Bản dịch tiếp theo và hết chương 8 The Lord of the Rings - The Two Towers:
Chương 8 (tiếp theo)
Đường tới Isengard
Con đường lách qua những bờ đất nhấp nhô từ giữa thềm sông ra tới rìa của dòng sông, rồi lại đi lên ở mé bên kia. Có ba hàng đá phẳng lát dưới lòng nước, và giữa chúng là lối cạn dành cho ngựa lội, từ mỗi bờ cho tới một cù lao trơ trụi ở giữa dòng. Các kị sĩ nhìn xuống những vết lội, và họ thấy lạ ; vì Khúc cạn này thường róc rách tiếng nước chảy qua đá, cùng những luồng nước xô ào ạt ; nhưng giờ đây chúng đều yên lặng. Đáy sông gần như cạn, một nền đất trụi lủi đầy đá cuội và cát xám.
‘Chốn này đã trở nên một nơi ảm đạm,’ Éomer nói. ‘Chứng bệnh gì đến với dòng sông vậy ? Saruman đã phá hoại rất nhiều điều đẹp đẽ, có phải hắn đã hút cạn cả nguồn nước Isen ?’
‘Có lẽ là thế,’ Gandalf đáp.
‘Chao ôi !’ Théoden nói. ‘Ta có nhất thiết phải đi lối này không, nơi bọn quạ đen đã mổ xác của rất nhiều chiến binh anh dũng xứ Mark?’
‘Đây là đường mà ta phải đi,’ Gandalf trả lời. ‘Đau buồn thay sự hi sinh của lính tráng của ngài, nhưng ngài cũng nên thấy rằng, ít nhất thì bọn sói trên núi cũng không ăn xác họ. Thay vào đó, chúng đánh chén xác đám bạn của chúng: lũ Orc. Đó chính là kiểu bạn bè của chúng. Đi thôi!’
Họ phi ngựa xuống tới sông, bọn sói ngừng tru và lẩn đi khi thấy họ. Nỗi khiếp sợ chiếm lấy chúng khi chúng nhìn thấy Gandalf dưới ánh trăng, và chiến mã của ông Shadowfax tỏa sáng như bạc. Các kị sĩ lội tới cù lao, và có những cặp mắt lập lòe đờ đẫn theo dõi họ từ bóng tối của đôi bờ.
‘Nhìn này!’ Gandalf nói. ‘Bạn bè của chúng ta đã lao động ở đây.’
Và họ nhìn thấy, giữa cù lao là một nấm mộ được đắp lên, xung quanh rải đá và cắm nhiều cây thương.
‘Trong nấm mộ này là những người con xứ Mark đã ngã xuống quanh đây,’ Gandalf nói.
‘Mong họ được yên nghỉ !’ Éomer nói. ‘Khi nào những ngọn giáo của họ đã hoen gỉ hay mục ra, mong rằng nấm mộ của họ vẫn đứng đó canh gác cho Khúc cạn của dòng Isen!’
‘Có phải đây cũng là việc ông đã làm, Gandalf bạn ta?’ Théoden nói. ‘Ông đã làm được thật nhiều chỉ trong một tối và một đêm!’
‘Với sự giúp đỡ của Shadowfax – và những người khác,’ Gandalf đáp. ‘Ta đã đi rất cấp tốc và rất xa. Nhưng, bên nấm mồ này, ta sẽ nói để ngài bớt thương cảm: nhiều người đã ngã xuống trong trận chiến nơi Khúc cạn, nhưng không nhiều như lời đồn đâu. Số bị tản ra còn nhiều hơn số bị giết; ta đã tập hợp tất cả những ai mà ta có thể tìm ra.
Ta cử một số đi cùng Grimbold của vùng Westfold để tới hội quân với Erkenbrand. Ta phân công một số đắp nấm mồ này. Nay họ đang đi theo Elfhelm, thống chế của ngài. Ta bảo anh ta cùng nhiều kị sĩ khác phi tới Edoras. Ta biết là Saruman đã xuất tất cả quân của hắn để chống lại ngài, và thuộc hạ của hắn trong những sứ mệnh khác cũng quay sang Helm’s Deep hết: vùng đất này hiện đang vắng bóng quân địch; tuy thế ta sợ rằng bọn cưỡi sói và bọn cướp bóc có thể chạy tới Meduseld khi đang không có ai phòng thủ ở đó. Nhưng hiện giờ thì ngài không cần lo: ngài sẽ thấy cung điện của ngài đón mừng ngài trở về.’
