giáp, trang phục
bác cho em hỏi ngày xưa quân đội đại việt có mặc giáp ra trận không và giáp có giống với loại trong phim không.
.....
À, ngôn ngữ trong phim là của kim dung, đại hiệp với thiếu hiệp thay cho bác và em, huynh huynh với muội muội thay cho anh và em. Ngôn ngữ đó là đặc trưng của kịch bản cặn bã được viết bởi những kẻ liệt não , những kẻ không có bất cứ ngôn từ nào ngoài giở truyện hạ đẳng ra. Cũng như vtc8 chiếu phim đồng bào dân tộc nói toàn ngôn ngữ văn phòng.
Còn giáp thì có, nhưng ngày xưa rất hiếm, vì khí hậu Đại Việt nóng mặc bộ áo da trâu mùa hè hơi sướng. Quân Việt ngày xưa hầu hết là áo trắng hay áo chàm, cầm khiên, đi đất. Đội trưởng hơn ở cái mũ đầu mâu. Võ quan to có mặc giáp, nhưng ít. Và giáp của Đại Việt đương nhiên không như giáp Tầu. Giáp Tầu cũng đương nhiên khác xa giáp giả cổ của phim tầu.
Mình định tìm cho bạn một số hình ảnh về giáp nhà ta thời xưa. Nhưng các đồng chí bên quân sử các đồng chí ấy khóa, bạn cần có acc để vào
Binh chế Đại Việt thế kỷ XI - XV
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=141.0
Đọc hay xem ở đâu thì cũng cần có cái đầu. Chúng ta không phải là lợn ăn cám. Về các đồng chí quân sử, thì trình độ của các đồng chí ấy cũng dạng thế này. Mình không dẫn trong link có khóa để bạn cùng đọc. Mình cũng vừa thấy cái này khi tìm mấy cái ảnh cũ cho bạn.
====
Giáp thời cổ ở Việt Nam thì đương nhiên thời Tây Sơn là đỉnh điểm. Thế nhưng tướng đứng đầu quân Tây Sơn là Hoàng Đế Quang Trung cũng chỉ áo vải. Ông là tướng đánh trận trực tiếp chứ không phải là tướng bàn gấy như Khổng Minh.
Giáp nhẹ hay không có giáp không phải là một nhược điểm thời cổ. Ví dụ,
quân Mông Cổ được các đồng chí như Lịch sử vn hay các đồng chí khác bôi vẽ như hề. Nhưng thật ra quân Mông Cổ chỉ mặc lai lớp áo chính. Bên ngoài là da dầy, bên trong là tơ tằm se đôi dệt chéo (chập hai sợi thường vào se săn , dệt lóng đôi , loại này vừa chắc vừa bền), loại vải bền nhất thời cổ. Những mũi tên có đầu xương có thể vỡ ra, nhưng khó xuyên lớp tơ tằm dai này mà đẩy vải xuyên vào vết thương, người ta nhấc vải ra lấy các mảnh đầu tên. Quân Mông Cổ đội cái mũ da Hồng Quân chóp nhọn như Pa-ven Coóc-Sa-Ghin. Bên ngoài có thể mặc thêm áo vải thêu cho đẹp hay lông thú cho ấm. Quan Mông Cổ thì độ mũ lông Tactar mà chúng ta hay mua ở Nga về.
Nhật Tầu Việt đều dùng chung một loại giáp như hình các ông kim cương trên chùa. Nhưng trong các phim họ vẽ vời ra làm sai hết. Các giáp này có nhiều phần, mặc từng phần. Chúng có bên trong là da thú hay vải bền, lợp các tấm cứng bằng kim loại gò hay mây-tre đan. Mây-Tre lấy cật vót mỏng nhỏ đan dầy thấm sơn, làm khiên giáp rất chắc và nhẹ. Phần lớn các bộ giáp "hàng sang" có tấm che ngực và vai là gò đồng, các phần khác là tấm đan tẩm sơn.
