Đại Việt mình làm quái gì có lancer , toàn bộ binh thôi ông à
mà giáp thì là loại mỏng thôi không dày thế kia đâu ??
Hình kỵ binh chúa Trịnh thì Winter đã post rồi. Còn trong sử nó thế này
Võ quan thời Lê
Võ phục có áo giáp dài đến đầu gối, được trang trí nhiều họa tiết như hình vẩy rồng, ở trước ngực có hình bố tử. Trong áo giáp có hai lớp áo nữa: áo ngoài tay rộng, áo trong tay chật. Ngoài ra, còn có mũa, đai, hia đầy đủ.
Đại Việt SỬ kí toàn thư :
- Mùa đông, tháng 11, ngày 16, đại xá. Đổi niên hiệu, lấy năm sau làm Hồng Đức năm thứ 1. ...Cấm cợ búa trong dân gian bán nón thuỷ ma và nón sơn đỏ. Vua dụ quan viên và trăm họ cả nước rằng: "
Những thứ áo giáp, mũ trụ là để cho khí thế quân đội trang ngghiêm, như ] thứ nón tuỷ ma và nón sơn đỏ là của thân quân vẫn đội để túc vệ. Nay chợ búa dân gian có nhiều người bán, nên cấm hẳn đi". .... Mùa xuân, tháng giêng cấm làm giả nón da.
- "Tháng 11, Tiết chế Trịnh Tùng sai Kế quận công Phan Ngạn đem các cơ thuỷ quân, 300 chiến thuyền và 1 con voi đến trấn giữ huyện Thanh Lâm trấn Hải Dương... Ngay hôm ấy, giải tướng giặc là Hào quận công đến cửa quân. Phan Ngạn tự mình cởi trói và dỗ rằng: Ngươi muốn sống hay muốn chết. Nếu muốn sống thì ta dùng ngươi làm hướng đạo, bắt được Tráng Vương thì ta tha tội chết cho ngươi. Hào quận công bèn xin đưa đường, dẫn quân đi gấp theo đường biển ra Quảng Yên bắt Tráng Vương để lo báo đáp. Phan Ngạn nghe xong, sai chọn thuyền nhẹ và mấy trăm quân tinh nhuệ, cùng 5 chiếc thuyền chiến,
tự mặc áo giáp khắp mình, giấu Hào quận công ở trong thuyền..."
- "Tháng 12, vua thân đi đánh Chiêm Thành, dẫn 12 vạn quân xuất phát từ kinh sư. ...Vua nói:
"Ta mình mặc giáp cứng, tay mang gươm sắc, dãi gió dầm mưa, lội sông trèo núi, vào sâu trong đất giặc, không ai dám đươngđầu với ta. Thế là trời giúp cho ta đó. Huống chi nay chúa giặc nghe tin đã chạy trốn, không còn lòng dạ đánh nhau. Cổ nhân nói: "Dùng binh quý thần tốc". Nay nếu dừng lại không tiến, thì thực là trời cho mà không lấy, để nó lại cơ mưu khác thì hối sao kịp. Ngươi chính là hạng đàn bà".
- Ngày mồng 3, Tuyên Tông nhà Minh băng. Hoàng thái tử Kỳ Trấn lên ngôi, tức là Anh Tông, đổi niên hiệu là Chính Thống. .... Ngày 21, Ngôn quan là bọn Phan Thiên Tước, Lương Thiên Phúc, Nguyễn Chiêu Phủ dâng sớ nói: "
Tiên đế dầm mưa dãi gió, mình mang giáp trụ, lao thân khổ trí, hơn mười năm trời mới dẹp yên thiên hạ. Bệ hạ kế thừa cơ nghiệp đã có sẵn rồi, nên lưu ý tới học thuật, năng tìm nhân tài để lo trị nước thành công. .."
