[Rest In Peace] Panzerklein
16 July 2021
- 27/7/06
- 8,577
- 58
Nguồn trong quân thuỷ, toàn bộ lực lượng thuỷ quân của Đinh Tích Nhưỡng gồm nhiều đội tàu thuộc cấp vệ như Tả Vệ, Hữu Vệ, Ngũ Hầu, Ngũ Thiện, Ngũ Trung v.v... mỗi vệ có 2000 hay 2400 người tổng cộng gần 15.000 thuỷ quân, mỗi tàu chiến Đằng Ngoài có 20~40 người, như vạy toàn bộ thuỷ quân Đinh Tích Nhưỡng xấp xỉ 500 tàu chiến rồi. Chưa kể còn có quân bộ của Đỗ Thế Dận, tuyến sau là binh thuyền của Trịnh Tự Quyền cũng có nhiều tàu chiến tại trận ở bãi Xích Đằng. Như vậy không phải hàng trăm à, cả ngàn là dự đoán thêm các hạm đội khác của chúa Trịnh nếu còn.
Và ai bảo lượng đạn không lớn? Theo Lê quý kỷ sự: “Đêm đến, Huệ dùng năm chiếc thuyền không, thả ở lòng sông để bức bách tiền đội bên quan quân. Quan quân suốt đêm bắn loạn xa. Trước đó, dường như quân thủy tiên phong của Tây Sơn đã một lần xông vào trận địa Trịnh, khi đó Nhưỡng dàn trận chữ nhất và dùng súng bảo lân “đánh lui” Tây Sơn."
Bắn loạn xạ suốt đêm mà bảo lượng đạn không lớn. Lý do 5 tàu nghi binh không bị bắn trúng vì bãi Xích Đằng rất lớn mà lại chỉ có 5 tàu nghi binh trong đêm tối, thêm quân Trịnh bắn loạn xạ nên khó mà trúng chứ không có nghĩa súng nhỏ. Vì theo Dampier và nhiều thương nhân Châu Âu, các khẩu pháo đầu hạm của tàu chiến Trịnh là cỡ nòng 36 tới 48 cân. Đó cũng là điều ấn tượng nhất với người Phương Tây về tàu chiến Đằng Ngoài đấy.
Lịch triều tạp kỷ (t. II, tr. 310, 311) chép cụ thể hơn: “… Nhưỡng lại sai bắn, thuyền Tây Sơn đều rút vào trong bến (giạt sang hai bên – bờ - T.G.). Sau khi Nhưỡng sai bắn thêm ba phát đại bác nữa, vừa dứt, thì quân Tây Sơn liền nổ một phát đại pháo, tiếng to như tiếng sấm, đạn bay qua cây cổ thụ, tiện làm hai đoạn. Quân Tây Sơn bỏ thuyền đổ bộ. Bộ binh Trướng Trung Hầu sợ hãi, tan vỡ chạy trốn hết…”.
=> Sau khi bắn cả đêm, vẫn còn đạn để bắn tiếp
Lơ Roa đêm đó “nghe tiếng súng đại bác nổ cả đêm” đã kể lại trong bức thư ngày 6-10-1786. Cho thấy việc quân Trịnh bắn cả đêm là có thật nhé
. Như thế lượng đạn, thuốc súng nhiều hay ít
.
Có kiêu binh không có nghĩa là thoái trào, vì ngay cả trong quân Tây Sơn cũng có kiêu binh, bản thân Nguyễn Huệ đem quân vây thành của Nguyễn Nhạc cũng là một kiểu kiêu binh. Nhưng khi đó Tây Sơn đâu phải là thoái trào.
Trận Đống Đa của "Hoàng Lê Nhất Thống Chí", được viết bảo con cháu nhà học Ngô, điển hình là Ngô Thì Du là quan nhà Nguyễn nên hoàn toàn viết dìm hàng nhà Tây Sơn được
.
BTW, theo Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài Từ 1627 Tới Năm 1646, Bo-ri (Ch. Borri) viết: “Đàng Trong có hơn 100 thuyền chiến… Lính trên thuyền đều có súng hỏa mai…”, và theo A. đờ Rốt thì “họ sử dụng thành thạo tất cả các loại vũ khí đó (súng, pháo). Nhất là với súng trường (fusil) và hỏa mai (arquebuse) thì họ bắn giỏi đến mức đáng khâm phục”. Alexander de Rhodes nói về Đại Việt vào những năm 40 của thế ỷ 17, thì đã có flintlock ở Đằng Trong rồi, Fusil là súng flintlock loại nhẹ, súng flintlock được Đào Duy Từ (1572-1634) gọi là súng Phật-lan-cơ (phật-lan là phiên âm của flint-lock, cơ là cơ cấu điểm hoả, tức kích hoả bằng đá lửa). Còn lúc Borri tới khoảng những năm 30 thì Đằng Trong vẫn còn nhiều aquebus và nhất là lính thuỷ 100% là dùng arquebus. Cuối thế kỷ 17 khi William Dampier tới đằng Ngoài thì 70% lính chúa Trịnh trang bị súng và phần lớn là flintlock kiểu Tây. Quân Tây Sơn thì dùng tới model 1777 kiểu Tây.
