- 20/2/06
- 2,976
- 23
Tớ lập topic này ra để cho anh em ta có điều kiện học hỏi môn nghệ thuật cuối cùng này
. Đề nghị chỉ đọc bài và ko post vào đây nha. Có j thắc mắc, cám ơn, hay hỏi han thì sang bên topic mở hàng post nha.
________________
Photography, bản thân cái tên đã nói lên khá nhiều về hình thứ nghệ thuật này. Không khó để nhận biết chữ photo có nghĩa là ánh sáng, và graphy có nghĩa là vẽ. Photography chính là "vẽ lên bằng ánh sáng" hay nói chính xác bằng khoa học thì là ghi lại hình ảnh bằng quang năng của các hạt photon ánh sáng. Cũng có lúc quá trình ghi ảnh đã được gọi bằng tên khác Heliography, trong đó Helios mang nghĩa mặt trời.
Lịch sử nhiếp ảnh bắt đầu từ khá lâu gắn liền với các phát minh khoa học nhưng bước tiến đáng chú ý nhất là khi Joseph Nicéphore Niépce người Pháp thực hiện thành công bức hình nóc nhà & chuồng bồ câu năm 1826. Để bức ảnh này nhà phát minh này đã mất 8 tiếng phơi sáng (!). Trước đó thì các phát minh như tìm ra chất bắt sáng, ống kinh v.v đã đặt nền móng cho nhiếp ảnh hiện đại. Srono còn nhớ có 1 cái chuyện là 1 nhà khoa học phơi miếgn tráng bạc ở ngoài sáng và có 1 chiếc lá rớt lên trên, và phát hiện ra miếng lá đã che sáng và tạo nên bức hình đầu tiên.
Trong suốt 200 năm gần đây nhiếp ảnh đã có những bước tiến chóng mặt. Từ những chiếc máy ảnh to lớn, quá trình rửa ảnh dài và phức tạp chỉ dành cho những nhà nghiên cứu, nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp, nhiếp ảnh đã tiến 1 bước dài khi trở thành một quy trình đơn giản, rẻ tiền cho mọi người. Những bước ngoặt lớn có thể kể đến việc chuyển hỗn hợp hóa chất ở dạng ướtt, tráng lên các miếng kính dễ vỡ để làm film (1851) sang sử dụng lớp tráng khô trên kính (1871) rồi dùng film cuộn trên giấy thay vì dùng các miếng thủy tinh cồng kềnh do Eastman (Kodak) sáng chế. 1914, Oscar Barnack của viện nghiên cứu Đức Leitz (Leica) đã phát triển ra chiếc máy ảnh sử dụng chuẩn 35mm đầu tiên. Chiếc máy ảnh Leica mà Barnack thiết kế ra này chính là nền móng, tạo nên một chuẩn mực camera phải như thế nào. Vừa rồi Leica cũng sản xuất lại chiếc máy limited edition Oscar Barnack để tưởng nhớ nhà sáng chế này. 1924, chiếc máy ảnh thương mại 35mm của Leica dựa trên thiết kế của Barnack ra thị trường và 25 năm sau đó chiếc máy SLR đầu tiên của Zeiss - Contax S - xuất hiện. Lịch sử nhiếp ảnh sang một trang hoàn toàn mới khi chiếc máy ảnh dSLR đầu tiên của Kodak ra đời năm 1991.
Nhắc qua đến lịch sử 1 chút để thấy rằng máy ảnh, các công cụ nhiếp ảnh đã thay đổi rất nhiều, tuy nhiên không vì thế mà bản chất của nhiếp ảnh thay đổi. Photography vẫn là phos và graphis và các nguyên lý chính vẫn không thay đổi. Các nguyên lý chính:
Ánh sáng - film/sensor.
Film là một hỗn hợp chất nhạy sáng chứa hợp chất của bạc. Các hạt bạc nằm trên lớp tráng của film. Khi ánh sáng chiếu lên bề mặt film, quá trình ghi ảnh sẽ diễn ra do các hạt film nhận được cường độ sáng khác nhau sẽ "cháy" ở các mức độ khác nhau. Quá trình này không khác nhiều trên các máy digital, các sensor hay chính là các tế bào quang điện cảm nhận được độ mạnh yếu của cường độ sáng khác nhau sẽ trả về các tín hiệu khác nhau. Tấm ảnh thu được chính là "bản đồ" các hạt film bị cháy hay tín hiệu thu được từ các tế bào quang điện sau khi xử lý. Để giải thích cụ thể từng quá trính thì sẽ phức tạp hơn (hóa chất tráng, hóa chất hãm, film emulsion layer, filter lọc màu, các filter trên sensor, v.v) nên sẽ không đề cập đến trong giới hạn bài viết này. Chỉ cần hiểu được: film và sensor lưu lại được hình ảnh do lượng ánh sáng từ vật mang tới. Trong bài này Srn cũng sẽ không đi sâu về tính toán vật lý mà có thể chỉ đưa con số. Ai thích có thể tự tìm hiểu thêm.
