Bài của LeVi
Phần I : Giới thiệu về rượu của nước ta
1/ CÁC LOẠI RƯỢU:
Rượu có nhiều loại, nhiều hạng, thứ nào uống nhiều cũng say dù đó ngự tửu của vua chúa, hay Mai quế lộ, ngũ gia bì hoặc đế, nếp, rượu cần... Nói chung rượu phát từ hai nhóm chính là RƯỢU LÊN MEN cất từ nước ép cú hoa quả như rượu vang, rượu cấn... và RƯỢU CHƯNG CẤT (spirits) làm từ đường mía, tinh bột, ngũ cốc, củ cải... ngoài ra còn có thứ rượu mùi đặc biệt, được pha chế từ thứ rượu cồn Etalic với đường, acid Citricque, và các hợp chất màu.
Xưa nay rượu với người như hình với bóng vì ngoài chức năng tiêu khiển, giải phá thành sầu, rượu còn được dùng trong công nghiệp, y học, các nghi thức tôn giáo, giao tế xã hội... sau hết rượu là nguồn bất tận, gây cảm hứng cho văn nghệ sỹ, giúp họ sáng tác những tác phẩm bất hủ để đời, có thể kể như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Cao bá Quát, Nguyễn công Trứ, Nguyễn Khuyến... Theo Chung Dung,Tôn văn Kỳ, Chu Quảng Ba... trong sách những toa thuốc cổ truyền danh tiếng của Trung Hoa, rượu chữa được bách bệnh, nên chữ Y (thuốc) trong Hán tự có chữ Tửu (rượu) đứng trước. Rượu giúp hành huyết, khai uất. Chính Hải Thượng Lãn Ông, đại danh y của VN cũng viết: ”rượu có chất ôn dùng để tải thuốc, uống có điều độ sẽ thông khí huyết. Uống rượu là một nghệ thuật sống mà không phải ai cũng đạt được, vì thế người Tàu đã phấn phối rành rẽ năm cách uống rượu: Độc ẩm, đối ẩm, cộng ẩm, quần ẩm và loạn ẩm. Sẵn tiền là sẵn rượu nhưng tìm được tri kỷ để đối ẩm không phải là chuyện dễ dàng:
“..tửu vô kiềm tỏa năng lưu khách,"
Nên Nguyễn Khuyến đã viết: ”Rượu ngon không có bạn hiền, không mua không phải không tiền không mua”, còn Lý Bạch thì: ”cổ lai thánh hiền giai tịch mịch, duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh” nhưng nồng nàn và đầy đủ ý nghĩa hơn hết vẫn là lời phán của văn hào Anh Fergus Hamilton Allen:”Whisky à mặt trời chiếu sáng tình bạn, là mặt trăng soi sáng tình yêu..”
10 Điểm
2/ RƯỢU TA:
Ở nước ta, các vùng cất rượu ngon nổi tiếng là làng Vân (Bắc Ninh), Nguyên Xá (Thái Bình), Trương Xá (Hưng Yên), Nga Mi (Hà Tây), Quảng Xá (Thanh Hóa), Bắc Hà (Lào Kai), Kẻ Diên (Quảng Trị), Phụng Hiệp (Cần Thơ), Gò Đen, Long Thành, Củ Chi... Các dân tộc thiểu số vùng núi có rượu cần độc đáo. Tất cả các loại trên đều được chưng cất theo phương pháp gia truyền, chứ không theo đúng các qui trình khoa học Âu Mỹ. Nhiều loại rượu đặc chế bằng gạo, dừa, nếp, đậu nành, đào, táo, lê, Rượu đế còn gọi là nước mắt quê hương,nấu bằng nếp, phát xuất từ thời Pháp thuộc, có nồng độ cao. Rượu quế chỉ dùng làm thuốc trị tì vị vì quế có nồng độ rất gắt và bán rất đắt giá. Rượu dừa chế bằng cách cấy men vào gốc dừa khi buồng dừa mới trổ và phải mất từ 6-8 tháng mới thành rượu dừa, sủi bọt nhưng ngon hơn bia. Theo khách sành điệu trong làng ve chén hiện nay, thì VN hiện có bốn loại rượu ngon nổi tiếng là rượu làng Văn xứ bắc, Kim Long ở Quảng Trị, Bàu Đá Bình Định và đế Gò Đen Nam Phần. