tui xin lưu ý 1 điều với bác cham. Đó là hệ thống quân đội ta thời này:
đây là thời khai quốc. Quân đội ta biên chế còn khá sơ sài. Đại khái cái bộ khung là dân chúng tự vũ trang bảo vệ thôn xóm ( hương dũng), lên các cấp địa phương cao hơn ( làng, châu, phủ, đạo) đều thế cả, nên gọi chung là dân binh. Đây là bộ khung chung, toàn 1 đám nghiệp dư cầm vũ khí. Nên cái chức Thập Đạo Tướng Quân nghe cho oai đấy thôi, tuy có nghĩa là " được phép chỉ huy binh sĩ toàn cõi", nhưng thực tế chúng toàn là dân binh, hương dũng cùi tập hợp lại.
Bên cạnh cái bộ khung ấy, Đinh - Tiền Lê còn có 1 lực lượng chính quy hơn, đó là quân riêng của các tướng tá, thủ lĩnh trong triều ( tương tự thời 12 sứ quân ngày trước). Đám này hao hao knight của Tây ( đương nhiên bèo hơn). 1 lãnh thổ sẽ có 1 vài quan chức, tướng tá cai quản, họ ở đó sẽ nuôi 1 đám quân riêng bằng tiền túi của mình. Quân của nhà vua, thời này cũng chỉ tương tự như thế, 1 đám quân riêng được nuôi bởi 1 ông chủ đất giàu nhất nước gọi là "vua". Và theo nhà Tống chép thì cái đội quân chuyên nghiệp nhất nước ấy có 3000 người, bảo vệ Hoa Lư.
tóm lại, khung quân đội thời này thế này đây:
bộ khung chung:
- dân binh bảo vệ làng
- dân binh bảo vệ châu
- dân binh bảo vệ phủ
- dân binh bảo vệ châu
cấp cao hơn chỉ là tập hợp của nhiều nhóm ở cấp thấp hơn.
bên cạnh cái khung đó, còn tồn tại những đội quân riêng, mà total war hay thể hiện dưới dạng lính đánh thuê mà mỗi tướng tự chiêu mộ được:
- quân riêng của tướng tá
- quân riêng của vua ( Cấm vệ).
------------------
nói thế để ông Cham thấy việc thống kê danh sách tên tướng thời Đinh rất quan trọng. Dựa vào đó ta sẽ bắt đầu tìm hiểu tính chất, giai thoại về từng ông tướng thời này ) kiếm được bao nhiêu hay bấy nhiêu). Dựa vào đó, ko những bàn xem nên cho ability mỗi ông là gì, mà quan trọng hơn, còn là xét xem mỗi ông sẽ có khả năng chiêu mộ loại quân gì riêng cho mình nữa. Mà cái đám quân riêng này sẽ là 1 phần cực kỳ quan trọng trong game.
------------------
Sau khi nhận bản thống kê của ông cham, tham khảo 1 chút trên wiki, sắp xếp chia phe 1 chút, đây là danh sách các phe và tướng tá của nó trong giai đoạn 974 đến hết 981:
Tống
Thái thường bác sĩ Hầu Nhân Bảo
Lan Lãng
Đoàn luyện sứ Tôn Toàn Hưng
Bất tác sứ Hác Thủ Tuấn
Yên bi khổ sứ Tràn Khâm Tộ
Tả giám môn tướng quân Thôi Lượng
Ninh Châu thứ sử Lưu Trừng
Quân khi khố phó sư Giả Thực
Cung phụng quan cáp môn chi hậu Vương Soạn
Tướng Quách Quân Biện
Tướng Triệu Phụng Huân
Hồng lô tự khanh Cao Bảo Tự ( sứ giả giao tiếp thời Đinh)
Vương Ngạn Phù ( sứ giả giao tiếp thời Đinh)
Champa:
lao động đường phố mã Ngô Nhật Khánh
Paramesvara Varman I (Bê Mị Thuế; 971-982)
Trung thành với nhà Đinh:
Ngoại giáp Đinh Điền
Định quốc công Nguyễn Bặc
[Ngoại giáp] Phạm Hạp
Tiền Lê:
Thập đạo tướng quân Lê Hoàn ( sau là vua Lê Đại Hành)
Hoàng thái hậu Dương Thị (Dương Vân Nga)
Sư Pháp Thuận ( quân sư, cái ông sau này giả làm chèo đò đọc thơ với sứ Lý Giác ấy)
Tăng thống Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu ( quân sư, đứng đầu Phật giáo)
Đại tướng quân Phạm Cự Lạng (em Phạm Hạp)
sư Vạn Hạnh ( cái này là legend thôi. Thuyền Uyển tập Anh chép Lê Hoàn hỏi ông này đánh chác sao, ông đáp chỉ cần 3 - 7 ngày, giặc tất phải lui. Cái phim LCU hôm nọ cũng bốc cái legend này mà làm phim.)
trong QUOTE đây là các tướng tá mà wiki nêu ra từ cuốn sách tổng hợp về vua Lê Đại Hành và chiến tranh 981. Ghi ở đây làm nguồn tên phụ trợ khi cần nhét thêm:
Lữ Lang được cử đưa đạo quân Uy Dũng từ Hoa Lư lên giữ phòng tuyến bờ Bắc sông Lục Giang (địa phận Thái Bình ngày nay).
