằng: "Động đất là khí âm đầy, do đại thần chuyên quyền mới như thế. Ngài cưỡi xe che lọng xanh, xa gần cho là không nên". Trác nghe theo, đổi cưỡi xe trùm vải đen gắn hoa vàng.
Em Trác là Mân làm Tả tướng quân, phong Hộ Hầu; con của anh là Hoàng làm Thị trung Trung quân hiệu úy lĩnh quân sĩ; họ hàng trong ngoài đều đến ở triều đình.
Anh hùng kí chép: Vợ lẽ của Trác bồng bế con nhỏ trong vòng tay, đều được phong Hầu, cho dây thao vàng mà chơi. Có cháu gái tên là Bạch, bấy giờ còn chưa đến tuổi cài trâm, phong làm Vị Dương Quân. Dựng một cái đài ở phía đông thành huyện Mi, dài rộng hơn hai trượng, cao năm, sáu thước, sai Bạch ngồi xe lọng xanh gắn hoa vàng, các quan ân lộc nghìn thạch như Đô úy, Trung lang tướng, Thứ sử ở tại huyện Mi, đều sai ngồi xe cầm bút, dẫn dạy cho Bạch; ở trên đài, sai con của anh là Hoàng làm sứ giả trao cho ấn thao.
Công khanh gặp Trác, quỳ bái dưới xe, Trác chẳng theo lễ. Kêu gọi quan Thượng thư ở ba phủ trở xuống tự đến phủ của Trác bẩm việc.
Sơn Âm Công tái kí chép: Lúc trước Trác làm Tiền tướng quân, Hoàng Phủ Tung làm Tả tướng quân, cùng đánh Hàn Toại, đều chẳng hợp nhau. Sau đó Trác được gọi đến làm Thiếu phủ, Tinh Châu Mục, lệnh đem quân thuộc vào Tung, Trác cả giận. Đến khi làm Thái sư, Tung làm Ngự sử trung thừa, bái ở dưới xe. Trác hỏi Tung rằng: "Nghĩa Chân chịu phục chưa"? Tung nói: "Sao biết minh công lại làm đến thế"! Trác nói: "Hồng hộc vốn có chí xa, chỉ là chin én không biết được thôi". Tung nói: "Ngày xưa ta cùng với minh công làm hồng hộc, không ngờ ngày nay minh công đã biến thành phượng hoàng rồi". Trác cười nói: "Khanh đã phục, hôm nay không cần bái ta".
Hán kỉ của Trương Phan chép: Trác chống tay bảo Hoàng Phủ Tung rằng: "Nghĩa Chân có sợ không"? Tung đáp nói: "Minh công tỏ đức giúp triều đình, việc vui đang đến, sao lại sợ chứ? Nếu bày đặt hình pháp nặng nề thì thiên hạ đều sợ, há chỉ Tung thôi sao"? Trác lặng im, bèn hòa thuận với Tung.
Đắp lũy ở huyện Mi cao ngang với tường thành Tràng An, chứa lúa đủ dùng được ba mươi năm,
Anh hùng kí chép: Huyện Mi cách thành Tràng An hai trăm sáu mươi dặm.
nói là việc xong thì hùng cứ thiên hạ, không xong thì giữ ở đấy cũng đủ để hưởng tuổi già. Thường đến huyện Mi đi xem lũy, các công khanh trở xuống cúng tế ở ngoài cửa Hoành Môn. Hoành, đọc là 'quang'. Trác bày đặt màn trướng uống rượu, dụ hàng mấy trăm tên phản nghịch ở quận Bắc Địa, cho ngồi ở trong rồi cắt lưỡi của họ, hoặc chặt tay chân, hoặc đục mắt, hoặc nấu chín họ, nếu chưa chết thì xếp chuyển vào giữa bàn cốc, người ngồi đều run rẩy làm rơi cả muỗm đũa mà Trác vẫn ăn uống như thường. Quan Thái sử xem khí, nói là sắp có đại thần bị giết. Thái úy Trương Ôn bấy giờ làm Vệ úy, vốn không thân với Trác, ý Trác giận Ôn, nhân lúc thiên hạ có biến, muốn đổ lỗi cho Ôn, sai người truyền là Ôn qua lại với Viên Thuật, bèn đánh giết Ôn.
Phó Tử nói: "Vào thời Linh Đế treo lệnh ngoài cửa là bán chức quan, do đó bọn Thái úy Đoàn Quýnh, Tư đồ Thôi Liệt, Thái úy Phàn Lăng, Tư không Trương Ôn đều đưa tiền đến, nhiều thì nghìn vạn, ít thì năm trăm vạn để mua vị Tam công. Quýnh nhiều lần đánh dẹp lập công to, Liệt có tiếng nổi ở miền bắc, Ôn có tài cán, Lăng biết thời thế, đều là kẻ sĩ nổi danh một thời, nhưng vẫn dùng tiền mua chức quan, huống chi là bọn Lưu Hiêu, Đường Trân, Trương Hạo đây"!
Phong tục thông chép: Tư lệ Lưu Hiêu vì kết đảng với các quan Thường thị mới được vị Công phụ.
Tục Hán thư chép: Đường Trân là em của Trung thường thị Đường Hành. Trương Hạo là em của Trung thường thị Trương Phụng.
Pháp lệnh khắc nghiệt, ưa hình phạt nặng, lại vu vạ nhau, có đến mấy nghìn người chết oan. Trăm họ nỉ non, đi đường chỉ dám liếc mắt.
Ngụy thư chép: Trác sai Tư lệ hiệu úy Lưu Hiêu bắt lấy quan dân nào làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, làm quan không sạch, làm em không thuận, nếu đúng thế đều bị giết, thu tài vật vào sở quan. Do đó yêu ghét lẫn nhau, dân phần nhiều chết oan.