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí viết rượu Kim Long ở Hải Lăng, Quảng Trị ngon hơn hết. Thời Pháp thuộc, thực dân chiếm hết các lò nấu rượu trong tỉnh và lập công ty rượu Xi-Ca. Khi rượu ra lò đóng vào chai, thì được đem ngâm trong hồ nước lạnh một thời gian ấn định, rồi dùng thuyền nhỏ chở rượu theo sông Vĩnh Định về Huế, lên tàu lớn chở về Pháp và từ đó xuất cảng khắp thế giới. Rượu rắn Phụng Hiệp được chế tạo tại thị trấn Phụng Hiệp còn gọi là Ngã Bảy, về phía nam tỉnh Phong Dinh, cách thành phố Cần Thơ chừng 30 km, từ xưa đã nổi tiếng về các đặc sản đồng ruộng như cá, tôm, ốc, ếch, cua, bìm bịp và nhiều nhất là rắn bày bán dọc theo quốc lộ 4 và các ngôi chợ nổi trên sông rạch. Rượu rắn Phụng Hiệp là thổ sản địa phương, phát triển từ năm 1960 tới nay vẫn còn hưng vượng, hiện có 5 lò sản xuất nhưng qui mô hơn hết vẫn là lò Năm Rô. Rắn dùng để làm rượu, phải là rắn sống, đem về mổ bụng từ ức tới hạ môn, bỏ hết chỉ giữ lại mở và mật vì đây là hai vị thuốc. Làm theo ba cách như ngâm rắn tươi, rắn khô và bột rắn. Hiện Phụng Hiệp sản xuất ba loại rượu rắn là Tam xà (hổ mang, hổ lửa hay rắn ráo, mai gầm hay cạp nong), Ngũ xà (gồm ba loại trên thêm hổhành và hổ hèo), Thập Xà (gồm 5 loại rắn trên cộng thêm rắn lục, bông, ri voi, ri cá và bông súng). Rượu rắn có công dụng trị các chứng tê liệt, đau nhức, phong thấp, bồi bổ sức khoẻ, ăn uống chậm tiêu. Vùng thượng du Bắc Việt có rượu cần tây bắc của người Thái, Mèo như rượu Lầu Xá tại Sơn La chế bằng nếp, trấu và men, uống say như bia, lại có mùi thơm nếp, làm mát ruột và tiêu hoá nhanh. Tại Lai Châu có rượu Lầu Sơ, loại rượu trắng nấu bằng khoai mì, theo phương pháp cất khô như rượu bắp của người Mèo ở Bắc Hà (Lào Kai). Ngoài ra còn có rượu Lầu Vang của người Nùng ở Mường Tế nấu bằng nếp và dùng chén để uống chứ không hút bằng cần. Tại cao nguyên Trung phần, rượu cần được nấu bằng lúa, nếp, bo bo, khoai mì, bắp, đậu. Với các người Teu, Vân Kiều, Pacoh tại Quảng Trị, Thừa Thiên có các loại rượu nứa, mây, đặc chế từ nước trong thân của các loại cây trên cộng với men, uống có vị chua cũng say nhưng phẩm chất kém xa các loại nấu bằng ngũ cốc. Riêng người Rhade nấu rượu bằng cơm, trộn với thứ men đặc biệt gọi là Kuach Eya. Người Lào có rượu nếp còn rượu Miên thì lạt hơn rượu Lào nhưng rượu nào cũng say.
10 Điểm
Phần II : Một số loại rượu nổi tiếng và đặc điểm
1/RƯỢU CẦNRượu cần là một thứ rượu uống trực tiếp qua cần trúc. Rượu cần có từ bao giờ? Chưa có tài liệu nào khẳng định. Chỉ biết rằng rượu cần có từ lâu, nhiều dân tộc dùng rượu cần, nhưng cách làm, cách thưởng thức như thế nào, mỗi dân tộc có cách thức riêng. Dĩ nhiên cũng là thứ rượu cần ấy nhưng uống thế nào cho có bài bản lại tạo ra không khí vui vẻ đầm ấm đó là một vấn đề cần bàn đến.