‘Ta sẽ rất vui được thấy lại nó,’ Théoden nói, ‘dù rằng ta chẳng còn ngự ở đó được lâu, ta tin chắc thế.’
Đoàn người từ biệt nấm mộ và hòn cù lao, họ lội qua sông, leo lên bờ bên kia. Họ phi tiếp, nhẹ nhõm vì được ra khỏi Khúc cạn tang tóc. Khi họ đi khỏi, tiếng hú của bọn sói lại cất lên.
Có một đường cái khá cổ xưa đi từ Isengard xuống chỗ lội. Nó chạy dọc bờ sông một đoạn, uốn về phía đông rồi phía bắc, rồi nó rẽ sang và chạy thẳng tới cổng của Isengard, cánh cổng này nằm dưới triền núi phía tây của thung lũng, mười sáu dặm hoặc hơn kể từ miệng thung lũng. Họ men theo con đường này, nhưng không phi ngựa trên nó, vì nền đất hai bên đường bằng phẳng hơn, phủ đầy cỏ non đang mọc trong nhiều dặm.
Giờ đây họ phi nhanh hơn, vào lúc nửa đêm họ đã cách Khúc cạn gần năm dặm lý. Rồi họ ngưng lại, tạm nghỉ chuyến đi đêm, vì Nhà vua đã thấm mệt. Họ đã tới gần chân của Dãy núi Mù sương, và những cánh tay dài của Nan Curunír chạy xuống trước mặt họ.
Thung lũng phía trước tối đen, vì mặt trăng đã lặn về Tây, ánh trăng khuất sau rặng đồi. Nhưng, từ trong bóng đêm của thung lũng, một cột khói và hơi nước lớn bốc lên thành hình xoắn ốc; khi lên cao, nó bắt gặp ánh trăng mờ chiếu và tỏa ra cuồn cuộn, màu đen và xám bạc trên bầu trời đầy sao.
‘Ông nghĩ thế nào về chuyện này, Gandalf?’ Aragorn hỏi. ‘Người ta sẽ nói rằng cả Thung lũng Pháp sư đang bốc cháy.’
‘Luôn có khói lan tỏa trên thung lũng những ngày này,’ Éomer nói, ‘nhưng tôi chưa hề thấy chúng như vậy bao giờ. Đây là hơi nước chứ không phải khói thường. Saruman đang nấu món độc dược gì đó để tiếp chúng ta. Có thể là lão đang đun sôi tất cả nước của dòng Isen lên, thảo nào dòng sông chẳng cạn.’
‘Có thể lắm,’ Gandalf nói. ‘Ngày mai chúng ta sẽ biết lão giở trò gì. Bây giờ ta hãy nghỉ ngơi, chừng nào còn có thể.’
Họ cắm trại bên thềm sông Isen; chung quanh vẫn im ắng và vắng lặng. Vài người ngủ được một chút. Nhưng vào lúc đêm khuya, lính canh la lên, và tất cả bật dậy. Mặt trăng đã lặn. Các ngôi sao đang nhấp nháy trên trời; nhưng một bóng đen, thẫm hơn cả màn đêm, đang trườn trên mặt đất. Nó tiến về phía họ ở cả hai bờ sông, hướng về phía bắc.
‘Ở yên vị trí!’ Gandalf hô. ‘Không được đụng binh khí. Hãy chờ, nó sẽ qua đi!’
Một làn sương mù vây lấy họ. Trên đầu họ, vài ngôi vẫn sáng mờ mịt; nhưng hai bên họ dựng lên những vách tối như hũ nút; họ đang ở trong một làn hẹp giữa những tháp bóng tối di động. Họ nghe thấy giọng nói, những tiếng thì thào và rền rĩ, tiếng thở dài xào xạc không dứt; mặt đất dưới chân họ đang rung chuyển. Họ ngồi đó và run sợ, tưởng như mọi thứ kéo dài vô tận, nhưng rồi rốt cục bóng tối cùng những tiếng rì rào cũng qua đi và biến mất vào giữa các khe núi.