Phá vỡ hết tượng người đồng, chuông khánh cùng tiền ngũ thù(9). Lại đúc thành tiền nhỏ, lớn chỉ năm phân, không khắc chữ, không đục lỗ xâu chuỗi, không mài dũa. Do đó tiền rẻ mà hàng đắt, một hộc lúa đến mấy chục vạn tiền. Từ đấy tiền hàng chẳng thông.
Tháng tư năm thứ ba, Tư đồ Vương Doãn, Thượng thư bộc xạ Sĩ Tôn Thụy, tướng của Trác là Lữ Bố cùng mưu giết Trác. Bấy giờ thiên tử mắc bệnh mới khỏi, mở hội lớn ở điện Vị Ương. Bố sai người cùng quận là bọn Kị đô úy Lí Túc đem hơn mười quân sĩ thân thuộc giả mặc áo vệ sĩ giữ ở cung bên. Bố mang chiếu thư đi. Trác đến, bọn Túc chặn Trác, Trác kinh hãi gọi Bố ở đâu, Bố nói: "Có chiếu", bèn giết Trác, diệt ba họ. Chủ bạ Điền Cảnh chạy đến bên thây Trác, Bố lại giết đi; cả thảy giết ba người, còn lại chẳng dám động.
Anh hùng kí chép: Bấy giờ có câu hát rằng: "Cỏ nghìn dặm, vẫn xanh xanh, mười ngày nữa, sẽ chẳng sống". Lại có bàt hát 'Đổng đào'. Lại có vị đạo sĩ viết lên vải chữ 'Bố' để cho Trác xem, Trác không biết đấy là chỉ Lữ Bố. Trác sắp dự hội, bày đặt quân kị bộ từ doanh đến cung, mặc triều phục đi ở giữa, ngựa dừng lại không đi, ý Trác thấy lạ muốn dừng, Bố khuyên nên đi, bèn lót thêm áo giáp mà vào. Vào lúc Trác đã chết, bấy giờ Mặt trời, Mặt trăng vằng vặc, gió lặng không thổi. Bọn Mân, Hoàng cùng họ hàng lớn bé ở cả tại huyện Mi, đều về, bị quân sĩ bắn ném chết. Mẹ Trác đã chín mươi tuổi chạy đến cửa lũy nói: "Xin tha chết cho ta". Nhưng liền bị chém đầu. Các quan lại cũ của họ Viên đổi liệm cho những người quen của họ Viên bị giết chết ở huyện Mi, lại thu nhặt thây người nhà họ Đổng đặt ở bên mà đốt đi. Phơi thây Trác ở chợ. Trác vốn béo, mỡ chảy lầy đất, đỏ cả vạt cỏ. Quan trông giữ thây Trác buổi đêm làm một cái bấc lớn, đặt giữa rốn Trác để làm đèn, cháy sáng đến sớm, như thế cả ngày. Sau đó bộ khúc cũ của Trác lấy tro cốt bị đốt đều để trong một cái quan, táng ở huyện Mi. Trong lũy của Trác có hai, ba vạn cân vàng, tám, chín vạn cân bạc, ngọc châu gấm lụa vật lạ đồ lạ đều chất thành gò đống, không thể kể hết.
Dân chúng ở thành Tràng An cùng nhau chúc mừng, những kẻ hùa theo Trác đều bị giam ngục giết chết.
Hậu Hán thư của Tạ Thừa chép: Sái Ung ngồi bên Vương Doãn, nghe tin Trác chết, có lời than tiếc. Doãn trách Ung rằng: "Trác là thằng giặc của nhà nước, giết vua hại tôi, trời đất chẳng dung tha, thần người cùng căm ghét. Ngài là tôi của vua, nhiều đời nhận ân của nhà Hán. Vua nước nguy nạn mà chẳng đánh dẹp, nay Trác bị trời phạt mà lại đau xót sao"? Bèn sai bắt giao cho quan Đình úy. Ung tạ Doãn rằng: "Hắn dẫu bất trung nhưng vẫn biết nghĩa lớn. Việc an nguy xưa nay, tai từng nghe tiếng hay, miệng thường nói lời đẹp, ta há phản nước mà theo Trác sao? Ta nói lời lầm lỡ, dẫn đến tai họa, xin phạt khắc lên đầu để còn được soạn sử nhà Hán". Công khanh tiếc tài của Ung, đều cùng can ngăn. Doãn nói: "Ngày xưa Vũ Đế không giết Tư Mã Thiên, khiến cho hắn soạn sách chê giễu, truyền cho đời sau. Ngày nay vận nước suy kém, binh mã gần bên, không nên để cho bầy tôi xằng bậy ở bên tả hữu của vua nhỏ để sau này bọn ta đều bị bêu xấu". Bèn giết Ung. Thần là Tùng Chi cho rằng: Sái Ung dẫu được Trác tin dùng nhưng tình chắc chẳng kết đảng. Há chẳng biết Trác gian ác bị thiên hạ ghét sao? Nhưng nghe tin hắn chết thì về lí không nên than tiếc. Phóng túng như thế cũng không nên nói ra ở bên cạnh Vương Doãn. Đây e là Tạ Thừa chép bậy vậy. Thái sử Thiên chép truyện có công lớn với đời, vậy mà Vương Doãn bảo là Hiếu Vũ Đế nên sớm giết Thiên, đây cũng chẳng phải là lời của người hiểu biết. Chỉ là Thiên không giấu lỗi lầm của Hiếu Vũ Đế, chép thẳng việc ấy mà thôi, sao lại bảo là chê giễu được? Cái trung chính của Vương Doãn có thể nói là không thẹn trong lòng vậy, nhưng nếu không lo bị chê thì sao lại muốn giết Ung? Nên bàn xem Ung đáng chết hay không? Có lẽ là sợ Ung chê mình mà giết uổng người tốt vậy! Đấy đều là việc rất sai lầm lại không thấu suốt. Hán kỉ của Trương Phan chép: Lúc trước, Sái Ung vì tấu việc mà bị đày, tiếng nổi thiên hạ, nghĩa lừng kẻ sĩ. Lúc về, sủng thần trong cung ghét Ung. Ung sợ, bèn trốn tránh đến miền ven biển, qua lại nương nhờ nhà họ Dương ở quận Thái Sơn. Được mười năm, Trác làm Thái úy, gọi làm Duyện thuộc, làm cho nhà cao, bái chức Thị ngự sử để sửa sách, trong ba ngày bèn làm đến chức Thượng thư. Sau đó chuyển làm Ba Đông Thái thú, Trác dâng sớ xin giữ lại làm Thị trung, đến Tràng An làm Tả trung lang tướng. Trác trọng tài Ung, đỗi đãi trọng hậu. Hễ có việc triều đình thường sai Ung soạn chép. Đến khi Doãn muốn giết Ung, kẻ sĩ thời ấy phần nhiều xin tha, Doãn hối hận muốn thôi nhưng Ung đã chết.