Trần Công Tích lên trấn thủ ở Nghĩa Đô gần thành Đại La (Hà Nội ngày nay).
Lê Long Kính trấn thủ ở bờ Bắc sông Hải Triều (tức sông Luộc).
Các tướng lĩnh khác bên phía Đại Cồ Việt gồm có :
Phùng Phường,
Đào Trực,
Hoàng Vĩnh Chu,
Đào Công Mỹ,
Phạm Quảng,
Đào Thành,
Phạm Minh,
Nguyễn Triệt,
Vũ Uy,
Đặng Xuân và 4 em trai, Vương Minh, Vương Xuân, Vương Hồng và 2 em gái,
Dũng Mạnh (hộ vệ Lê Đại Hành).
-----------------------------
Đinh: Các nhân vật thời Đinh nào mà ko rõ số phận sau khi Lê Hoàn lên ngôn vua, sẽ nhét vô đây. Nếu phe Tiền Lê hay Đinh' loyal thiếu người quá thì chia nhau mà nhét vào

:
- Hoàng hậu của Đinh Tiên Hoàng: 1. Đan Gia; 2. Trinh Minh; 3. Kiểu Quốc; 4. Cồ Quốc; 5. Ca Ông
- Đô hộ phủ sĩ sư Lưu Cơ ( coi luật pháp) - là người cai quản, tu sửa thành Đại La, được xem là 1 trong "Tứ Trụ" thời Đinh. Có thuyết bảo chống lại Lê Hoàn nên bị giết, thuyết bảo là đầu Lê nên sống đến tận thời Lý, trao Đại La lại cho Lý Thái Tổ.
Tăng lục Trương Ma Ni ( chức dưới Tăng thống, trông coi Phật giáo)
Sùng chân uy nghi Đặng Huyền Quang ( đứng đầu đạo giáo)
- Trịnh Tú (sứ giả) - cũng là 1 trong " Tứ Trụ", 974 khởi nghĩa đánh Lê Hoàn, bị giết. Là người sứ giả đầu tiên của VN đi thăm TQ trong kỷ nguyên độc lập.
Trần Nguyên Thái (sứ giả) - em của Trần Lãm, là lao động đường phố mã nhà Đinh
- Vệ Vương Đinh Toàn - sau làm tướng thời Tiền Lê, năm 991 theo Lê Hoàn đánh giặc Cử Long, trúng tên chết.
- Nha hiệu Giang Cự Vọng ( sứ giả) - là người thay Lê Hoàn viết thư cho nhà Tống để câu giờ, nhằm chuẩn bị lực lượng.
- Nha hiệu Vương Thiệu Tộ ( sứ giả) - là người thay Lê Hoàn viết thư cho nhà Tống để câu giờ, nhằm chuẩn bị lực lượng.
Ngô Xương Xí ( 1 trong 12 sứ quân)
Đã chết trước 974: ghi chơi cho vui

:
Đinh Công Trứ
Đinh Bộ Lĩnh
Nam Việt Vương Đinh Liễn (con trưởng Đinh Tiên Hoàng)
Hoàng thái tử Hạng Lang (sau bị Đinh Liễn giết)
Chi hậu nội nhân Đỗ Thích ( đã bị giết)
Đinh Thúc Dự ( chú ĐBL, đã bị giết thời 12 sứ quân)
Bà Đàm ( mẹ ĐBL)
công chúa Đinh Phất Kim ( vợ Ngô Nhật Khánh, 979 bị Khánh rạch mặt trước khi bỏ sang Champa)
12 sứ quân:chỉ còn bác Xí còn sống, bác Nhật Khánh chạy qua Champa rồi.
Trần Lãm ( ? – 967)
Lý Khuê – chết
Nguyễn Thủ Tiệp – chết
Lữ Đường – chết
Phạm Bạch Hổ ( 910 – 972)
Nguyễn Siêu – chết
Đỗ Cảnh Thạc – chết
Kiều Thuận – chết
Cựu thần nhà Ngô: chết trong thời 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh đánh.
Xử Bình
Kiều Trí Hựu