Về tít phía nam ở Hornburg, trong đêm, mọi người nghe thấy một tiếng động lớn, như một cơn cuồng phong trong thung lũng, và mặt đất chấn động; tất cả đều sợ hãi, không ai dám đi ra xem.
Nhưng khi sáng đến, họ ra ngoài và kinh ngạc; vì đám xác Orc đã biến mất, cả khu rừng lạ cũng vậy. Xa xa phía thung lũng của Hẻm núi, cỏ bị giẫm nát và xéo đến xém lại, như thể những mục đồng khổng lồ đã lùa đàn gia súc đông đúc của họ qua; nhưng một dặm phía dưới Lũy, một cái hố to tướng bị đào vào lòng đất, và trên nó, đá chất thành gò. Mọi người tin rằng xác bọn Orc nằm chất đống hôm trước bị vùi trong đó; nhưng không ai biết liệu những tên Orc chạy vào khu rừng có chung số phận hay không, vì chưa có ai dám đặt chân lên cái gò đó. Sau này nó có tên là Gò Chết chóc, và không ngọn cỏ nào mọc trên đó. Nhưng đám cây lạ không bao giờ còn thấy bóng dáng ở Thung lũng Deeping nữa; chúng đã rời đi vào ban đêm, và về tới tận xa những vùng trũng tối tăm của Fangorn. Chúng đã báo thù bọn Orc như thế.
Nhà vua và đoàn đồng hành không ngủ tiếp đêm đó; nhưng họ không nghe hoặc thấy thêm chuyện lạ lùng gì nữa, trừ một điều: âm thanh của dòng sông bên cạnh họ bỗng nhiên thức giấc. Tiếng nước hối hả xô xuống dọc nền đá; và sau đó, dòng Isen lại sủi bọt chảy tràn trên lòng sông, như nó vẫn hằng chảy.
Vào lúc bình minh, họ lại sẵn sàng để đi tiếp. Ánh ngày trở nên nhạt nhòa và xám xịt, họ không nhìn thấy mặt trời mọc. Sương mù trĩu xuống trong không khí, và một làn khói bao phủ lấy vùng đất chung quanh họ. Họ phi trên con đường cái với tốc độ chậm hơn. Con đường khá rộng và chắc nền, và được bảo trì tốt.
Qua làn sương, họ có thể nhận thấy lờ mờ những cánh núi dài dựng lên ở phía trái họ. Họ đã đi vào Nan Curunír, Thung lũng Pháp sư. Đó là một thung lũng được bao bọc, chỉ hở ra ở mé Nam. Nơi này từng xanh tốt, và dòng sông Isen sâu thẳm chảy ào ạt qua đây trước khi xuống đến đồng bằng, vì nó được tiếp nước bởi nhiều dòng suối nhỏ và những mạch nước trong rặng đồi hứng mưa, và chung quanh đó là một vùng đất màu mỡ.
Giờ đây nó đã đổi khác. Bên dưới tường thành của Isengard, vẫn có những mẫu đất được nô lệ của Saruman vun trồng; nhưng phần lớn thung lũng đã trở thành một bãi hoang đầy cỏ dại và gai góc. Những bụi gai lê lết trên mặt đất, hoặc mọc leo lên các lùm bụi và gò đống, tạo thành những hốc bờm xờm cho các loài sinh vật nhỏ nương náu. Không có cây lớn nào mọc; nhưng giữa đám cỏ rậm rạp, thỉnh thoảng họ lại thấy những gốc cây cháy trụi hoặc bị chặt ngang sót lại từ những lùm cây cổ thụ. Một vùng đất tang thương, không còn tiếng động nào khác ngoài tiếng nước chảy trên đá. Khói và hơi nước trôi dạt theo những đám mây ủ rũ, lẩn quất trong các hốc núi.
Các kị sĩ không nói năng gì. Nhiều kẻ trong số họ nghi hoặc trong lòng, tự hỏi chuyến đi của họ sẽ dẫn tới khung cảnh buồn thảm nào nữa.