Khi trước, con rể Trác là Trung lang tướng Ngưu Phụ lĩnh binh đóng riêng ở huyện Thiểm, chia sai Hiệu úy Lí Thôi, Quách Dĩ, Trương Tế cướp chiếm các huyện ở quận Trần Lưu, quận Dĩnh Xuyên. Trác chết, Lữ Bố sai Lí Túc đến huyện Thiểm, muốn đem chiếu sai giết Phụ. Bọn Phụ đón đánh với Túc, Túc thua chạy về quận Hoằng Nông, Bố bèn giết Túc.
Ngụy thư chép: Phụ lo sợ chẳng giữ được mình, không tự yên được. Thường cầm giữ binh phù, nắm búa rìu ở bên cạnh, muốn để tự cố gắng. Gặp khách, sai thầy tướng xem tướng trước, biết được có ý phản hay không, lại bói xem tốt xấu rồi mới gặp khách. Trung lang tướng Đổng Việt đến chỗ Phụ, Phụ sai bói xem, được quẻ đoái ở dưới quẻ li ở trên, thầy bói nói: "Hỏa thắng kim, đây là quẻ người ngoài mưu hại người trong vậy". Liền đấy giết Việt.
Hiến Đế kỉ chép: Thầy bói thường bị Việt đánh, cho nên nhân đó mà báo oán.
Sau đó trong trại quân của Phụ có kẻ buổi đêm phản ra ngoài, quân trong trại kinh hãi, Phụ cho là quân đều phản, bèn lấy vàng ngọc đi cùng nhau với năm người vốn được mình đãi hậu là bọn Hồ Xích Nghê, trèo thành lên phía bắc qua sông, bọn Xích Nghê tham lợi vàng ngọc ấy, chém đầu Phụ đưa đến Tràng An. Kịp lúc bọn Thôi về, Phụ đã chết, quân chẳng biết dựa ai, muốn đều tan về nhà. Đã không có lệnh tha, lại nghe nói người trong thành Tràng An muốn giết sạch người Lương Châu, do đó sợ hãi không biết làm sao. Dùng kế của Giả Hủ, liền đem quân sang miền tây, thu quân ở đấy, rồi đến Tràng An, có hơn mười vạn quân,
Cửu châu xuân thu chép: Bọn Thôi tại huyện Thiểm, đều sợ hãi, vội điều binh tự giữ, Hồ Văn Tài, Dương Chỉnh Tu đều là hào súy ở miền Lương Châu, lại vốn không thân với Vương Doãn. Đến lúc Lí Thôi làm phản, Doãn bèn gọi Văn Tài, Chỉnh Tu sang phía đông nói rõ, không tỏ vẻ ôn hòa, bảo rằng: "Bầy chuột miền Quan Đông làm gì chăng? Khanh nên đến vỗ về chúng". Do đó hai người đi đến, nhưng thật ra là gọi quân rồi về.
cùng bộ khúc cũ của Trác là bọn Phàn Trù, Lí Mông, Vương Phương hợp vây thành Tràng An. Bọn Thôi thả cho quân bắt lấy già trẻ ở Tràng An, giết họ hết sạch, người chết chồng chất, phơi thây Vương Doãn ở chợ.