Tại cao nguyên Trung Phần VN, trước năm 1975 ai có dịp sống tại đây, chắc cũng đôi lần thường thức món rượu Ché (rượu cần) của đồng bào Thượng dùng đãi bạn bè, khách quý và khi trong làng có cuộc vui. Theo từ điển Francaire-Jarai-Vietnamien của học giả PE.Lafont do E.F.E.O xuất bản năm 1968 tại Paris đã có kê khai 30 chiếc ché cực quý đựng rượu của người Thượng cao nguyên. Theo tác giả, đây không phải là loại ché tầm thường bày bán tại chợ, mà là những tác phẩm nghệ thuật, chẳng những có giá trị vật chất mà còn mang đầy tính huyền thoại. Theo đó ta thấy ché RAN DING DÔNG của Will ở làng Kon Robang, KonTun, theo huyền thoại do công chúa Bok Glai làm tặng hai anh hùng đã có công chống giặc ngoại xâm. Ché có giá trị bằng 10 con trâu, tuổi thọ 100 năm, cao 0,60m đựng rượu quý. CHÉ HOTOK H’DANG của Kliu làng PleiBrell Pleiku, trị giá 20 con trâu, do người Sedang làm trên 1 thế kỷ.CHÉ HOTÔK RANGPIA vừa giữ nhà,khi có người lạ tới thì rượu báo động, ngoài ra trong ché tự chế biến đặc biệt chất rượu khi uống dù chỉ đựng một chất rượu. Tóm lại mỗi chiếc ché quý được đánh giá theo lý lịch, tên tuổi, các nhà giàu thời đó tranh nhau lấy tài sản để đổi cho được làm của gia bảo. Ngày nay qua cuộc đổi đời, ché chỉ còn coi như món đồ tầm thường, dù thực sự giá trị của nó có thể bằng cả thớt voi hay chiếc xe đò.
Rượu cần người Thái làm khá cầu kỳ, gọi là "láu xá" men rượu làm toàn bằng những thứ lá, quả từ rừng sẵn có (gọi là men lá). Những thứ quả lá chủ yếu gồm có: "Bơ hinh ho", "khi mắc cái", củ riềng, lá trầu không, quả ớt...những thứ này được giá đều thật nhuyễn với gạo tấm, người ta nắm thành từng miếng tròn dẹt như bánh rán, đem ủ với rơm, xếp từng lớp đều nhau.
Khi đã ủ kỹ từ 15 đến 20 ngày có mùi men bốc lên họ đêm phơi lên gác bếp cho khô. Khi cần dùng đêm giã nhỏ rắc vào cái rượu, mỗi mẻ rượu cần từ 7 đến 9 bánh, cái rượu được làm bằng vỏ sắn củ khô gọt ra đem ngâm ở suối ba ngày ba đêm cho hết mùi bồ hóng và độc tố của sắn. Vớt lên phơi khô trộn với trấu lẫn tấm đưa lên "hông" đồ cho chính, sau đó đổ xuống mẹt hoặc lá cót để cho thật nguội đem men rắc đều từng lớp, tiếp tục ủ bằng lá chuối hoặc lá rừng (bỏ nhum, bơ cá) để rượu bốc men rồi đem bỏ vào từng chum, lấy lá chuối hoặc mảnh ni lông bịt kín (nếu để hở hơi rượu sẽ bị chua).
Khi đã ủ vào chum từ 25-30 ngày rượu có thể uống được, để càng lâu rượu càng đặc, càng ngọt. Ngoài sắn khô người ta còn làm bằng loại ngũ cốc, khác như ngô, hạt ý, dĩ củ dong riềng. Trước đây gạo hiếm nên tiết kiệm dùng vào bữa ăn, ngày nay người ta dùng gạo để làm rượu có chất lượng hơn, nhất là rượu cần được làm bằng gạo cẩm thì rất bổ và ngon.