Khi họ đã phi qua được vài dặm, con đường cái mở rộng ra và được lát đá tảng nhẵn, vuông vức và khéo léo; không một lá cỏ nào mọc trên các kẽ đá. Những rãnh nước sâu chảy nhỏ giọt ở hai bên đường. Một cái cột cao đột ngột hiện ra trước họ. Nó đen tuyền; và trên đỉnh cột là một tảng đá lớn được tạc và tô vẽ theo hình một Bàn tay Trắng dài ngoẵng. Ngón tay của nó trỏ về phía bắc. Họ biết rằng cánh cổng của Isengard không còn xa nữa, trái tim họ thấy nặng nề; nhưng mắt họ không thể nhìn xuyên qua làn sương mờ phía trước.
Bên dưới cánh núi, trong Thung lũng Pháp sư, một công trình cổ đã đứng nơi đây tự bao năm tháng mà Con người gọi là Isengard. Nó được tạo thành một phần bởi dãy núi, nhưng Con người của miền Tây đã kì công xây nên nó từ thời xưa; Saruman đã ngụ ở đó từ rất lâu, và không hề ngơi nghỉ.
Đây là kiểu cách của nơi này, khi Saruman còn đang ở đỉnh cao quyền lực, và được nhiều kẻ coi như thủ lĩnh của hội Pháp sư. Một vòng tường thành lớn bằng đá, như những bức vách chót vót, chìa ra từ cánh núi che chắn và chạy bao quanh. Lối vào duy nhất là một cổng vòm vĩ đại được khoét trên tường thành phía nam. Tại đó, một đường hầm dài được đục xuyên qua đá đen, hai đầu bít cửa sắt nặng. Chúng được đặt trên những bản lề khổng lồ, những cọc thép ăn vào trong lòng đá, để khi nào cửa không chốt thì chỉ một cú đẩy nhẹ có thể mở cửa ra không gây tiếng động.
Ai đi vào và ra khỏi được đường hầm vang vọng, sẽ thấy một vành tròn rộng lớn bằng phẳng, trũng xuống như một lòng chảo, với đường kính một dặm. Nó từng tốt tươi và chằng chịt những con đường rợp bóng cây quả, được tưới tiêu bởi những dòng suối chảy từ núi xuống một cái hồ. Nhưng trong những ngày này của Saruman, không còn màu xanh ở đó. Đường đi được lát từng phiến đá, tối tăm và khô cứng; hai bên đường, thay vào cây cối là những hàng cột dài bằng cẩm thạch hoặc đồng và sắt, nối với nhau bằng những dây xích nặng.
Nơi này có rất nhiều nhà cửa, phòng ốc, sân sảnh, lối đi, tất cả được đục và đào xuyên qua vách đá ở mặt trong, nên cả vùng lòng chảo được giám sát bởi vô số cửa sổ và cửa chính tối thui. Nơi này có thể chứa được hàng ngàn người ở: thợ, nô bộc, nô lệ, chiến binh với cả kho vũ khí; bọn sói được nuôi nhốt trong những hang sâu ở bên dưới.
Cả cánh đồng cũng bị đào khoét. Những hầm lò ăn sâu vào trong lòng đất, nắp bên trên của chúng được che lại bởi các mô đất và vòm đá thấp, khiến cho Vòng thành Isengard nhìn dưới ánh trăng như một nghĩa địa của những người chết không yên nghỉ. Vì nền đất thường rung chuyển. Những hầm lò chạy xuống nhiều đoạn dốc và cầu thang xoắn ốc cho tới những hang động ở tít sâu bên dưới; ở đó Saruman cất giữ châu báu, lương thảo, binh khí, xây lò rèn và lò luyện kim quy mô. Những bánh xe thép quay liên miên, và búa đập đe không ngớt. Vào ban đêm, những chùm hơi nước bốc lên khỏi lỗ thông hơi, ánh lên từ bên dưới với màu đỏ, hoặc lam, hoặc xanh như nọc rắn.