Hán kỉ của Trương Phan chép: Quân Bố thua, buộc ngựa ở ngoài cửa Thanh Tỏa, bảo Doãn rằng: "Ngài nên đi thôi". Doãn nói: "Vỗ yên nhà nước là ý muốn của ta vậy, nếu không được thì đem thân đến chết. Vua nhỏ ở triều đình chỉ cậy vào ta mà thôi. Nếu gặp nạn mà trốn tránh thì ta không làm vậy. Ta nên gắng sức để để tỏ ý người miền Quan Đông luôn nghĩ về nhà nước". Thôi, Dĩ vào thành Tràng An, đóng quân ở cửa cung phía nam, giết Thái bộc Lỗ Quỳ, Đại hồng lư Chu Hoán, Thành môn hiệu úy Thôi Liệt, Việt kị hiệu úy Vương Kì. Quan dân bị giết chết không thể tính hết. Tư đồ Vương Doãn đưa thiên tử đến cửa thành Tuyên Bình để tránh binh, bọn Thôi ở dưới cửa thành bái, nép xuống đất rập đầu. Đế bảo bọn Thôi rằng: "Các khanh chẳng ra oai tác phúc mà lại thả quân ngang dọc, muốn làm gì chăng"? Bọn Thôi nói: "Đổng Trác trung với bệ hạ mà vô cớ bị Lữ Bố giết. Bọn thần vì Trác mà báo thù, chẳng dám phản nghịch vậy. Việc xong, xin được đến chỗ quan Đình úy chịu tội". Doãn bị ép bức gặp Thôi, Thôi giết Doãn cùng vợ con họ hàng hơn chục người. Trai gái lớn bé trong thành Tràng An chẳng ai không rơi lệ. Doãn tự Tử Sư, người huyện Kì quận Thái Nguyên. Thủa trẻ có khí tiết cao đẹp, Quách Thái gặp mà khen lạ, nói: "Vương sinh một ngày đi nghìn dặm, có tài giúp vua vậy". Thái dẫu bậc sinh trước, cũng bèn giao du. Tam công đều mời, làm Dự Châu Thứ sử. Mời Tuân Sảng, Khổng Dung làm Tòng sự, chuyển làm Hà Nam Doãn, Thượng thư lệnh. Lúc làm Tư đồ, người này dốc sức giúp đỡ nhà vua, rất có khí tiết của đại thần, từ thiên tử trở xuống đều cậy vào. Trác cũng tin dùng Doãn, trao việc triều đình. Hoa Kiệu nói: "Kẻ sĩ lấy đúng đắn mà làm việc, lập mưu mà giúp đỡ, giữ nghĩa mà thành danh. Nếu Vương Doãn trừ bỏ Đổng Trác mà chia quyền thế, đợi lúc sơ hở mà kể tội hắn thì vào lúc bấy giờ, cái nạn của thiên hạ được cởi bỏ vậy. Vốn là đều giữ được trung nghĩa vậy, cho nên trừ bỏ Trác mà không không mất đúng đắn, chia quyền mà không mất đạo nghĩa, đợi sơ hở mà không gian trá, do đó mưu kế lập thành, lại rút cuộc vẫn đúng đắn".
Táng Trác ở huyện Mi, mưa to gió lớn quật mộ Trác, nước chảy vào đầy, quan quách nổi lên. Thôi làm Xa kị tướng quân, phong Trì Dương Hầu, lĩnh chức Tư lệ hiệu úy, ban Giả tiết. Dĩ làm Hậu tướng quân, phong Mĩ Dương Hầu. Trù làm Hữu tướng quân, phong Vạn Niên Hầu. Thôi, Dĩ, Trù nắm triều chính.
Anh hùng kí chép: Thôi là người quận Bắc Địa, Dĩ là người quận Trương Dịch, còn có tên là Đa.
Tế làm Phiếu kị tướng quân, phong Bình Dương Hầu, đóng quân ở quận Hoằng Nông.
Năm đó, bọn Hàn Toại, Mã Đằng hàng, đem quân đến Tràng An; lấy Toại làm Trấn tây tướng quân, sai về Lương Châu, lấy Đằng làm Chinh tây tướng quân, đóng quân ở huyện Mi. Thị trung Mã Vũ cùng bọn Gián nghị đại phu Chủng Thiệu, Tả trung lang tướng Lưu Phạm mưu muốn sai Đằng đánh úp thành Tràng An, còn mình làm nội ứng để giết bọn Thôi. Đằng dẫn binh đến quán Trường Bình, mưu của bọn Vũ bị lộ, bèn ra trốn đến huyện Hòe Lí. Trù đánh Đằng, Đằng thua chạy về Lương Châu; lại đánh huyện Hòe Lí, bọn Vũ đều chết. Bấy giờ dân miền Tam phụ chỉ còn mấy chục vạn hộ, bọn Thôi thả quân cướp bóc, đánh diệt thành ấp, người dân đói khổ, trong vòng hai năm ăn thịt nhau gần hết.
Hiến Đế kỉ chép: Bấy giờ mới dời đô, người trong cung phần nhiều mất quần áo, Đế muốn phát lụa trong ngự phủ để ban cho họ, Lí Thôi không muốn, nói: "Trong cung có áo, sao lại còn làm nữa"? Hạ chiếu bán hơn trăm con ngựa trong chuồng, quan Ngự phủ đại tư nông đem hai vạn tấm lụa tạp cùng tiền bán ngựa trong chuồng ban cho các công khanh trở xuống và dân nghèo không thể tự nuôi sống. Lí Thôi nói: "Các đồ cất chứa của ta còn ít". Bèn chở cả đặt ở doanh, Giả Hủ nói: "Đấy là ý vua, không nên chống". Thôi không nghe theo.
Các tướng tranh quyền, bèn giết Trù, thu lấy quân của hắn.
Cửu châu xuân thu chép: Mã Đằng, Hàn Toại thua trận, Phàn Trù đuổi đến huyện Trần Thương. Toại bảo Trù rằng: "Trời đất nghiêng ngả, chưa biết ra làm sao. Những người tranh giành không phải vì thù riêng, mà là vì việc của nhà vua vậy. Ta với túc hạ là người trong châu, nay dẫu có chút khác ý nhưng đại khái là giống nhau. Ta muốn nói lời hay với túc hạ để từ biệt, nếu sau này lỡ có việc không như ý thì còn gặp nhau được nữa chăng"! Cùng sai quân lùi lại rồi thúc ngựa đi lên, lấy tay giao vỗ, cùng nói chuyện hồi lâu mới từ biệt. Con của anh Thôi là Lợi theo Trù, Lợi về báo cho Thôi là Hàn, Phàn cùng cưỡi ngựa nói chuyện, không biết nói gì, ý rất kín kẽ. Do đó Thôi ngờ Trù mưu riêng với Hàn Toại mà có ý khác. Trù muốn đem quân về phía đông ra khỏi cửa quan, theo Thôi đi thu thêm quân, nhân đấy mời Trù hội bàn, bèn giết Trù ở trên ghế.