Năm 1627, một tàu buôn Bồ Đào Nha bị bão giạt vào cửa Bạng (Thanh Hóa). A-lếch-xan đờ Rốt (Alexandre de Rhodes) đi trên chiếc tàu này. Đúng dịp đó binh thuyền chúa Trịnh đang hành quân vào đánh Đàng Trong. Đờ Rốt được chúa tiếp và cho đi theo. Đoạn mô tả của ông về đoàn binh thuyền cho ta hình dung khá rõ các loại thuyền đương thời: “Đầu tiên chúng tôi thấy một đoàn thuyền đến 200 thuyền chiến chạm trổ tô son thếp vàng rực rỡ, trên thuyền quân đội súng ống đầy đủ. Đoàn thuyền tiến lên rất đều… Rồi đến 80 thuyền chở vệ binh, chạm trổ và tô điểm nhiều hơn, buồm cũng làm bằng vải thanh nhãn (?), còn dây chão thì cuộn bằng tơ màu son đỏ. Đi giữa là thuyền rồng to lớn, sơn son thếp vàng đẹp đẽ… Số binh thuyền theo sau đoàn thuyền hộ tống còn đông hơn cả đoàn thuyền đi tiên phong, đấy là không kể những thuyền lớn nhỏ đủ cỡ, nhiều vô số, dùng vào việc chở binh lương và các cung nữ… Ngoài ra, còn 50 thuyền lớn chở lương thực đủ cho bộ binh và thủy binh. Số quân cả thủy lẫn bộ có đến gần 12 vạn”
Ở Đàng Trong, từ năm 1658, chúa Nguyễn mở phường Đúc ở Huế do một thợ Bồ Đào Nha là Cruy-dơ (Joan da Cruz) phụ trách, số pháo đúc được có tới hàng ngàn khẩu. Trước đó, sau khi được Toàn quyền Bồ Đào Nha ở Ma Cao tặng một khẩu pháo, Chúa Nguyễn đã gửi sang Ma Cao 5.000 cân đồng nhờ Bồ Đào Nha đúc hộ súng (năm 1651). Trong P.Y. Manguin, Les Portugais sur les còtes du Việt Nam et du Campa, BEFEO, 1972, tr. 202 – 203.
Trong chương trình huấn luyện cho quân thủy thời này, có những thao tác cơ bản của một người lính: “Sau khi được tuyển vào quân ngũ, một người lính phải tập ba năm với một võ sư. Ông ta dạy lính cách sử dụng binh khí và tất cả những bộ môn liên quan đến binh nghiệp như sử dụng gươm giáo, cách mang súng, giữ súng, bắn và bắn theo lệnh. Lính còn được dạy cách chế biến thuốc súng, chế đạn, vì sau khi huấn luyện, họ phải tự làm lấy những thứ đó khi được cấp nguyên vật liệu.
Lê quý kỷ sự (tr. 89) thuật lại trận đánh của quân thủy Hoàng Viết Tuyển với quân thủy Tây Sơn do Quỳnh Ngọc hầu chỉ huy năm 1788: “Tuyển chia thuyền biển làm mười hàng. Ở các mũi thuyền đều đặt pháo lớn. Hễ gặp địch thì hàng thuyền cứ theo thứ tự lần lượt bắn. Tiếng súng liên miên không ngớt, đạn bay đầy sông, bắn vỡ luôn vài chục thuyền chiến giặc”.