Tất cả các lối đi đều dẫn về trung tâm, giữa những hàng xích. Ở đó đứng sừng sững một ngọn tháp có hình thù phi thường. Nó được xây theo lối thợ xưa, những người đã gọt giũa Vòng thành Isengard, nhưng đồng thời nó vẫn có dáng vẻ phi nhân tạo, dường như nó được chẻ ra từ mạch đá của rặng đồi trong những ngày quằn quại. Nó là một chỏm đá, một hòn đảo giữa lòng chảo, đen thẳm nhấp nhánh: bốn cái trụ lớn bằng đá nhiều mặt được cố kết lại thành một, nhưng ở gần đỉnh thì chúng mở ra như một dãy sừng hở. Chỏm tháp nhọn hoắt như mũi giáo, và sắc cạnh như lưỡi dao. Ở giữa chúng là một khoảng hẹp, một sàn đá được đánh nhẵn, khắc nhiều dấu hiệu kì lạ, trên đó một người có thể đứng ở tầm cao năm trăm bộ so với đồng bằng. Đó là Orthanc, thành trì của Saruman, một cái tên có hai nghĩa, do cố ý hoặc do tình cờ: trong tiếng Tiên, orthanc mang nghĩa Mỏm Nanh nhọn, còn trong ngôn ngữ cổ xứ Mark thì nó lại có ngụ ý là Trí óc Giảo hoạt.
Isengard từng là một đồn lũy kiên cố và một thắng cảnh tuyệt diệu; ở đó từng có những vị lãnh chúa cao quý cư ngụ, các thống đốc của Gondor ở miền Tây, những nhà thông thái tới ngắm thiên văn. Nhưng Saruman đã dần lái nó theo mục đích mới của hắn, và làm cho nó trở nên hùng mạnh hơn, theo hắn nghĩ.
Nhưng hắn đã nhầm, vì tất cả những kỹ nghệ tinh xảo và thiết bị tân kỳ đó, vì chúng mà hắn từ bỏ trí khôn vốn có, vì chúng mà hắn tưởng mình sáng chế vĩ đại, thực chất chúng đều tới từ Mordor; thế nên những gì hắn tạo ra chỉ là con số không, một bản sao tầm thường, một mô hình ấu trĩ hoặc một sản phẩm xu nịnh của kẻ nô tài, so với pháo đài đồ sộ của bản gốc. Barad-dûr, Tòa tháp Hắc ám, với xưởng vũ khí, nhà tù, với những lò lửa lớn, Barad-dûr không chấp nhận bất cứ kẻ nào đứng ngang hàng, nó cười nhạo những sản phẩm xu nịnh, nó ngạo nghễ đứng chờ thời với sức mạnh khôn cùng của nó.
Đó là dinh lũy của Saruman, như thiên hạ vẫn đồn; vì trong kí ức của những người còn sống, chưa có ai ở Rohan từng đi vào trong cánh cổng này, có thể là trừ ra một vài kẻ, chẳng hạn như Lưỡi Rắn, những kẻ chỉ bí mật đi vào mà không kể với ai những gì họ nhìn thấy.
Lúc này Gandalf đã phi ngựa tới cây cột lớn của Bàn tay Trắng, và vượt qua nó: khi đó các Kị sĩ ngạc nhiên nhận ra rằng Bàn tay không còn mang màu trắng. Nó lấm tấm máu khô; và khi nhìn gần họ thấy rằng móng tay nó sậm đỏ. Gandalf không để tâm đến nó, ông đi vào trong màn sương mù, và họ e ngại phi theo ông. Chung quanh họ, như thể một cơn lũ vừa đột ngột quét qua, có những hố nước rộng nằm bên cạnh con đường, nước ngập đầy những hốc trũng, và chảy ri rỉ xuống các khe đá.
Cuối cùng, Gandalf dừng ngựa và ra hiệu cho họ, họ tới gần ông và nhận thấy rằng, phía trước ông sương mù đã tan, và ánh mặt trời yếu ớt chiếu xuống. Đã quá chính ngọ. Họ đã đến được cánh cổng của Isengard.
Nhưng những cánh cổng đã bị lật nhào và đang nằm chỏng chơ trên mặt đất. Xung quanh đó, những tảng đá bị vỡ ra thành muôn mảnh vụn lởm chởm, vương vãi tung tóe khắp nơi hoặc được chất đống ngổn ngang. Mái vòm lớn vẫn còn đó, nhưng nó mở vào một cái hốc không mái che: đường hầm bị phơi ra trơ trụi, và những bức vách như dốc đá ở hai bên mang đầy vết nứt toạc. Dẫu Biển cả có nổi trận lôi đình và dội sóng lên rặng đồi cũng không thể gây ra thiệt hại lớn hơn thế.