Dĩ bèn ngờ nhau với Thôi, đánh ở trong thành Tràng An.
Điển lược chép: Thôi nhiều lần bày rượu mời Dĩ, có khi lưu Dĩ ở lại nghỉ. Vợ Dĩ sợ Thôi trao tì thiếp cho Dĩ mà bỏ yêu mình, bèn có ý li gián họ. Gặp lúc Thôi đem đồ ăn đến, vợ Dĩ lấy sâu trùng bỏ vào làm thuốc độc, Dĩ sắp ăn, vợ nói: "Món ăn ở ngoài đến, nếu có gì thì sao"! Rồi gắp thuốc độc ra cho xem, nói: "Một vùng không thể có hai người hùng, ta vốn ngờ cái tín của Tướng quân đối với Lí Công rồi". Hôm khác Thôi lại mời Dĩ, say sưa, Dĩ ngờ Thôi bỏ độc mình, ị phân tháo đái để giải độc, do đó bèn sinh hiềm khích, rồi đem quân đánh nhau.
Thôi giữ thiên tử ở doanh, đốt cửa thành cung điện, cướp kho phủ, thu hết xe ngựa áo quần đồ vật đặt trong nhà mình.
Hiến Đế khởi cư chú chép: Lúc đầu, Dĩ mưu đón thiên tử đến doanh của mình, buổi đêm có người trốn đến báo cho Thôi, Dĩ bèn sai con của anh là Tiêm đem mấy nghìn quân vây cung, lấy ba chiếc xe đón thiên tử. Dương Bưu nói: "Từ xưa Đế vương không ở trong nhà của tôi thần. Làm việc nên hợp ý thiên hạ, các ngài làm thế là không đúng vậy". Tiêm nói: "Tướng quân định kế rồi". Do đó thiên tử ngồi một xe, quý nhân Phục thị ngồi một xe, Giả Hủ, Tả Linh ngồi một xe, người còn lại đều đi bộ theo. Hôm ấy, Tiêm lại đem xe kiệu đến phía bắc lũy, sai quan Hiệu úy coi xét cổng lũy, trong ngoài ngăn cách. Các quan Thị trung đều có vẻ đói, bấy giờ trời lại nóng nực, lòng người đau đáu. Đế xin năm hộc gạo, năm cái xương bò để ban cho tả hữu, Thôi nói: "Đưa thức ăn cho vua, sao lại dùng gạo"? Bèn trao cho xương bò nát, đều thối không ăn được. Đế cả giận, muốn trách hỏi Thôi. Thị trung Dương Kì ngăn việc ấy nói: "Thôi là người biên giới, học theo thói rợ, nay lại biết mình phạm tội trái nghịch, thường có vẻ tức giận, muốn đem xa giá đến thành Hoàng Bạch để xoa dịu ý giận của mình. Thần mong bệ hạ nhẫn nhịn, chưa nên nêu rõ tội của hắn". Đế nghe lời. Lúc trước, Thôi đóng quân ở thành Hoàng Bạch, cho nên mưu muốn dời đến đấy. Thôi vì Tư đồ Triệu Ôn không cùng ý với mình, bèn giữ Ôn ở trong lũy. Ôn nghe tin Thôi muốn dời xe kiệu, gửi thư cho Thôi rằng: "Ngài lúc trước mượn cớ vì Đổng Trác báo thù, nhưng thực là đánh phá đô thành của nhà vua, giết hại đại thần, thiên hạ không ai bảo ai mà tự biết như vậy. Nay vì cái giận nhỏ mà tranh giành để tạo nên cái oán nghìn cân, dân chúng lầy đất, đều chẳng sống yên. Vậy mà không tỉnh ngộ, tạo thành loạn họa. Triều đình vẫn hạ chiếu muốn sai hòa giải, cũng không vâng lệnh, ân trạch ngày một giảm, lại còn muốn dời xe kiệu đến thành Hoàng Bạch, đấy là điều mà lão phu không hiểu. Theo kinh Dịch thì một lỗi cũng là lỗi, còn phạm nữa, ba lần mà chẳng đổi thì bị chém đầu, đấy là xấu. Không bằng sớm cùng hòa giải, dẫn quân về trại, trên yên nhà nước, dưới toàn mạng dân, há chẳng tốt sao"! Thôi cả giận, muốn sai người hại Ôn. Em họ Thôi là Ứng là quan Duyện thuộc cũ của Ôn can ngăn mấy ngày mới thôi. Đế nghe tin Ôn gửi thư cho Thôi, hỏi Thị trung Thường Hiệp rằng: "Thôi không biết tốt xấu, Ôn nói thẳng thắn, khiến cho ngươi ta đau đáu". Đáp nói "Lí Ứng đã giải thích rồi". Đế mới vui.
Thôi sai công khanh đến chỗ Dĩ xin hòa, Dĩ đều bắt giữ họ.
Hán thư của Hoa Kiệu chép: Dĩ mời tiệc công khanh, bàn muốn đánh Thôi. Dương Bưu nói: "Bầy tôi đánh nhau, một người cướp thiên tử, một người bắt công khanh, đấy là việc đáng làm sao"? Dĩ giận, muốn lấy đao đâm Bưu, Trung lang tướng Dương Bí cùng tả hữu can ngăn, Dĩ mới thả cho về.