Người Thái dùng rượu cần thường xuyên, nhất là những khi có khách quý mừng cơm mới, đám cưới lễ tết, hội hè, lễ đặt tên cho con...đều có rượu cần làm vui. Khi dùng rượu cần chỉ cần bỏ lớp vỏ bọc ngoài đổ nước sôi để nguội hoặc nước khoáng (trước đây học chỉ dùng nước lã múc ở mõ nước sạch chảy trong lòng núi dá ra) vài bình cho thật ngấm (từ 15 đến 20 phút cắm từ 6 đến 12 cần trúc được uốn cong cầu kỳ với những tua vải rực rỡ được trang trí. Bình rượu được đặt ở nơi trang trọng, rộng rãi. Họ mời uống từng đợt có gia phong nề nếp, có người già và phụ nữ. Thường vẫn ưu tiên cho khách, chủ nhà uống trước sau đó đến lượt mọi người theo thứ bậc uống cùng.Uống rượu cần phải có một người chủ trì, người Mường gọi là chú trám còn người Thái "Nài láu". Nài láu được phép ra những điều kiện quy định cụ thể trước khi vào cuộc rượu, nếu ai vi phạm sẽ chịu phạt theo "luật". Ví dụ: uống đại trà là bao nhiêu "sừng" uống từng người hay uống từng đôi, mỗi người phải uống bao nhiêu sừng...người ta dùng sừng trâu để làm đơn vị đo lường, mỗi sừng chứa khoảng 1 lít nước. Với quan niệm con trâu là đầu cơ nghiệp nên họ dùng sừng trâu để làm vật đo lường khi uống rượu là có hàm ý tôn thờ con vật quí trong nhà.
Nai láu mời mọi người uống rượu phải có động tác trịnh trọng, ý nhị với những lời mời tình cảm, trân trọng nhất. Cũng có lối mời đơn giản, lại có lối mời thành bài bản (mười điều mời rượu cần in trong trong tạp chí văn hoá thông tin) đối với khách quý, khách sang trọng lịch lãm.
Mời rượu cần theo lối bình dân như sau:
Láu càm xà pá túng mời dơ dấc...
Khát pài túng, khói son mời nưa.
Mời một tềnh - khát một khói nhăng mời
Mời sam tếnh - khát sam khói nhăng mời...
(Mời đến mười sừng là kết thúc bằng câu:
Khát...khói so háp búa
Tạm dịch nghĩa:
Rượu cần ngon gia chủ xin kính mời...
Dưới làn dưới xin mời làn trên
Mời một sừng đã dứt - xin mời lần nữa
Mời hai sừng đã dứt - xin mời lần ba
Với cách thức tạo ra rượu cần, thể thức uống rượu như trình bầy trên. Uống rượu cần thật là một sinh hoạt văn hoá mang tính cộng đồng rõ nét. Khi đã vào cuộc vui rượu cần con người xích lại gần nhau, xua tan mọi nỗi u buồn thậm chí sẵn sàng tha thứ cho nhau những điều chưa vừa ý, vừa lòng. Trước đây chưa có kỹ thuật trưng cất rượu. Sau này cũng loại men ấy họ đã biết trưng cất từ rượu cần thành "rượu siêu" chất lượng tinh khiết hơn. Nhưng dẫu sao uống rượu cần vẫn là thú vui không thể thiếu được bởi nó đã đi vào cuộc sống của cộng đồng đã từ lâu, trở thành một nét bản sắc văn hoá đáng trân trọng. Nó còn là cầu nối giao lưu văn hoá, tình cảm giữa các dân tộc thậm chí đối với khách quốc tế cũng trở thành một nhu cầu giao tiếp.
5-5-10-10 30 Điểm
2/ RƯỢU NGô BẢN PHỐ
Lên biên giới phía Bắc, đến Bắc Hà, ngoài việc được đi thăm các thắng cảnh như hang Cô Tiên, nếm vị ngọt và giòn của đào Pháp, mận Tam Hoa hẳn mọi người không ai không biết đến hương vị thơm nồng nhưng êm dịu của loại rượu ngô mà ai cũng gọi là rượu Bắc Hà. Đúng là sản phẩm của Bắc Hà nhưng chỉ một xã nấu được rượu này là xã Bản Phố cách trung tâm huyện khoảng 5 km.Theo người dân ở đây muốn có rượu ngon, chất làm men rượu phải là hạt cây Hồng mị trồng trên nương, giống như hạt kê. Còn chất độn chính là loại ngô nếp vàng chỉ ở Bản Phố mới có. Ngô trồng 6 tháng mới cho thu hoạch. Khi già để chín và khô ở trên nương rồi mới hái về. Tách hạt ngô xong đem luộc chín, giã hạt hồng mi trộn đều trải trên ni lông một đêm dưới nền đất, sau đó mới cho vào các túi ni lông hoặc thùng gỗ đóng kín lại. Thời gian ủ men lên tới 7 ngày, 7 đêm. Dụng cụ chưng cất rượu phải là chảo gang được quây xung quanh bằng chiếc thùng gỗ đóng đai rất kín đặt trên chiếc lò rộng tới 5m2 lúc nào cũng đỏ lửa. Rượu ngưng tụ đưa ra ngoài bằng một máng gỗ được làm rất công phu nối với ống dẫn rượu cũng làm bằng gỗ.