Giáp của Quang Trung cũng vậy, là một loại giáp gi-lê nhỏ nhẹ bên trong. Áo giáp kiểu này có một miếng cứng đệm ngực gọi là "yểm tâm kính". Gọi là kính yểm vì người ta tin rằng nó chống được cả ma quỷ khi hắt sáng (kính gương). Dưới tấm che ngực cứng là các khớp bụng như bụng cào cào. Phía sau có thể không có giáp cứng, chỉ có da, hoặc vải, hoặc cũng có giáp như trước.
gi-lê giáp có thêm hai cái u vai là cứng liền khối. Sau khi mặc u vai thì mặc hai ống tay cũng bằng vải-da phủ tấm cứng . Các ống tay vai-khủy và cánh tay khủy-cổ, chỉ phủ cứng nửa ngoài, hoặc kín bằng hai nửa, bằng ống cứng. Dưới là cái váy phủ vẩy. Trên đầu là mũ đầu mâu. Mũ có thể có vải phủ vẩy che gáy-cổ. Dưới là ủng.
Bộ giáp này rất ít khi được mặc toàn bộ vì nó nặng nề. Một bộ binh tốt thì đóng khố cầm khiên sẽ lợi hơn-khó bị giết hơn, như là mang bộ giáp nặng. Nhưng các chiến binh sợ chết thì đương nhiên thích giáp càng nặng càng sướng, bất chấp họ càng dễ chết.
Bộ binh mang giáp ở châu Âu là loại đắt tiền, mang giáp dài, xọc xiên của đế chế. Sau chúng là bộ binh cơ giới = long binh, chiến đấu bộ nhưng đi ngựa. Đến thời có súng thì súng ban đầu là 'trung liên đạn ria' ngắn nặng 10kg, không tự vệ được, nấp trong hàng giáp binh giáp dài. Binh chủng này xếp hàng ô vuông chống lại kỵ binh. Nhưng nếu không bảo vệ nó, thì nó bị kỵ binh tưới tên lửa. Tất nhiên giáp châu Âu khác giáp ta.
Bên ta không có giáp binh như Tầu-Âu, giáp chỉ dùng cho Tướng, và Tướng của các Tướng là Quang Trung cũng vô kỷ luật ít khi mặc đủ giáp. Ngược lại, bên Nhật thì Samurai nào cũng là giáp binh. Binh khí - quân phục truyền thống của ta là.
Khiên mây tre đan tẩm sơn, giáo dài. Quần áo thì từ khố cho đến quần áo dài. Mũ là loại nón nhỏ đan tre lợp lá, cũng có thể sơn.
Các chiến binh "có điều kiện" thì thay giáo bằng siêu đao, là loại đao (dao) có cán và lưỡi nhẹ-dài-nhọn như mũi giáo, nhưng ngoài đâm ra thì còn chặt được. Siêu đao lưỡi khá nặng, vì thế không được linh hoạt khi đâm, chỉ có sức hơn khi chém. Chiến đấu trong đội hình thì chủ yếu là đâm.
Những binh chủng thiện chiến nhất mang theo mã tấu-khiên và lao ngắn, chúng đột kích nhanh.
Vũ khí phụ là dao rựa hay dao phay, vừa là công cụ lao động, vừa là vũ khí. Cung nỏ và tên.
Và vũ khí phụ quan trọng nữa là các lao ngắn và quẩy (phiêu, dây quăng tên-đá). Tất nhiên dao thì chế được ra lao.
Lao ngắn và vũ khí đáng sợ nhất của quân ta, theo Minh Sử thì lao-phiêu đã giết Liễu Thăng, chúng có số lượng nhiều, tầm khá xa, chặn kỵ binh hiệu quả, hay phủ đầu khi xung phong rất mạnh. Đối với giáp binh địch thì có lao tẩm lửa, quẩy quăng đá hay giỏ lửa, cung nỏ bắn tên lửa....
