Bản quyền bảo vệ người giàu hay người nghèo
Những quy định ngặt nghèo về bản quyền, trên thực tế là không bảo vệ hoặc không nhất thiết bảo vệ quyền lợi của tác giả mà đúng ra nó bảo vệ lợi nhuận của người phân phối. Về cơ bản đó là một công cụ bảo hộ hai mặt. Một mặt nó khuyến khích và tạo động lực cho các nhà xuất bản/ghi âm phân phối tác phẩm đến công chúng. Mặt khác, chính nó cũng giới hạn khả năng phân phối tự do ra khắp xã hội thông qua việc cầm sao chép.
Bhawati, Stiglizt, những kinh tế gia hàng đầu về toàn cầu hóa, từng lớn tiếng đòi phải đưa luật sở hữu trí tuệ ra khỏi các điều khoản thỏa thuận của WTO. Là những nhà kinh tế, hai nhà khoa học này hiểu rõ bản chất bảo hộ của luật bản quyền.
Việc cố gắng sử dụng các biện pháp hạn chế các hình thức phân phối, sao chép trên thực tế là một sự thỏa hiệp của việc gia tăng lợi ích xã hội với lợi nhuận của nhóm kinh doanh các sản phẩm này (nhà xuất bản, hãng ghi đĩa) để họ phân phối tác phẩm ra công chúng. Ít nhất trong quá khứ, đây là hình thức chuyển tải duy nhất nội dung đến bạn đọc.
Jonathan Pincus, kinh tế gia trưởng của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc tại Việt Nam có nhận xét rằng “Không có nước giàu nào trả tiền sở hữu trí tuệ khi họ bắt đầu công nghiệp hoá. Nhật Bản thì nhập khẩu và sao chép công nghệ của Đức. Hàn Quốc thì nhập và chép công nghệ của Nhật. Mỹ thì nổi tiếng là “cóp” ý tưởng của Anh khi mới lập quốc, và bây giờ họ muốn các nước đang công nghiệp hoá phải chi tiền. Điều đó sẽ vô cùng đắt và ngăn cản Việt Nam tiếp cận công nghệ. Nhưng Mỹ rất chú ý bảo vệ sở hữu trí tuệ vì những công ty lớn của họ đang kiếm lãi từ đó”
Như vậy bản quyền không tốt và cũng không xấu. Đơn giản là nên đặt nó nằm ngoài phạm trù đạo đức mà nhìn nhận nó như một công cụ bảo vệ của một mô hình kinh doanh.