Đánh lẫn nhau nhiều tháng, chết đến mấy vạn người.
Hiến Đế khởi cư chú chép: Thôi tính ưa thuật quỷ quái kì lạ, thường có đạo sĩ cùng thầy mo đánh trống hát đọc tế thần, cúng tế lục đinh, làm các đồ bùa chú yểm, không gì không làm. Lại ở ngoài cửa phủ triều đình, vì Đổng Trác mà làm thần tọa, nhiều lần lấy trâu dê cúng tế, tế xong, đi qua phủ gác hỏi tin tức, xin vào gặp. Thôi đeo ba thanh đao, tay lại cầm roi và năm một con dao. Các quan Thị trung, Thị lang thấy Thôi cầm vũ khí đều lo sợ, cũng đeo kiếm cầm đao vào ở bên Đế trước. Thôi đáp Đế, hoặc nói là "Bệ hạ sáng suốt", hoặc nói là "Hoàng đế sáng suốt", nói với Đế là Quách Dĩ không có lễ nghi, Đế cũng theo ý Thôi mà đáp lại. Thôi mừng, lại nói: "Bệ hạ sáng suốt thật là vua hiền thánh". Ý rất tự tin, tự cho là mình giỏi làm cho thiên tử vui lòng. Dẫu vậy, vẫn không muốn cận thần đeo kiếm ở bên Đế, bảo người ta rằng: "Bọn chúng nó sắp muốn hại ta hay sao mà đều cầm đao như thế"? Thị trung Lí Trinh là người trong châu với Thôi, vốn qua lại với Thôi, bảo Thôi rằng: "Họ cầm đao là vì trong quân không thể không làm như thế, đấy là việc cũ của nhà nước". Thôi mới hiểu ra. Thiên tử thấy Yết giả bộc xạ Hoàng Phủ Lịch là họ lớn ở Lương Châu, có tài đối đáp, sai đi khuyên Thôi, Di giải hòa. Lịch đến chỗ Dĩ trước, Dĩ nhận chiếu mệnh. Đến chỗ Thôi, Thôi không chịu vâng, nói: "Ta có công đánh Lữ Bố, phụ chính bốn năm, miền Tam phụ yên bình, đấy là điều mà thiên hạ biết vậy. Quách Đa chỉ là tên trộm ngựa, sao dám muốn sánh với chúng ta? Ta phải giết hắn. Ông là người Lương Châu, xem kế sách và quân sĩ của ta, đủ ép được Đa không? Đa lại cướp các công khanh làm tin, hắn làm như thế mà ông muốn mưu lợi cho Quách Đa sao? Lí Thôi này có gan cũng biết được vậy". Lịch đáp nói: "Ngày xưa người họ Hữu Cùng là Hậu Nghệ cậy vào tài bắn cung, không nghĩ ngừa họa hại, do đó dẫn đến diệt vong. Gần đây Đổng Công cường mạnh, là điều tự mắt tướng quân nhìn thấy, nhưng trong có Vương Công mưu làm nội ứng(10), ngoài có Đổng Mân, Đổng Thừa, Đổng Hoàng gây độc hại, Lữ Bố chịu ân mà cũng phản nghịch, trong khoảng chốc lát bị treo đầu ở cây sào, đấy là có dũng mà chẳng có mưu vậy. Nay tướng quân thân làm Thượng tướng, cầm phủ việt giữ cờ tiết, con cháu đều nắm quyền, họ hàng cậy sủng ái, nhà nước ban tước cao thì đều nhận lấy. Nay Quách Đa cướp công khanh làm tin, tướng quân lại hiếp bậc chí tôn, tội ai là nặng ai là nhẹ đây? Trương Tế cùng Quách Đa, Quách Định có mưu lại được bọn cướp theo phục. Dương Phụng là tướng của giặc Bạch ba còn biết rằng việc mà tướng quân làm là không phải. Tướng quân dẫu sủng ái họ nhưng họ vẫn không chịu dốc hết sức vậy". Thôi không nghe lời Lịch lại mắng đuổi Lịch ra ngoài. Lịch ra, đến cửa cung, bẩm việc Thôi không chịu vâng lệnh, lời lẽ không kính thuận. Thị trung Hồ Mạc được Thôi tin yêu, gọi người tuyên chiếu sửa thêm lời văn, lại bảo Lịch rằng: "Lí tướng quân đối với ngài không bạc, lại nữa Hoàng Phủ Công được làm Thái úy là do sức của Lí tướng quân vậy". Lịch đáp nói: "Hồ Kính Tài ngài là quan lại trong cung, là tôi thần phụ chính mà nói lời như thế, há nghe được sao"? Mạc nói: "Nghĩ ngài làm trái ý Lí tướng quân, sợ không dễ đâu! Ta với ngài thì làm được gì"? Lịch nói: "Ta nhiều đời chịu ân, thân lại thường ở tại màn trướng, vua nhục thì tôi chết, ta phải giúp nhà nước, nếu bị Lí tướng quân giết thì đấy là mệnh trời vậy". Thiên tử nghe tin Lịch đáp nói thẳng thắn, sợ Thôi nghe thấy, bèn sai Lịch về. Lịch nhanh ra khỏi doanh, Thôi sai lính hổ bôn là Vương Xương gọi lại. Xương biết Lịch trung trinh, thả sai đi, về báo Thôi, nói là đuổi theo không kịp. Thiên tử sai Tả trung lang tướng Lí Cố cầm cờ tiết đến bái Thôi làm Đại tư mã, ngang hàng vị Tam công. Thôi tự cho là được quỷ thần giúp sức, bèn đãi hậu các thầy mo.