Bên trong vòng thành, hơi nước bốc đầy: như một cái vạc sôi sùng sục, với những cột kèo đổ nát nổi lềnh bềnh, và những hòm xiểng cùng thiết bị gãy trôi giạt. Những cái trụ lớn bị xô nghiêng, xiêu vẹo ngoi lên khỏi mặt nước lũ, nhưng tất cả những con đường đều bị đánh chìm. Mỏm đá chính hiện lên lờ mờ trong màn hơi cuộn xoáy, như thể nó ở rất xa. Ngọn tháp Orthanc vẫn sừng sững đứng đó, tối tăm và cao vút, không bị hư hại sau cơn bão. Làn nước đục ngầu vỗ bập bềnh vào chân tháp.
Nhà vua và đoàn đồng hành ngồi lặng đi trên yên ngựa, kinh ngạc nhận ra rằng quyền lực của Saruman đã bị nhổ bỏ, nhưng bằng cách nào thì họ không thể đoán ra. Rồi họ đưa mắt nhìn về phía mái vòm và cánh cổng vỡ. Ở đó, họ thấy một đống lớn đá vụn ở ngay cạnh họ, và họ đột nhiên nhận ra rằng có hai hình thù nhỏ bé đang nằm dài khoan khoái trên đó, ăn vận xám, rất khó để phân biệt với màu đá chung quanh. Vỏ chai và bát đĩa bày la liệt bên cạnh hai kẻ này, dường như họ vừa đánh chén no say và chuẩn bị làm giấc. Một kẻ đang ngủ, kẻ kia ngồi dựa vào một tảng đá vỡ, bắt chéo chân và kê cánh tay sau đầu, miệng nhả ra những làn khói nhỏ và vòng khói mảnh màu lam.
Théoden và Éomer cùng tất cả binh lính nhìn chằm chằm vào hai kẻ này, không tin vào mắt mình. Trong quang cảnh đổ nát của Isengard, cảnh tượng này mới là lạ lùng nhất với họ. Nhưng trước khi nhà vua kịp nói gì, kẻ nhỏ bé vừa nhả khói đã nhận ra sự có mặt của họ, khi họ đang ngồi lặng lẽ trên yên ngựa bên lề của màn sương.
Anh ta nhỏm ngay dậy. Anh ta giống như một thanh niên, hoặc mang dáng vẻ như thế, nhưng không cao quá nửa người thường; anh ta không đội mũ trên mái đầu tóc nâu loăn xoăn, nhưng anh ta mặc áo choàng bộ hành lấm tấm bùn với cùng kiểu cách và tông màu như ba người bạn đồng hành của Gandalf vẫn mặc khi họ phi ngựa tới Edoras. Anh ta cúi người xuống rất thấp, đặt tay trước ngực, tỏ vẻ không nhìn thấy vị pháp sư và ba người bạn đồng hành, anh ta hướng tới Éomer và nhà vua.
‘Chư vị, xin đón chào tới Isengard!’ anh ta nói. ‘Chúng tôi là những người gác cổng. Tên tôi là Meriadoc, con trai của Saradoc; và anh bạn đây của tôi, ô hô! người đang căng da bụng trùng da mắt’ – anh ta lấy chân khẽ hích kẻ kia – ‘là Peregrin, con trai của Paladin, thuộc dòng họ Took. Quê chúng tôi vốn ở xa tít phương Bắc. Đức ông Saruman đang ở trong kia, nhưng vào lúc này đức ông đang hội ý riêng với một Lưỡi Rắn nào đó, nếu không thì đức ông đã đích thân ra đây để nghênh đón chư vị khách quý.’
‘Hẳn nhiên là hắn muốn ra rồi!” Gandalf cười vang. ‘Có phải Saruman đã lệnh cho hai cậu gác cánh cổng vỡ của hắn, và canh chừng lúc khách đến, nếu như hai cậu có thể dứt tâm trí ra khỏi bát đĩa và vỏ chai?’
‘Không đâu, thưa ông khách thân mến, hắn ta không có lòng dạ nào nghĩ đến chuyện này,’ Merry trả lời nghiêm trang. ‘Chúng tôi nhận lệnh từ Treebeard, người đang nắm toàn quyền ở Isengard. Cụ ấy bảo chúng tôi ra đón Chúa tể của Rohan với những lời tôn kính. Tôi đã làm tròn phận sự.’