Theo nhiều người nói, rượu ở Bản Phố sở dĩ có hương vị độc đáo là do nguồn nước và cách chế tạo men. Ở Bắc Hà bây giờ có rất nhiều nhà nấu rượu nhưng không ở đâu ngon bằng rượu Bản Phố. Một số nơi nguyên liệu làm men đã đổi khác đi để tăng thêm số lượng rượu, nhưng lại làm giảm đi uy tín và chất lượng của thương hiệu rượu Bắc Hà.
5-5-10-10 30 Điểm
3/ RƯỢU CHUA
Rượu chua là một loại thức uống đặc sản của người Dao ở xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ, Quảng Ninh. Nếu rượu thường uống vào say ba tiếng đồng hồ thì rượu chua uống say ba ngày…
Xã Bằng Cả - huyện Hoành Bồ - tỉnh Quảng Ninh có một thứ nước có men, mầu vàng trong vắt, vị ngọt đằm sâu, ngửi thấy mùi thơm ngọt của gạo nguyên, nước nhẹ như nước trà Thái Nguyên loại tốt nhưng uống thì thật êm và uống xong vẫn còn dính môi. Thứ nước này con gái uống vào thì đỏ môi, hồng má, thơm miệng, hơi thở nồng nàn, con trai uống vào thì thấy ấm lòng, mạnh mẽ, đủ dũng khí để nói với người con gái những điều khó nói, còn những già làng, trưởng bản những người già trong gia đình uống để tăng sự uy nghiêm, con cháu thêm lòng kính trọng. Thứ nước này được dùng trong tất cả các dịp hội hè, đình đám, ngày lễ tết, ngày kỷ niệm và dùng cả trong những sự kiện trọng đại của gia đình, dùng hợp với đủ thứ đồ ăn kèm từ đồ cỗ mặn xôi thịt đến bánh kẹo hoặc uống chay chẳng dùng với thứ gì cũng ngon. Thứ nước này có thể uống trong mọi lúc, uống bất kỳ khi nào thấy khát, thấy mệt mỏi hay thấy rét và thứ đồ uống này đặc biệt dùng cho mọi người, nam cũng uống được, nữ cũng uống được, già cũng uống được, trẻ uống càng tốt càng khỏe. Đó chính là rượu chua - đặc sản từ ngàn đời nay của người dân tộc Dao Thanh Y mà đến nay người Dao ở Bằng Cả vẫn còn gìn giữ được.
Rượu chua ở Bằng Cả không làm để bán. Mà chỉ làm để nhà dùng và hộ nhau khi có việc. Cả xã có đến 97% số hộ là người Dao thì tất cả đều biết cách làm rượu chua.
Làm rượu chua không khó nhưng không phải ai cũng làm được. Nhiều người cũng làm cũng đủ các bước trên nhưng không thành rượu, rót ra bát, nước rượu trắng đục như nước vo gạo, không mùi không vị. Ngày xưa các cụ làm rượu chua rất cầu kỳ cẩn thận và nhiều kiêng kỵ. Thứ gạo được dùng để làm rượu phải là gạo nếp nương, nhà phải tự giã lấy bằng cối đá, xảy vỏ xảy mày và cho vào nấu thành cơm để ủ. Đặc biệt men ủ là thành phần tối quan trọng quyết định chất lượng mẻ rượu, men của các cụ ngày xưa là men lá hay còn gọi là men truyền. Ngày nay rượu chua không làm được bằng gạo nếp nương men lá nữa mà đơn giản họ làm bằng gạo tẻ và men thường (thứ men vẫn có bán ở chợ . Khi thành rượu, độ ngọt và mùi thơm đều giảm, vì thế nhiều nhà muốn lấy lại hương vị cũ phải làm hai mẻ rượu nối tiếp nhau để lấy nước rượu cay của mẻ trước đổ vào ủ mẻ sau, sau hai ngày mới đổ thêm nước sôi nguội, làm như vậy rượu sẽ ngọt và dậy mùi gạo hơn. Một số nhà muốn có rượu thật ngon thì họ làm bằng gạo nếp hoặc muốn có mầu cho rượu đẹp thì làm bằng rượu nếp cẩm, nhưng đấy chỉ vào những dịp trọng đại của gia dình. Rượu chua ngày nay người nào uống nhiều hoặc uống không quen sẽ bị say và say rất lâu, rượu cay say 3 tiếng rượu chua phải say 3 ngày, nhưng say xong không đau đầu.