Vậy kiểm soát hình ảnh chính là việc kiểm soát lượng ánh sáng vào sensor/film
. Giả sử đối với một bức ảnh cụ thể, ta phải có 1 lượng sáng nhất định vào film/sensor. Nếu lượng ánh sáng này thừa, ảnh sẽ thừa sáng, mất các chi tiết ở vùng sáng (highlight), hay còn gọi là *cháy*. Ngược lại, thiếu sáng, ảnh sẽ bị tốt, mất chi tiết vùng tối (shadow). Vậy nôm na là ta cần phải có 1 lượng ánh sáng chính xác. Có thể hiểu quá trình này giống như việc bơm nước vào bể chứa, khi ta cần 1 lượng nước nhất định.
Aperture
Là độ mở của ống kính, ống kính mở càng to thì ánh sáng vào càng nhiều hơn trong cùng 1 khoảng thời gian. Độ mở của ống kính thay đổi khi máy thay đổi hình dạng các lá thép trong ống kính.
(src: http://www.shortcourses.com/images/b4ch1/aperture.jpg)
Hình minh họa ở trên giới thiệu rất trực quan: các mức mở của aperture nối tiếp nhau cho lượng sáng đi qua = 2 lần mức trước đó do đó thu được ảnh sáng/tối lệch nhau 2 lần. Mỗi mức này gọi là 1 stop của ánh sáng. (các hình trên thu được trong điều kiện shutter speed không đổi).
Quay lại với ví dụ về bể nước, vòi nước to gấp 2 thì sau 1 thời gian nhất định mức nước sẽ gấp 2.
Shutter speed
Là thời gian phơi sáng của film và sensor, thời gian càng lâu thì ánh sáng vào càng nhiều. Cái này được kiểm soát bằng shutter - màn trập trên máy ảnh hoặc trên ống kính.
(src: http://www.shortcourses.com/images/b4ch1/shutterspeed.jpg)
Tương tự, với khoảng thời gian gấp 2 -> ánh sáng thu được sẽ gấp 2. Mỗi mức này cũng là 1 stop. Với cái bể nước, nếu mở vòi lâu gấp 2, với cùng 1 kích thước vòi nước -> ta thu được lượng nước gấp 2.
(bài viết được tổng hợp từ nhiều nguồn, nguồn Internet)
http://forum.vncnus.net/viewtopic.php?f=72&t=20644
Srono- VNCNUS
. Đề nghị chỉ đọc bài và ko post vào đây nha. Có j thắc mắc, cám ơn, hay hỏi han thì sang bên topic mở hàng post nha.________________
Photography, bản thân cái tên đã nói lên khá nhiều về hình thứ nghệ thuật này. Không khó để nhận biết chữ photo có nghĩa là ánh sáng, và graphy có nghĩa là vẽ. Photography chính là "vẽ lên bằng ánh sáng" hay nói chính xác bằng khoa học thì là ghi lại hình ảnh bằng quang năng của các hạt photon ánh sáng. Cũng có lúc quá trình ghi ảnh đã được gọi bằng tên khác Heliography, trong đó Helios mang nghĩa mặt trời.
Lịch sử nhiếp ảnh bắt đầu từ khá lâu gắn liền với các phát minh khoa học nhưng bước tiến đáng chú ý nhất là khi Joseph Nicéphore Niépce người Pháp thực hiện thành công bức hình nóc nhà & chuồng bồ câu năm 1826. Để bức ảnh này nhà phát minh này đã mất 8 tiếng phơi sáng (!). Trước đó thì các phát minh như tìm ra chất bắt sáng, ống kinh v.v đã đặt nền móng cho nhiếp ảnh hiện đại. Srono còn nhớ có 1 cái chuyện là 1 nhà khoa học phơi miếgn tráng bạc ở ngoài sáng và có 1 chiếc lá rớt lên trên, và phát hiện ra miếng lá đã che sáng và tạo nên bức hình đầu tiên.
Trong suốt 200 năm gần đây nhiếp ảnh đã có những bước tiến chóng mặt. Từ những chiếc máy ảnh to lớn, quá trình rửa ảnh dài và phức tạp chỉ dành cho những nhà nghiên cứu, nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp, nhiếp ảnh đã tiến 1 bước dài khi trở thành một quy trình đơn giản, rẻ tiền cho mọi người. Những bước ngoặt lớn có thể kể đến việc chuyển hỗn hợp hóa chất ở dạng ướtt, tráng lên các miếng kính dễ vỡ để làm film (1851) sang sử dụng lớp tráng khô trên kính (1871) rồi dùng film cuộn trên giấy thay vì dùng các miếng thủy tinh cồng kềnh do Eastman (Kodak) sáng chế. 1914, Oscar Barnack của viện nghiên cứu Đức Leitz (Leica) đã phát triển ra chiếc máy ảnh sử dụng chuẩn 35mm đầu tiên. Chiếc máy ảnh Leica mà Barnack thiết kế ra này chính là nền móng, tạo nên một chuẩn mực camera phải như thế nào. Vừa rồi Leica cũng sản xuất lại chiếc máy limited edition Oscar Barnack để tưởng nhớ nhà sáng chế này. 1924, chiếc máy ảnh thương mại 35mm của Leica dựa trên thiết kế của Barnack ra thị trường và 25 năm sau đó chiếc máy SLR đầu tiên của Zeiss - Contax S - xuất hiện. Lịch sử nhiếp ảnh sang một trang hoàn toàn mới khi chiếc máy ảnh dSLR đầu tiên của Kodak ra đời năm 1991.