Tướng của Thôi là Dương Phụng cùng quân lại của Thôi là bọn Tống Quả mưu giết Thôi, việc lộ, bèn đem quân phản Thôi. Quân của Thôi cũng phản, dần dần suy yếu. Trương Tế từ huyện Thiểm đến hòa giải, thiên tử bèn được ra, đến giữa vùng huyện Tân Phong, Bá Lăng.
Hiến Đế khởi cư chú chép: Lúc đầu, thiên tử ra đến cửa Tuyên Bình, sắp qua cầu, có mấy trăm quân của Dĩ đợi ở giữa cầu hỏi rằng: "Là thiên tử đấy sao"? Xe không đi được. Mấy trăm quân của Thôi đêu cầm kích lớn đang ngồi ở tả hữu xe kiệu, Thị trung Lưu Ngải hô lớn nói: "Là thiên tử vậy". Sai Thị trung Dương Kì giương màn xe. Đế bảo các quân rằng: "Các ngươi không lui, dám đến gần bậc chí tôn sao"? Quân của Dĩ bèn lui. Đã qua cầu, quân sĩ đèu hô "vạn tuế".
Quách Dĩ lại muốn ép thiên tử về đóng đô ở huyện Mi. Thiên tử đến trại của Phụng, Phụng đánh phá Dĩ. Dĩ chạy đến núi Nam Sơn, Phụng cùng tướng quân Đổng Thừa đem thiên tử về Lạc Dương. Thôi, Dĩ lấn ép thiên tử, lại hòa thuận nhau, đuổi kịp thiên tử ở huyện Tào Dương thuộc quận Hoằng Nông. Phụng vội gọi tướng giặc Bạch ba trước ở quận Hà Đông là bọn Hàn Tiêm, Hồ Tài, Lí Lạc hội hợp, đánh lớn với Thôi, Dĩ. Quân của Phụng thua, bọn Thôi thả quân giết trăm quan công khanh, bắt người trong cung vào quận Hoằng Nông.
Hiến Đế kỉ chép: Bấy giờ Thượng thư lệnh Sĩ Tôn Thụy bị quân loạn giết chết.
Tam phụ quyết lục chú chép: Thụy tự Quân Vinh, người quận Phù Phong, nhiều đời là nhà có học thức. Thụy thủa trẻ giữ nghiệp nhà, xem rộng không gì không thông, làm qua các chức cao. Trác đã chết, chuyển làm Đại tư nông, là bậc Tam lão của nhà nước. Hễ tam công vắng, Thụy thường tại trong bọn đó. Bọn Thái úy Chu Trung, Hoàng Phủ Tung, Tư đồ Thuần Vu Gia, Triệu Ôn, Tư không Dương Bưu, Trương Hỉ làm công khanh đều nhún nhường Thụy. Thiên tử đóng đô ở đất Hứa, truy xét công của Thụy, phong con là Manh làm Đạm Tân Đình Hầu. Manh tự Văn Thủy, cũng có tài học, thân với Vương Xán. Lúc sắp đến ấp, Xán làm thơ tặng Manh, Manh làm đáp lại, chép tại Xán tập.
Thiên tử chạy đến huyện Thiểm, lên phía bắc vượt sông, mất đồ xe nặng, phải đi bộ, chỉ còn Hoàng hậu, quý nhân đi theo, đến huyện Đại Dương, dừng lại trong nhà người dân.
Hiến Đế kỉ chép: Lúc đầu, người bàn muốn đem thiên tử qua sông sang miền đông, Thái úy Dương Bưu nói: "Thần là người quận Hoằng Nông, biết rằng đi từ đây sang đông có ba mươi sáu bến sông, không phải là chỗ mà nhà vua nên đến vậy". Lưu Ngải nói: "Lúc trước thần làm Thiểm Lệnh, biết được huyện này hiểm trở, có quân còn bị ngã ngửa, huống chi là nay không có quân, Thái úy nói đúng đấy". Bèn thôi. Lúc sắp vượt sông lên phía bắc, sai Lí Lạc sắm thuyền. Thiên tử đi bộ đến bờ sông, bờ cao không xuống được sông, bọn Đổng Thừa nghĩ muốn lấy dây ngựa buộc eo Để đưa xuống. Bấy giờ Trung quan bộc Phục Đức đỡ các quan Thị trung, một tay cầm mười bó lụa, bèn lấy lụa của Đức nối liền làm võng xe. Hành quân hiệu úy Thượng Hoằng sức khỏe, sai Hoằng xuống trước cõng Đế, bèn xuống được vào thuyền. Rất nhiều người còn lại không qua được, lại đưa thuyền đến đón những người không qua được sông, đều tranh níu thuyền, người trên thuyền lấy đao chặt đứt ngón tay của họ, tay trong thuyền chất đầy.
Bọn Phụng, Tiêm bèn đưa thiên tử đến đóng đô ở huyện An Ấp, vua ngồi xe bò, cận thần là mười người bọn Thái úy Dương Bưu, Thái bộc Hàn Dung đi theo. Lấy Tiêm làm Chinh đông tướng quân, Tài làm Chinh tây tướng quân, Lạc làm Chinh bắc tướng quân, cùng với Phụng, Thừa nắm việc. Sai Dung đến Hoằng Nông liên hòa với bọn Thôi, Dĩ, trao lại cung nhân công khanh trăm quan cùng xe kiệu ngựa cưỡi mà họ cướp. Bấy giờ châu chấu nổi lên, trời hạn lúa không mọc, quan lại đi theo phải ăn rau quả.