- Tháng 12, Tiết chế Trịnh Tùng lại bàn ra quân. .... Đội thứ nhất là dinh tả khu, bọn Thái phó Dương quận công Nguyễn Hữu Liêu và Kỳ quận công Trịnh Ninh đem quân tinh nhuệ cùng tướng sĩ các dinh cơ Trung nghĩa, gồm 1 vạn người làm tiên phong đi trước. Đội thứ hai là dinh hữu khu gồm bọn Thái uý Vinh quận công Hoàng Đình Ái, Vĩnh quận công Trịnh Đồng và voi ngựa cùng 1 vạn quân. Đội thứ ba là dinh tiền khu gồm Thái bảo Ngạn quận công Trịnh Đỗ và
1 vạn giáp binh, voi ngựa. Đội thứ tư là đại dinh trung khu, Tiết chế Trịnh Tùng đích thân đốc suất 2 vạn binh mã của Trung quân. Đội thứ năm gồm bọn Lân quận công Hà Thọ Lộc và Thế quận công Ngô Cảnh Hựu cùng đốc suất quân chở lương làm hậu quân.
- Ngày 30, Tiết chế Trịnh Tùng đốc suất các dinh tiến quân đến chợ Hoàng Xá, đóng lại 1 tháng, hạ lệnh cho quân các dinh vượt sông Cù phá huỷ hào luỹ của giặc, san thành đất bằng. Chiều hôm ấy, Tiết chế Trịnh Tùng bàn rằng: Nên nhân cái uy thế sấm sét không kịp bịt tai này mà đánh lấy thì dễ như nhặt hạt cải. Bèn tiến quân, sai Nguyễn Hữu Liêu đem 5000 quân tinh nhuệ và
voi khoẻ cùng ngựa bọc sắt, đến giờ Dần, thẳng tiến đến đóng ở cầu Cao tại góc tây bắc thành Thăng Long, phóng lửa hiệu, bắn liền bảy phát, thiêu đốt nhà cửa, khói lửa khắp trời.
- Ngày 27, Tiết chế Trịnh Tùng sai bọn Thái uý Hoàng Đình Ái, Thái bảo Trịnh Đỗ, Trịnh Đồng, Trịnh Ninh đốc suất bộ binh và voi ngựa các dinh tiến đánh Mạc Kính Chỉ, đóng quân ở huyện Cẩm Giàng, đặt đồn ở dọc sông để chống cự. Lại sai Thái uý Nguyễn Hữu Liêu tổng đốc thuỷ quân, tiến đến huyện Thanh Lâm, cùng với Đình Ái trong ngoài dựa nhau để cứu viện quan quân ở Cầm Giàng. Mạc Kính Chỉ đem hết quân chiếm giữ Thanh Lâm, lấy một dảy sông dài chia cách nam bắc, dàn quân liền suốt để chống đánh. Ngày thì giăng cờ, đêm thì bắn súng, trong khoảng hàng tháng, quân hai bên cầm cự nhau, không được lúc nào
cởi giáp.
-
Ngựa bọc sắt chả lẽ là ngựa thồ hàng? Còn giáp cứng ở đây thậm chí là loại plate chứ không thèm giáp mỏng nữa, chưa kể còn mặc giáp toàn thân.
Trong quá khứ người ta đã đặt ra hai cơ quan để chăm sóc, nuôi dưỡng và huấn luyện hai con vật này đó là « Viện Tượng Chính và Viện Mã Chính.
Năm 1509 Vua Lê Uy Mục cho đặt hai Giám Ti : « Ngự Tượng » và « Ngự Mã ».
Trong quyển «Khâm Định Đại Nam Hội Điễn Sự Lệ» của Quốc Sử Quán triều Nguyễn đã dành riêng một quyễn 175 để quy định về vấn đề Mã Chính bao gồm ngạch ngựa, chăn nuôi ngựa, kén chọn ngựa, khám nghiệm ngựa, diễn ngựa, trang sức cho ngựa.....
Ngựa nuôi ở kinh thành thì thuộc vào Viện « Thượng Tứ », ở nhà trạm men đường ngoài các tỉnh thuộc vào các thành, trấn, đạo sở tại...