Nhắc qua đến lịch sử 1 chút để thấy rằng máy ảnh, các công cụ nhiếp ảnh đã thay đổi rất nhiều, tuy nhiên không vì thế mà bản chất của nhiếp ảnh thay đổi. Photography vẫn là phos và graphis và các nguyên lý chính vẫn không thay đổi. Các nguyên lý chính:
Ánh sáng - film/sensor.
Film là một hỗn hợp chất nhạy sáng chứa hợp chất của bạc. Các hạt bạc nằm trên lớp tráng của film. Khi ánh sáng chiếu lên bề mặt film, quá trình ghi ảnh sẽ diễn ra do các hạt film nhận được cường độ sáng khác nhau sẽ "cháy" ở các mức độ khác nhau. Quá trình này không khác nhiều trên các máy digital, các sensor hay chính là các tế bào quang điện cảm nhận được độ mạnh yếu của cường độ sáng khác nhau sẽ trả về các tín hiệu khác nhau. Tấm ảnh thu được chính là "bản đồ" các hạt film bị cháy hay tín hiệu thu được từ các tế bào quang điện sau khi xử lý. Để giải thích cụ thể từng quá trính thì sẽ phức tạp hơn (hóa chất tráng, hóa chất hãm, film emulsion layer, filter lọc màu, các filter trên sensor, v.v) nên sẽ không đề cập đến trong giới hạn bài viết này. Chỉ cần hiểu được: film và sensor lưu lại được hình ảnh do lượng ánh sáng từ vật mang tới. Trong bài này Srn cũng sẽ không đi sâu về tính toán vật lý mà có thể chỉ đưa con số. Ai thích có thể tự tìm hiểu thêm.
Vậy kiểm soát hình ảnh chính là việc kiểm soát lượng ánh sáng vào sensor/film
. Giả sử đối với một bức ảnh cụ thể, ta phải có 1 lượng sáng nhất định vào film/sensor. Nếu lượng ánh sáng này thừa, ảnh sẽ thừa sáng, mất các chi tiết ở vùng sáng (highlight), hay còn gọi là *cháy*. Ngược lại, thiếu sáng, ảnh sẽ bị tốt, mất chi tiết vùng tối (shadow). Vậy nôm na là ta cần phải có 1 lượng ánh sáng chính xác. Có thể hiểu quá trình này giống như việc bơm nước vào bể chứa, khi ta cần 1 lượng nước nhất định.Aperture
Là độ mở của ống kính, ống kính mở càng to thì ánh sáng vào càng nhiều hơn trong cùng 1 khoảng thời gian. Độ mở của ống kính thay đổi khi máy thay đổi hình dạng các lá thép trong ống kính.
(src: http://www.shortcourses.com/images/b4ch1/aperture.jpg)
Hình minh họa ở trên giới thiệu rất trực quan: các mức mở của aperture nối tiếp nhau cho lượng sáng đi qua = 2 lần mức trước đó do đó thu được ảnh sáng/tối lệch nhau 2 lần. Mỗi mức này gọi là 1 stop của ánh sáng. (các hình trên thu được trong điều kiện shutter speed không đổi).
Quay lại với ví dụ về bể nước, vòi nước to gấp 2 thì sau 1 thời gian nhất định mức nước sẽ gấp 2.
Shutter speed
Là thời gian phơi sáng của film và sensor, thời gian càng lâu thì ánh sáng vào càng nhiều. Cái này được kiểm soát bằng shutter - màn trập trên máy ảnh hoặc trên ống kính.
(src: http://www.shortcourses.com/images/b4ch1/shutterspeed.jpg)
Tương tự, với khoảng thời gian gấp 2 -> ánh sáng thu được sẽ gấp 2. Mỗi mức này cũng là 1 stop. Với cái bể nước, nếu mở vòi lâu gấp 2, với cùng 1 kích thước vòi nước -> ta thu được lượng nước gấp 2.
(bài viết được tổng hợp từ nhiều nguồn, nguồn Internet)
http://forum.vncnus.net/viewtopic.php?f=72&t=20644
Srono- VNCNUS
Chỉnh sửa cuối:
)
ta chọn tốc độ mong muốn, nếu chụp đường buổi tối hay chụp thành phố với dòng sông thì ta nên chọn thời gian chụp trên 20", máy sẽ đưa ra khẩu độ tương ứng.