Nếu so sánh thì bên Nhật quân sỹ hay dùng siêu đao, có vẻ họ giầu hơn ta. Tuy nhiên, thực chất là tỷ lệ chiến binh bên Nhật rất thấp, chẳng mấy khi đánh nhau to. Thật ra, siêu đao của Nhật Bản không thật sự là siêu đao, nếu như lê của súng là lưỡi giáo, thì có thể coi "siêu đao" Nhật Bản là một loại giáo nhưng không dùng lê ba cạnh mà là lê lá lúa. Nga và Đức vẫn dùng các loại lê dẹt, tháo ra khỏi súng thì dùng như dao kiếm. Cái "siêu đao" của Nhật Bản vẫn được gọi là thương=giáo. Vì lưỡi dẹt, nên nó dễ đâm xuyên qua giáp da hơn, những ngược lại không cứng bằng lưỡi tròn=hoặc ngược lại yêu cầu kim loại cứng hơn nếu muốn cứng như lưỡi tròn.
Như vậy, một chiến binh thời Trần có trang phục mùa hè là: khăn quấn đầu hay nón nhỏ, khiên tròn đan băng mây-tre tẩm sơn ta, mã tấu hay giáo tùy binh chủng, đi đất, xăm mình, cởi trần mùa hè và áo tơi mùa đông, đóng khố (chắc chắn là khố xịn không có sịp ). Tiểu đoàn trưởng có mũ đầu mâu để anh em nhìn mà theo. Các chú không đeo ba lô, chỉ có dây lưng bằng thừng thắt lại đeo dao, ống cơm, ống nước bằng tre.
Áo tơi không phải bằng ni nông, mà là cái tranh cuốn lại xù như nhím, ở quê còn đầy.
Tức là các chú bộ đội thời trần trông không lịch sự nhưng rất gợi dục nghĩa đen
Bộ đội lăng, tức cấm vệ quân, thì không thể xăm mình cởi trần đóng khố gợi dục các cung tần mỹ nữ vốn mấy trăm bà chung nhau một cái cần tăng dân số, mà ăn mặc lịch sự chút.
đội khăn xếp, áo dài, quần dài. Nhưng quan mới được đi giầy dép.
Nhắc là đội khăn nhưng bộ đội ta không húi cua, mà búi tó củ hành xỏ trâm.
Chiến thuật cổ và chó dại
Điều phân biệt rõ ràng giữa các phim chó dại và phim văn hóa là chiến thuật cổ. Với phim trình diễn đúng những đạo quân mạnh thời cổ, thì quân dàn ngang hay xếp ô vuông, đi đều, đâm chém đồng loạt. Đó là nguyên tắc hỏa lực tập trung trong binh pháp.
Nguyên tắc hỏa lực tập trung có thể trình bầy ngắn thế này. Ví dụ, ta và địch mỗi bên đều có 3 súng, mỗi súng có 3 máu / trúng một đạn hao một máu tức trúng 3 đạn thì súng chết, hai bén súng bắn đều nhau cả về tốc độ bắn và đạn. Điều khác biệt là thế này, ta khôn hơn địch ^!^. Súng địch bắn kiểu vô học bất thuật, mỗi súng địch nhằm một súng ta. Ta thì có sách "hỏa lực tập trung", tất cả các súng ta nhằm chung vào một địch. Như vậy, sau một loạt đạn đầu tiên hai bên bắn cùng lúc, thì địch chết 1còn 2 thằng khỏe, ta mỗi súng mất một máu nhưng còn cả 3. Sau loạt đạn thứ 2, thì ta còn 1 súng 2 máu và 2 súng 1 máu, địch lại chết thêm 1 súng và chỉ còn 1 súng đủ 3 máu. Sau loạt đạn thứ 3, bên ta có thể có một đồng chí anh dũng hy sinh - nếu như thế thì còn lại 2 đồng chí - trong đó có một đồng chí còn 1 máu và một đồng chí còn 2 máu, địch thì chết hết và game over.
Như thế, khi đánh nhau , "tổ" hay "tiểu đội" bộ binh thời cổ xếp hàng, tất cả cùng đâm-chém một lượt vào một mục tiêu. Chí ít họ cũng xếp hàng và đồng loạt đâm một nhịp, để có sức đẩy lùi hàng đối phương như một nhịp hô kéo pháo thời nay.
Có thể xem giáp, thương kiểu Nhật, và chiến thuật thời cổ rất giống ta, trong các phim Nhật như BALLAD 名もなき恋のうた 2009 = mối tình không tên, Heaven And Earth 川中島合戦 1990.