Ngựa để dùng trong việc thông tin liên lạc thì khác với Ngựa trong việc vận chuyễn kéo xe, lại càng khác xa với Ngựa Chiến.
Người xưa đã phân định rất rõ ràng vai trò trách nhiệm cho các viên quản mục, viên biền cai quản từng loại ngựa, đặt ra chức Y Sinh để coi sóc, điều trị bệnh cho ngựa, giúp ngựa lúc sinh nở như các Thú Y sĩ chuyên trách về ngựa bây giờ.
Kể từ khi quân Nguyên Mông vào xâm chiếm nước ta lần đầu vào năm 1257 và về sau, vào các năm 1285, 1288, thì hàng ngàn hàng vạn con Ngựa Chiến từ thảo nguyên Mông Cổ được đưa sang nước ta.
Khi đám tàn quân Mông Cổ thất trận tháo chạy thì trong số chiến mã này, một số thì bị bắt, một số bị lạc trong rừng trở nên một loài ngựa hoang. Loài ngựa nước ta được lai giống với các loài ngựa của vùng thảo nguyên Mông Cổ, Vân Nam, Kinh Bắc, Tân Cương ....mà quân thù phương bắc qua nhiều lần xâm lược mang theo trong các cuộc hành quân.
Lê Quí Ðôn đã từng viết trong quyển « Vân Ðài Loại Ngữ » : « Nước ta, tỉnh Tuyên Quang và Cao Bằng đều sãn nhiều ngựa. Phủ Phú Yên, và xứ Quảng Nam, càng nhiều ngựa : hàng trăm, hàng ngàn, thành đàn như là trâu dê. Khách buôn, đàn bà cũng cưỡi ngựa, dùng ngựa thồ hàng rồi bán luôn cả ngựa...». Đó là phần đông giống ngựa sinh sản từ Ngựa Bắc Thảo do quân đoàn Mông Cổ bỏ lại sau khi bị chiến bại trên sa trường nước Đại Việt.
Ngựa Trận thì được tuyển chọn loại ngựa Kỳ, ngựa Ký là ngựa lạ, quý và hiếm ; đó là loại Ngựa Chiến. Còn loại ngựa Nô, ngựa Đài thì dùng để tải vận ; đó là loại Ngựa Thồ.
Trên hết trong tất cả loại ngựa quí, là ngựa dành cho Hoàng đế và cho các tướng sĩ ra trận.
Những giống Ngựa Chiến được các Tướng Soái Viễn Đông quí chuộng vẫn thường là giống ngựa gọi là « Thiên Lý Mã » (Ngựa chạy ngàn dặm), như giống ngựa Akhal Téké "Huyết Hãn Mã", hay giống ngựa gọi là Thiên Mã như ngựa Jaf Ba Tư và ngựa thuần chủng Ả Rập, nhập cảng từ các nước Trung Ðông xa xôi (Ferghana, Turkménistan, Ba Tư, A Phu Hãn...) theo Ðường Buôn Tơ-Lụa.
Chiến Mã cần có 4 nước Đại và 3 đợt Nhãy cao, lại cần có 9 Đức Tính Tốt. và người ta chia ra 8 thứ Ngựa giỏi.
Trong các danh từ đặc thù dùng để chỉ màu sắc, hình dáng hay đặc tính của loài ngựa thời xưa của nước ta cũng như Trung Quốc, thì có một số danh từ sau đây : « Mã (馬) - Ngựa », « Thố (兔) - Thỏ », « Long (龍) - Rồng », « Câu (駒) - Ngựa Tơ », « Kỳ (騏) - Hay », « Kí (驥) - Bền », « Đề (蹄) - Móng Thú », « Nô (駑) - Nhác », « Đài (駘) - Lai Căn » để chỉ về ngựa và một số tĩnh từ như : « Tuấn (駿) - Đẹp » , « Lạc (樂) - Vui » , « Bảo (寶) - Quí », «Phiêu (膘) - Béo ».