‘Thế còn những kẻ từng đồng hành với cậu thì sao? Cậu tính thế nào với tôi và Legolas?’ Gimli la lên, không nhịn nổi lâu hơn. ‘Hai cậu nhóc này, đồ lêu lổng rậm chân rậm đầu! Hai cậu đã khiến bọn tôi phải đuổi theo bở hơi tai! Hai trăm dặm lý, xuyên qua những đầm lầy và rừng cây, qua những trận chiến sinh tử, để giải cứu các cậu.
Thế rồi tôi tới và thấy hai cậu ở đây ăn uống chè chén – và hút tẩu nữa! Hút tẩu! Các cậu lấy thuốc nhồi tẩu ở đâu ra vậy, hở đồ xấu tính? Búa và kìm ta ơi! Tôi không biết nên mừng hay nên cáu, tôi mà không nổ tung ra mới lạ đấy!’
‘Anh nói thay tôi rồi đấy, Gimli!’ Legolas phá lên cười. ‘Mặc dù điều tôi muốn biết nhất là họ kiếm rượu vang từ đâu.’
‘Các anh không khôn ra sau cuộc săn đuổi gì cả,’ Pippin nói, mở hé một mắt. ‘Các anh đang thấy chúng tôi ngồi ở nơi thắng trận, giữa những chiến lợi phẩm đoạt được, thế mà các anh lại hỏi mấy món thành quả này ở đâu ra.’
‘Thành quả?’ Gimli hỏi. ‘Tôi thật không tin nổi!’
Các Kị sĩ cười to. ‘Rõ ràng là chúng ta đang chứng kiến cuộc tái ngộ của những người bạn thân thiết,’ Théoden nói. ‘Vậy ra đây là những người bị bắt đi trong hội đồng hành của ông hở Gandalf? Số phận mang tới bao kì diệu cho những ngày này. Ta đã thấy rất nhiều kể từ lúc ta rời khỏi cung điện; và giờ đây ngay trước mắt ta là một giống loài khác chỉ có trong truyền thuyết. Đây có phải là những Halfling, mà một số người dân xứ ta gọi là Holbytlan?’
‘Xin vui lòng gọi là hobbit, thưa ngài,’ Pippin nói.
‘Hobbit?’ Théoden hỏi. ‘Tiếng của các cậu khá khác thường, nhưng cái tên thì nghe không đến nỗi xa xôi. Hobbit! Không có lời đồn thổi nào mà ta từng nghe lại đạt đến sự thật này cả.’
Merry cúi mình, còn Pippin đứng dậy và cũng cúi chào. ‘Ngài thật tử tế, thưa lãnh chúa; tôi hy vọng tôi hiểu đúng ý ngài,’ cậu đáp. ‘Và đây là một điều khác thường đối với chúng tôi: tôi đã đi qua rất nhiều miền đất kể từ khi tôi ra khỏi làng, và cho đến tận bây giờ tôi chưa gặp ai biết về bất cứ chuyện gì của hobbit cả, trừ ngài.’
‘Người xứ ta cũng tới từ phương Bắc cách đây không lâu,’ Théoden nói. ‘Nhưng ta không muốn làm cậu mừng hụt: chúng ta không biết chuyện gì về hobbit đâu. Chúng ta chỉ truyền tụng với nhau rằng, ở một nơi xa rất xa, qua nhiều con sông ngọn núi, có một giống người nhỏ bé sống trong lỗ đào dưới những đụn cát. Nhưng không có câu chuyện nào kể cụ thể về họ. Vì người ta nói rằng, giống loài này không can dự vào đại sự, và lẩn tránh Con người, rằng họ có thể biến mất trong nháy mắt, có thể đổi giọng cho giống với tiếng chim kêu chiêm chiếp. Nhưng có vẻ sự thật còn nhiều điều hơn thế.’
‘Rất có thể, thưa ngài,’ Merry nói.
‘Một điều trong số đó là,’ Théoden nói, ‘ta chưa từng nghe rằng họ có thể thở ra khói bằng mồm.’