Ngược lại, các phim đóng đội quân cổ đại hò hét xung phong ào ào... như ngày nay, là các phim hoang tưởng bạo lực chó dại, có tính chất như "bụi đời Chợ Lớn", hay các phim Mỹ không có chút nào không hoang tưởng về bạo lực trên HBO hay Cinemax.
Thuyền và voi.
Thời Lý-Trần xứ ta sông nước, việc di chuyển chủ yếu bằng thuyền.
Ví dụ 2 làng căn cứ của họ Trần là Lưu Gia (làng Tô Trung Từ - Trần Thủ Độ) với Thái Đường (làng Trần Lý) đều thuận lợi sông nước, Long Hưng sau đổi tên là Hưng Nhân rồi ghép với Duyên Hà thành Hưng Hà Thái Bình ngày nay, nằm ở bờ đông sông Hồng, lúc đó kéo ra đến biển, ngăn cách với Hưng Yên-Hải Dương bởi sông Luộc, ngăn cách với Hà Nam ngày nay bởi sông Hồng. Trần Tự Khánh trong các năm 1209 đến 1216 ra vào Thăng Long, chiếm giữ Lý Nhân (khoảng Lý Nhân / Hà Nam ngày nay), phía tây sông Hồng. Thêm nữa, nhà Trần đánh sang tây đến Ninh Bình, ở sông Đáy, cũng ở phía tây sông Hồng (đvsktt, "Giáp Tuất, [Kiến Gia] năm thứ 4 [1214] , (Tống Gia Định năm thứ 7)"... "Mùa hạ, tháng 5 [năm 1214], Tự Khánh đánh Đinh Khả và Bùi Đô ở châu Đại Hoàng, phá tan được.", Hoa Lư cũng thuộc Châu Đại Hoàng, Đinh Khả-Bùi Đô và người châu Đại Hoàng cát cứ từ trước).
Lúc đó, các châu Đằng (thành phố Hưng Yên ngày nay), châu Hồng (Nam tỉnh Hải Dương ngày nay) , châu Khoái ( tách ra từ châu Đằng, khoảng Khoái Châu / Hưng Yên ngày nay) đều nằm trong tay các sứ quân khác, ngăn con đướng phía đông sông Hồng nối Long Hưng-Thăng Long.
Như vậy, toàn bộ chuyển quân của nhà Trần từ căn cứ lên kinh đều phải đi qua sông sang Hà Nam ngày nay - rồi hành quân dọc bờ tây sông Hồng bên Lý Nhân/Hà Nam ngày nay, hoặc đi thuyền dọc sông Hồng hay sông Đáy. Tuy nhiên, bờ sông Hồng bên Hà Nam bị chia cắt bởi nhiều sông nhánh, nên đi bộ vẫn phải có đò. Con đường hay được nói đến thời này là dọc theo sông Đáy, các địa danh được nói đến trong các năm 119x - 120x - 121x ví như, Châu Đại Hoàng = sông Hoàng Giang - phụ lưu tây sông Đáy ngày nay = xung quanh thành phố Ninh Bình ngày nay, đoạn sông Lộ Bố cũng là sông Đáy ở Ý Yên / Hà Nam ngày nay.
Cho đến khánh chiến chông Nguyên Mông thì toàn quân đội và triều đình đều lênh đênh trên những đoàn thuyền.
Cho đến Lê Lợi khởi nghĩa chống quân Minh thì con đường huyết mạch Bắc-Nam vẫn là con đường gần với đường Hồ Chí Minh bây giờ, từ Thăng Long đi theo trục đường gần với đường 6, qua dò gần Mai Lĩnh (Cổ Sở), đi vào nam ở hướng tây sông Đáy ( Chức Động-Tốt Động, Chúc Sơn ngày nay). Vì vậy ở các tỉnh Hà Nam-Hưng Yên ngày nay không có cầu đường bộ thông suốt về Thăng Long, sông ngòi chẳng chịt. Vậy nên quân Trần thời kỳ này chiến đấu và hành quân chủ yếu bằng thuyền.