I - Những Chiến Mã lừng danh của Đại-Việt
Khi nói đến ngựa trận của Đại Việt, chúng ta không thể không nói đến hai con chiến mã nổi tiếng : đó là con « Song Vỹ Hồng » (còn được gọi là Song Vỹ Tinh) của danh tướng Lý Thường Kiệt (Kỷ Mùi 1019 - Ất Dậu 1105) và con « Nê Thông » của Hoàng Ðế Trần Duệ Tông (1372-1377).
Về vấn đề thi cử võ thuật
Theo quyển Chính Biên XXXVII trong bộ « Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục » của Quốc Sử Quán triều Nhà Nguyễn, Ấn Bản 1856-1884, thì Chúa Trịnh Giang cải tiến lại, ngày 29-12-1731, Luật Thi Tuyển Bắc Cử thuộc về Võ Trận Cổ Truyền lập ra từ thế kỷ XIII, như sau :
- Cuộc Thi đầu tiên, thuộc về «Cung pháp » và «Siêu Đao (超 刀) pháp» ;
- Cuộc Thi thứ nhì, thuộc về «Siêu Đao pháp », «Kiếm pháp», «Cung pháp» trên lưng ngựa (Kị Xạ - 騎 射), và «Cung pháp» trên bộ vừa di chuyển (Bộ Xạ - 步 射) ;
- Cuộc Thi thứ ba, thuộc về «Trận pháp » hỏi theo « Vũ Kinh Thất Thư » để xét trình độ và về Binh-thư để xét khả năng. « Vũ Kinh Thất Thư » (武 經 七 書) đó là :
1. Khương Tử-Nha Thái Công Binh Pháp (姜 子 牙 大 公 兵 法) viết về Lục Thao Tam Lược (六 弢 三 略) vào thời triều Nhà CHU (Zhou - 周) ;
2. Hoàng Thạch Công Tố Thư (黄 石 公 愬 書), gồm có Ba Quyển, viết vào « thời đại Hán Sở Chiến Tranh (楚 汉 战 争 時 代 )» [được quen gọi là « thời đại Hán Sở Tranh Hùng (楚 汉 争 雄 時 代)] (206-202 TCN) ;
3. Tôn Tử Binh Pháp (孫 子 兵 法) Nuớc NGÔ (Wu - 呉), gồm có 13 Thiên, viết vào « thời-đại Xuân-Thu - 春 秋 時 代» (722-481 TCN) ;
4. Ngô Khởi Binh Pháp (吳 起 兵 法) Nuớc Ngụy (Wei - 魏), gốm có 6 Thiên, viết vào « thời đại Chiến Quốc - 戰 國 時 代 » ( 481-221 TCN) ;
5. Tư Mã Điền Nhương Thư Binh-Pháp (司 马 田 勷 舒 兵 法) Nuớc TỀ (Qi - 齊), viết vào « thời đại Xuân Thu - 春 秋 時 代 » (722-481 TCN) ;
6. Uất Liễu Tử Binh Pháp (尉 柳 子 兵 法), Học trò Quỉ Cốc Tử - gồm có Năm Quyển, 24 Thiên - viết vào thời triều Nhà HÁN (Han - 漢) (206 TCN - 220 CN) ;
7. Lý Vệ Công Vấn Ðối (李 衞 公 問 對), gồm có Ba Quyển, viết vào thời triều nhà ÐƯỜNG (Tang - 唐) (618-690 và 705-907 CN).
Thí sinh được trúng tuyển cả ba cuộc thi được đề cử là «Tạo Sĩ - 造 士 » (Tiến-Sĩ Võ-Cử). Những thí sinh chỉ được trúng tuyển hai cuộc thi được đề cử là «Tạo Toát - 造 蕝 » (Tiến SĨ Võ Cử Hạng Nhì).
Trong "Một chuyên du hành đến Đằng Ngoài" của William Dampier thì cả kỵ binh lẫn bộ binh đều giỏi bắn cung và bắn súng.
Vậy ai bảo ta toàn bộ binh nào? Không những có kỵ binh mà cả kỵ binh, bộ binh đều biết xạ chiến tức bắn cung, và về sau là bắn súng

.