Ngụy thư chép: Lúc ngồi kiệu đến trong bờ rào gai, cửa doanh không đóng chốt, thiên tử hội với bầy tôi, quân sĩ đứng trên bờ rào mà xem, chen chúc lẫn nhau xem mà cười. Các tướng chuyên quyền, có kẻ tự ý giết quan Thượng thư; quan Tư lệ hiệu úy ra vào, quân dân cũng ngăn chặn. Các tướng hoặc sai hầu gái đến phủ gác, hoặc tự mang rượu uống, nhiều hơn cả thiên tử, quan Thị trung không vào được, kêu quát mắng nhiếc, cũng không ngăn được. Rồi lại mời gọi dân quanh trại làm bộ khúc, đòi họ trao tài vật. Thầy thuốc, lính bộ đều được làm Hiệu úy, Ngự sử, khắc ấn không được, lại lấy dùi vẽ cho có chữ khắc, có việc không theo phép thường như thế.
Các tướng không hòa thuận với nhau, trên dưới rối loạn, lương ăn cũng hết. Phụng, Tiêm, Thừa bèn đem thiên tử về Lạc Dương. Ra khỏi cửa Ki Quan, đến đình Chỉ Đạo, Trương Dương đem lương thực đón ở bên đường, được bái làm Đại tư mã, chép tại Trương Dương truyện. Thiên tử vào Lạc Dương, cung thất cháy cả, đường phố hoang vắng, trăm quan mặc vải gai, ở dựa nơi tường gò. Châu quận đều dấy binh tự giữ, chẳng có ai đến. Đói khổ cùng cực, từ quan Thượng thư trở xuống phải tự đi hái nhặt, có người đói chết ở tường vách.
Thái Tổ bèn đón thiên tử đến đóng đô ở đất Hứa. Tiêm, Phụng không chịu vâng phép vua, đều bỏ ra, cướp miền Từ Châu, Dương Châu, bị Lưu Bị giết.
Anh hùng kí chép: Bị dụ Phụng cùng gặp nhau, nhân lúc ngồi mà bắt lấy. Tiêm mất Phụng bèn thế cô, lúc ấy muốn chạy về Kinh Châu, bị tướng giữ đồn Trữ Thu là Trương Tuyên chặn giết.
Đổng Thừa theo Thái Tổ hơn một năm, bị giết. Năm Kiến An thứ hai, sai Yết giả bộc xạ Bùi Mậu lĩnh các tướng ở miền Quan Tây đánh giết Thôi, diệt ba họ.
Điển lược chép: Đầu Thôi đến, hạ chiếu treo lên cao.
Dĩ bị tướng của mình là Ngũ Tập đánh úp, chết ở huyện Mi. Tế đói khốn, đến quận Nam Dương cướp bóc, bị người huyện Nhưỡng giết, con trong họ là Tú lĩnh quân ấy. Tài, Lạc ở lại quận Hà Đông; Tài bị kẻ thù giết, Lạc bị bệnh chết. Toại, Đằng tự về Lương Châu, lại đánh nhau, sau Đằng vào làm Vệ úy, con là Siêu lĩnh bộ khúc của Đằng. Năm thứ mười sáu, Siêu và các tướng miền Quan Trung cùng bọn Toại làm phản, Thái Tổ đánh phá chúng, chép tại Vũ Đế kỉ. Toại chạy đến quận Kim Thành, bị tướng của mình giết. Siêu chiếm huyện Hán Dương, Đằng bị khép tội giết ba họ. Bọn Triệu Cù dấy nghĩa binh đánh Siêu, Siêu chạy đến quận Hán Trung theo Trương Lỗ, sau chạy đến chỗ Lưu Bị, chết ở đất Thục.
____________________
Chú thích
(1) Khương Trung: chỉ vùng đất của người Khương.
(2) Kình nghê: kình nghê là loài cá voi lớn ngoài biển. Kình là cá voi đực, nghê là cái voi cái. Chỉ kẻ địch ác mạnh.
(3) Triệu Ưởng dấy binh ở Tấn Dương: chỉ việc thời Xuân thu, nước Tấn loạn lạc, công khanh tranh quyền đoạt lợi, giết hại lẫn nhau, quan Đại phu là Triệu Ưởng bèn dấy binh ở ấp Tấn Dương mà đánh dẹp những kẻ ác bên cạnh vua.
(4) Nhà giết mổ: chỉ nhà làm nghề giết mổ súc vật bán thịt.
(5) Bàn Canh: là vị vua thứ mười sáu của nhà Thương. Nhà Thương vào thời vua Thang đóng đô ở ấp Bạc thuộc phía nam sông Hoàng Hà, sau đó nhiều đời lại chuyển lên phía bắc sông Hoàng Hà, đến thời vua Bàn Canh lại năm lần dời đô, chuyển về đô cũ thời vua Thang.
(6) 'Nai hất tổ kiến': chỉ việc con nai hất vỡ tổ kiến thì kiến bò ra rối loạn, cũng như việc dời đô thì khiến cho dân chúng nhốn nháo oán thán vậy.
(7) Hào Hàm: chỉ núi Hào và cửa Hàm Cốc, là nơi then chốt ở miền Quan Trung.
(8) Tây kinh: chỉ kinh đô phía tây, là thành Tràng An.
(9) Tiền ngũ thù: là một loại tiền làm bằng đồng định ra từ thời Hán Vũ Đế, mỗi tiền nặng năm thù, hình tròn, giữa khoan lỗ vuông, có khắc chữ 'ngũ thù' trên tiền.
(10) Trong có Vương Công mưu làm nội ứng: Vương Công là Vương Doãn, ý nói Doãn ngoài mặt phục Trác nhưng trong lòng mưu làm nội ứng để chống lại Trác.