Trong phim hành quân bộ đi ngựa là tầm bậy.
Còn voi là vũ khí mạnh nhất truyền đời của Việt Nam, từ thời Bà Trưng Bà Triệu đến nhà Nguyễn. Ban đầu mới khởi nghĩa thì Trần có thể chưa có voi. Nhưng triều đình nhà Lý đương nhiên là có nhiều voi. Sau khi dẹp loạn Quách Bốc, thì đương nhiên là Tô Trung Từ và Trần Tự Khánh có voi.
Việc thuê voi diễn không phải là khó. Ví dụ bộ phim tư nhân của nhà Lý Huỳnh với kinh phí bằng một phần tư, và kịch bản là võ hiệp rể tiền . Phim " Tây Sơn hào kiệt". . Những phim chiến tranh cổ của Campuchia-Thái Lan cũng không thể thiếu voi. Phim Thái Sư Trần Thủ Độ xuyên tạc cả lịch sử, ngôn ngữ, trang bị, chiến thuật.... thậm chí không bằng những phim võ hiệp rẻ tiền.
Trang phục.
Không thiếu gì các nghiên cứu nghiêm túc về trang phục người Việt Nam thời Lý-Trần. Đặc biệt là trang phục của các quý tộc. Nhưng bộ phim này hạ đẳng đến mức mượn trang phục tầu. Cái điều ai cũng biết là,
các cụ ông nhà ta đội khăn, mặc áo dài, tóc dài, và thời Lý-Trần thì xăm trổ đầy mình, cho đến Trần mạt mởi bỏ đi. Tóc búi tó củ hành, hoặc búi cài trâm, hoặc vấn vòng quanh. Các cụ đội khăn, sang trọng thì khăn đóng khuôn-khăn xếp, bình thường thì trùm khăn che kín đầu rồi quấn vòng quanh.
Các cụ bà mạc váy, áo tứ thân ngũ thân... và dòng quý tộc thì áo có nhiều lớp, như các bức tượng còn lại. Khi làm lễ lớn thì các cụ ông và cụ bà đều đội mũ.
Theo các tranh vẽ của Nhật Bản thì phụ nữ nước ta thế kỷ 17 mặc váy ngắn, cạp váy trên khá cao, nằm ở khoảng giữa ngực và rốn, thắt bằng dây. Gấu váy dưới trên đầu gối. Bên trong váy mặc áo phía trên và quần dài phía dưới, áo cổ chéo cài bên sườn. Trang phục nữ sang trọng thông thường nhất là ba lớp áo, trong cùng là yếm, sau đó đến lớp áo trong-trên các bức tượng có cả cổ chéo cài sườn bên phải , ngoài cùng là áo khoác dài mặc trùm ra ngoài váy. Áo khoác ngoài mở giữa, nhưng có thể không cài, được trang trí thêu thùa.
Cái áo như áo dài sang trọng của phụ nữ ngày nay thì vào thời Lê dành cho người hầu.
Trang phục thường dân cho đến đầu thế kỷ 20 thì vẫn là đàn bà váy ngắn đàn ông áo dài. Tuy nhiên,
việc đàn ông mặc nhuộm rất hiếm, chỉ người nào sang trọng mới nhuộm nâu hay chàm (màu thực vật buôn từ rừng), còn lại là để mộc màu cháo lòng. Phụ nữ thì thường nhuộm quần-váy màu đen (nhuộm bùn). Như vậy, màu sắc thời cổ-thứ khó thể hiện trên tranh tượng-cũng như thế. Đàn ông mộc trắng bẩn màu cháo lòng, sang ra thì nâu hay chàm... Còn phụ nữ thì áo nâu váy đen.
Bộ quần áo đàn ông bình dân thời cổ-và cả thời Lý-Trần ở ta không thay đổi nhiều. Quần ống đứng rộng, áo dài tay hơi dài-khác với lễ phục là áo dài, thắt lưng vải thắt bỏ một riềm yếm phía trước che qua cả "chim" các cụ.
Nhưng vải vóc ngày đó thiếu nhiều. Nên các cụ ông rất thích cởi trần đóng khố, xăm trổ đầy người.