‘Tôi không lấy làm lạ,’ Merry đáp, ‘vì chúng tôi không hút tẩu từ nhiều đời nay rồi. Thực chất cụ Tobold Hornblower ở làng Longbottom ở miền Southfarthing là người đầu tiên đã trồng cây thuốc tẩu trong vườn, khoảng năm 1070 trong lịch của chúng tôi. Cụ Toby tìm ra cây thuốc này như thế nào…’
‘Théoden, ngài chưa biết nguy cơ của ngài đâu,’ Gandalf ngắt lời. ‘Hai cậu hobbit này sẽ ngồi bên đống đổ nát và con cà con kê về chuyện ăn uống bếp núc, về chiến công vặt của cha ông cụ kị họ, về những anh em con cô con cậu đời thứ chín thứ mười, nếu ngài khuyến khích họ và kiên nhẫn lắng nghe. Lúc khác sẽ thích hợp hơn để nghe về lịch sử cây thuốc tẩu. Treebeard đang ở đâu vậy Merry?’
‘Ở phía bắc đằng kia, tôi chắc thế. Cụ ấy tới đó để uống nước trong. Phần lớn các Ent đi cùng cụ ấy đang bận lao động – ở kia kìa.’ Merry vẫy tay về phía cái hồ đang bốc khói; họ nhìn ra đó, và họ nghe thấy một âm thanh rào rào ở đàng xa như thể núi lở. Vọng lại một tiếng hum-hom, giống như tiếng kèn thắng trận.
‘Vậy thì không ai gác Orthanc à?’ Gandalf hỏi.
‘Nó bị nước vây quanh mà,’ Merry đáp. ‘Nhưng Quickbeam và một số khác đang trông chừng nó. Không phải mọi cây cột và trụ ở cánh đồng này đều do Saruman trồng nên đâu. Tôi nghĩ rằng Quickbeam đang đứng cạnh mỏm đá kia kìa, gần chân cầu thang.’
‘Phải, có một Ent cao lớn màu xám đứng đó,’ Legolas nói, ‘nhưng cánh tay ông ta buông thõng, và trông ông ta như thể một cái trụ cổng.’
‘Quá trưa rồi,’ Gandalf nói, ‘và chúng ta chưa ăn uống gì từ sáng sớm. Nhưng ta muốn được gặp Treebeard càng sớm càng tốt. Cụ ấy có nhắn gì ta không, hay là chén bát chai lọ đã làm hai cậu quên khuấy rồi?’
‘Cụ ấy có nhắn ông,’ Merry đáp, ‘và tôi đang định nói đây, nếu không vì các vị tra hỏi tôi nhiều thứ quá. Tôi định nói rằng, nếu Chúa tể xứ Mark và Gandalf phi ngựa tới tường thành phía bắc, họ sẽ gặp Treebeard ở đó, và cụ ấy sẽ đón chào họ. Tôi xin nói thêm rằng, ở đó họ sẽ tìm thấy những thức ăn tốt nhất, được những kẻ phục vụ nhỏ bé này phát hiện ra và chọn lọc.’ Cậu cúi mình.
Gandalf cười. ‘Tốt hơn rồi đấy!’ ông nói. ‘Nào, Théoden, ngài có muốn đi cùng ta tới gặp Treebeard? Chúng ta sẽ phải đi vòng, nhưng không xa đâu. Khi ngài gặp Treebeard, ngài sẽ học hỏi được nhiều. Vì Treebeard là Fangorn, là kẻ già cả nhất và đứng đầu các Ent, khi ngài nói chuyện với cụ ấy, ngài sẽ nghe được lời của sinh vật sống cao tuổi nhất.’
‘Ta sẽ đi cùng ông,’ Théoden nói. ‘Giã biệt, những hobbit của ta! Mong rằng chúng ta sẽ gặp lại trong cung điện của ta. Ở đó các cậu có thể ngồi cạnh ta và kể ta nghe tất cả những gì các cậu muốn: chiến công của cha ông các cậu, cho đến đời xa nhất mà cậu nhớ được; rồi chúng ta sẽ nói chuyện về cụ Tobold Già và cây cỏ của cụ ấy. Tạm biệt!’
Hai hobbit cúi chào rất thấp. ‘Vậy đây là Đức vua của Rohan!’ Pippin nói khẽ. ‘Một ông lão đáng kính. Rất lịch thiệp.’
Hết chương 8
Người dịch: proudfoot @gamevn
Ảnh minh họa: Sưu tầm