Rượu chua là thứ đặc sản của người Dao nhưng cũng là thứ đồ uống thú vị cho mọi người, những dịp lễ, tết, ngày vui mời nhau một bát rượu chua hay biếu nhau một chai rượu làm quà thì quả là nhiều ý nghĩa.
Đặc điểm nổi bật : Hình như cả bài này đều là ý chính .
5-5-10-10 30 Điểm
4/ Rượu Rỗ
Phải nói rằng là ông bà ta cũng có nhiều sáng kiến khi tự mình làm cho mình những sản phẩm tuyệt vời. Ai đã từng nghe nói rượu Làng Vân thì cũng chỉ biết rằng đó là nơi mà tất cả người dân trong làng đều nấu rượu và sống bằng rượu.
Nhưng để có một hũ rượu được bịt bằng lá chuối khô thì phải đi tới một nơi mà chỉ cần nhắc tên thôi thì những tay bợm nhậu cũng phải xuýt xoa vì nhớ tới hương nồng cay của rượu. Đó là Liên Hà. Đây là một xã nằm ở phía đông của thành phố Hà nội giáp danh với tỉnh Bắc Ninh. Nơi đây thiên nhiên phú cho vùng đất này một nguồn nước rất phù hợp cho công cuộc trưng cất rượu thủ công. Xã này được lập nên bằng ba làng Rỗ ( Rỗ Hương, Rỗ Dong, Rỗ Đông), bốn làng Chờ hay còn gọi là Làng Quậy( Quậy Châu Phong, Quậy Giao Tác, Quậy Đại Vĩ, Quậy Rào ),Làng Lỗ Khê và một làng nữa chơ vơ giữa đồng (Làng Thù Lỗ . Trong phạm vi xã này thì có Rượu của mấy làng Quậy và Rỗ Hương, Lỗ Khê là nổi tiếng nhất. Nổi tiếng nhất xã là Rượu Rỗ Hương và Lỗ khê. Đây là hai lò rượu lớn trong xã và cung cấp rượu cho 4 xã miền đông của Huyện Đông Anh- Hà Nội. Thậm chí toàn Huyện Đông Anh. Trong các dịp ma chay cưới hỏi thì không thể thiếu rượu của hai làng này. Người ta quen gọi là rượu Rỗ.
Rượu của hai làng này được trưng cất theo một chu trình rất công phu. Từ khâu nấu cơm cho tới khi cho cái rượu lên bếp để trưng cất đều tuân theo những nguyên tắc rất khắt khe. Và mỗi gia đình có một bí quyết để có cho rượu của mình có hương vị riêng. Bắt đầu là người ta lấy gạo ngon nấu thành cơm. Sau đó người ta để nguội cơm rồi làm cho cơm tơi xốp. Rắc men ruợu lên rồi ủ nơi ấm áp khoảng 2 tới 3 ngày. Sau 3 ngày số cơm này trở thành cơm rượu hay còn gọi là Rượu Hoàng. Người ta cho số cơm này vào một cái chum sành và đổ nước ngâm khoảng 1 tuần rồi cho lên bếp trưng cất. Rượu của vùng này có đặc tính là rất mạnh khoảng 45%-55% tuỳ thuộc vào đơn đặt hàng của khách mà từng sản phẩm rượu được ra lò. Tuy mạnh thế nhưng khi uống vào không có mùi cồn cũng không thấy cháy cổ như những loại rượu khác. Càng để lâu rượu càng êm và càng thơm và ngon thậm chí còn có chút vị ngọt. Đó chính là bí quyết của nhà làm rượu.
Một chén rượu được ủ lâu ngày dưới lòng đất nhâm nhi với lạc rang và đĩa thịt... chó hấp giềng cùng lá mơ tươi sống là đặc sản của vùng này. Nếu có dịp xin các bạn hãy ghé qua vùng này và nhấm nháp hương vị của rượu. Đảm bảo các bạn sẽ không thể quên được.
Đặc điểm nổi bật : Phần in đậm
5-5-10-10 30 Điểm
5/ RƯỢU CHÍT
Người ta vào rừng chít ở Hòa Bình, Lai Châu, nhìn cây nào không có bông, đoạn ngọn úa vàng chắc chắn ở đó có con sâu, là trứng
của bướm trắng. Sâu ăn hết nõn hoa của cây chít thì trở nên béo tròn, trắng nẫn. Họ bắt con sâu về ngâm rượu.
Chai rượu 65 với non nửa sâu chít, trong, vắt ánh mầu tơ tằm. Nhấp một ngụm nhỏ, thấy rượu không tanh mà còn đậm một vị ngọt. Một chai như thế được bán với giá 25.000 đồng.
Giờ đây, trong các nhà hàng, khách sạn, ngoài chợ ở vùng Điện Biên, đều có bán rượu sâu chít. Khách quen nhậu không ai là không mua một hai chai.Đặc điểm nổi bật : Phần in đậm
5-5-10-5 25 Điểm
6/ Rượu Đế
“Huyện Bình Chánh (TP HCM) vốn nổi tiếng với rượu đế Gò Đen, được nấu bằng gạo nếp, có mùi thơm lựng, hương vị nồng nàn. Trong các tiệc cưới, rượu Gò Đen là thứ không thể thiếu. “
Loại rượu này thì ắt hẳn ai cũng phải biết và ít nhất nếm qua một lần trong đời. Rượu đế, còn được gòi là “rượu lậu”, mấy ông đệ tử lưu linh rất ghiền loại này . Vừa rẻ tiền vừa đảm bảo chất lượng…
Đặc điểm nổi bật : Phần in đậm.
5-5-10-0 20 Điểm
7/Rượu Sán Lùng Lào Cai
Xã Sán Lùng thuộc huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai - là nơi có thứ rượu ngon nổi tiếng. Nếu như các loại rượu khác đều cất từ gạo, ngô hoặc sắn nấu chín và ủ men thì rượu Sán Lùng được ủ và cất theo một quy trình độc đáo và công phu.
Nguyên liệu là thóc mẩy đều hạt, đem ủ cho nảy mầm, lúc đó tinh bột được chuyển hóa thành đường ở mức cao nhất. Người Mông đem thóc nảy mầm cho vào chõ đồ chín, tãi ra nong cho nguội, tới nhiệt độ thích hợp mới trộn đều với men, rồi ủ từ năm tới sáu ngày, khi tỏa mùi thơm thì đem cất rượu. Dù quy trình, nguyên liệu như vậy nhưng nếu nấu ở nơi khác, rượu sẽ không ngon bằng ở Sán Lùng. Bởi ngoài những bí quyết truyền đời, có lẽ nguồn nước và tiểu vùng khí hậu là những yếu tố không thể thay thế được đã tạo ra hương vị đặc biệt của rượu Sán Lùng.
Thứ rượu này trong vắt hơi ngả xanh. Chén mới kề môi, thực khách đã cảm nhận hương thơm tinh khiết, nhẹ nhàng mà cuốn hút, uống khỏi miệng thấy ngọt dịu và hơi ngậy, khi ngà ngà thấy lâng lâng dễ chịu, không có cảm giác đau đầu.
Khi những cơn gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về, xúm quanh đống lửa, người ta nhâm nhi chén rượu Sán Lùng với thịt trâu sấy khô lùi tro nóng, đập tơi ra chấm tương ớt trộn một chút chanh, hoặc nhấm với cá suối sấy khô nướng than thì quả là thi vị.
5-5-10-10 30 Điểm
8/Rượu nếp Tết Đoan Ngọ
Tháng năm lịch trăng có Tết Ðoan Ngọ, hay Ðoan Ngũ, Ðoan Dương. Các loài sâu bọ đều hoảng hốt, trốn chạy vì nhà ai cũng có bữa cỗ "giết sâu bọ" vào sáng sớm, với hoa quả đầu mùa. Ðào mịn lông tơ, mận đủ mùi chua ngọt, chuối ta mập mạp, dưa hấu bổ dọc thành những chiếc thuyền rồng sơn son mịn cát lóng lánh như lân tinh, dứa còn nguyên cái mũ miện xanh rờn óng bạc và cái lòng vàng tươi khêu gợi. Đương nhiên là không thể thiếu món rượu nếp.
Tác giả món rượu để ăn chứ không phải để uống này là ai? Không biết. Nhưng nó cũng đủ làm hồng đôi má, lâng lâng xao xuyến lòng người. Từ lúc những tia nắng rẻ quạt đầu tiên xuất hiện trên vòm trời cao tít, đã nghe tiếng rao văng vẳng gần xa.
Cái rá tre cố hữu, đậy miếng vải màn trắng muốt, đầy một chất rượu thơm lừng, mà ta biết dưới đáy chiếc rá có lót lá chuối tươi óng ánh kia, là chiếc bát sành, bát sứ hứng chất nước ngọt lừ ngây ngất, đầy thì rót vào "vịt" và từ cái vòi như cái cổ con thiên nga, thứ mật say ấy được tưới lên bát rượu nếp một mầu vàng ướt át cay tê, ngọt dịu, đủ mùi...
Bát ăn rượu nếp thường là cái chén múc chè đường, nho nhỏ xinh xinh. Ðôi đũa ăn rượu nếp cũng chỉ nhỉnh hơn chiếc que chơi chắt chuyền của bé gái nông thôn. "Giết sâu bọ" bằng thứ khí giới này thật lạ. Những hạt rượu nếp thuôn thuôn như cái bọng con kiến rừng vàng sậm, tan trên đầu lưỡi cũng đồng thời thấm vào tận sâu thẳm thân ta một chất khác hẳn ngày thường.
Trẻ con uống rượu là có hại vì nguy hiểm. Nhưng rượu nếp là của mọi người, nam, phụ, lão, ấu, từ cụ già trệu trạo đôi lợi, đến em bé năm ngón xòe hoa chấp chới...
Làm rượu nếp công phu, phải đồ gạo hai lần, ủ men như làm "cơm rượu" mất nhiều thì giờ, nên ít gia đình có đủ kiên nhẫn và công phu chế biến. Tác giả món rượu nếp thường ở những mái nhà tranh làng quê êm ả. Ngày Ðoan Ngọ sắp đến, làm ít quà nhà ăn là chính và dôi ra thì đem bán khắp phố phường cho mọi người cùng thưởng Tết. Vì vậy mà đôi quang gánh, tà áo nâu, cái nón đội đầu... xuất hiện vào đúng lúc bữa cỗ "giết sâu bọ" sắp đến.
Ăn rượu nếp không thể bằng bát tô như ăn bún riêu, bún ốc mà phải nhẩn nha, vừa ăn vừa nghe chất rượu nhẹ lâng vần chuyển trong cơ thể, để thẩm thấu một nét đẹp ngàn xưa còn lại trong phong tục dân gian.
Các nhà khoa học có thể cười thầm vì bữa cỗ giết sâu bọ. Nó chết vì chè đỗ đen hay quả đào thơm phức? Nó chết vì say la đà hương rượu nếp hay vị ngọt thanh dưa hấu? Nhưng lời nhắn gửi truyền đời thì bảo rằng, đây là lúc giao mùa, lúc nắng bắt đầu già, lúc quả bắt đầu ngon, là say nhè nhẹ, là thỏa mãn ước nguyện truyền kỳ mà mọi loại bánh tân thời, mọi thứ rượu nặng, rượu nhẹ Tây, Tàu không thể sánh.
Từ dụng cụ để ăn (gọi là thực cụ ) như một thứ đồ chơi đến các món ăn thơm thảo vườn quê và men dân dã... đều đáng được lưu tâm, duy trì và phát triển
5-5-10-10 30 Điểm