Quân thủy Nguyễn ở Ngã Bảy tan vỡ quá nhanh, khiến cho việc bố trí ứng cứu của đội thuyền chiến do Nguyễn Ánh trực tiếp chỉ huy trở nên vô nghĩa. Khi được tin báo quân Tây Sơn đánh vào Ngã Bảy, Nguyễn Ánh “thân đốc binh thuyền đi ứng cứu”, nhưng đến Ngã Ba (có lẽ khoảng ngã ba Nhà Bè) thì quân thủy Tây Sơn đã tới nơi, dùng pháo bắn tới tấp vào đội hình thuyền chiến Nguyễn, đồng thời xông lên áp đảo. Lực lượng quân thủy dự trữ này cũng bị đánh lui nhanh chóng dưới làn hỏa pháo mãnh liệt, chính xác của các pháo thuyền Tây Sơn. Ngay trong đoạn viết nhằm tâng bốc Nguyễn Ánh, cuốn sử chính thống của nhà Nguyễn là Đại Nam thực lục (chính biên, t. II, tr. 40) cũng phải chép: “Giặc nhằm đầu thuyền bắn, gẫy cả cột buồm, quân sĩ đều thất sắc; vua đứng yên không động, tay cầm súng chim bắn lại thuyền giặc và hạ lệnh cho quân sĩ vừa đánh vừa lùi”. (súng chim là điểu thương tức flintlock)
Không phải quân Tây Sơn đi đến đâu là quân Trịnh lập tức tan vỡ vì "thoái trào" mà nhiều nơi tử chiến tới cừng như quân Trịnh ở Phú Xuân: Thoạt đầu, thuyền chiến Tây Sơn dàn trên sông Hương, đối diện sát với mặt thành phía đông, dùng pháo bắn uy hiếp quân Trịnh. Quân bộ Tây Sơn cũng dàn thế trận phối hợp ở trên bờ sông. Có lẽ trong lúc này, Nguyễn Huệ đưa ra yêu cầu của mình buộc quân Trịnh phải đầu hàng vô điều kiện. Quân Trịnh không chịu hàng, đóng cửa thành, đưa thêm quân ra bảo vệ ngoài thành và dùng pháo trên thành bắn vào quân Tây Sơn làm một thuyền chiến Tây Sơn trúng đạn. Quân Tây Sơn lên thuyền, tạm rút khỏi tầm pháo của Trịnh. Hầu như tất cả các tướng Trịnh chỉ huy trận địa này đều tử trận. Ngoài ra quân Trịnh còn có 3000 quân cuối cùng trong trận đánh tại Thăng Long, nhưng thuỷ binh Nguyễn Huệ ập tới quá nhanh nên thuỷ quân bị diệt gọn, chỉ còn một nhóm bộ binh nhỏ noi, lúc này thì không bỏ chạy mới lại
.
Và ai bảo lượng đạn không lớn? Theo Lê quý kỷ sự: “Đêm đến, Huệ dùng năm chiếc thuyền không, thả ở lòng sông để bức bách tiền đội bên quan quân. Quan quân suốt đêm bắn loạn xa. Trước đó, dường như quân thủy tiên phong của Tây Sơn đã một lần xông vào trận địa Trịnh, khi đó Nhưỡng dàn trận chữ nhất và dùng súng bảo lân “đánh lui” Tây Sơn."
Bắn loạn xạ suốt đêm mà bảo lượng đạn không lớn. Lý do 5 tàu nghi binh không bị bắn trúng vì bãi Xích Đằng rất lớn mà lại chỉ có 5 tàu nghi binh trong đêm tối, thêm quân Trịnh bắn loạn xạ nên khó mà trúng chứ không có nghĩa súng nhỏ. Vì theo Dampier và nhiều thương nhân Châu Âu, các khẩu pháo đầu hạm của tàu chiến Trịnh là cỡ nòng 36 tới 48 cân. Đó cũng là điều ấn tượng nhất với người Phương Tây về tàu chiến Đằng Ngoài đấy.
Lịch triều tạp kỷ (t. II, tr. 310, 311) chép cụ thể hơn: “… Nhưỡng lại sai bắn, thuyền Tây Sơn đều rút vào trong bến (giạt sang hai bên – bờ - T.G.). Sau khi Nhưỡng sai bắn thêm ba phát đại bác nữa, vừa dứt, thì quân Tây Sơn liền nổ một phát đại pháo, tiếng to như tiếng sấm, đạn bay qua cây cổ thụ, tiện làm hai đoạn. Quân Tây Sơn bỏ thuyền đổ bộ. Bộ binh Trướng Trung Hầu sợ hãi, tan vỡ chạy trốn hết…”.
=> Sau khi bắn cả đêm, vẫn còn đạn để bắn tiếp

Lơ Roa đêm đó “nghe tiếng súng đại bác nổ cả đêm” đã kể lại trong bức thư ngày 6-10-1786. Cho thấy việc quân Trịnh bắn cả đêm là có thật nhé
. Như thế lượng đạn, thuốc súng nhiều hay ít
.Có kiêu binh không có nghĩa là thoái trào, vì ngay cả trong quân Tây Sơn cũng có kiêu binh, bản thân Nguyễn Huệ đem quân vây thành của Nguyễn Nhạc cũng là một kiểu kiêu binh. Nhưng khi đó Tây Sơn đâu phải là thoái trào.
Trận Đống Đa của "Hoàng Lê Nhất Thống Chí", được viết bảo con cháu nhà học Ngô, điển hình là Ngô Thì Du là quan nhà Nguyễn nên hoàn toàn viết dìm hàng nhà Tây Sơn được
.BTW, theo Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài Từ 1627 Tới Năm 1646, Bo-ri (Ch. Borri) viết: “Đàng Trong có hơn 100 thuyền chiến… Lính trên thuyền đều có súng hỏa mai…”, và theo A. đờ Rốt thì “họ sử dụng thành thạo tất cả các loại vũ khí đó (súng, pháo). Nhất là với súng trường (fusil) và hỏa mai (arquebuse) thì họ bắn giỏi đến mức đáng khâm phục”. Alexander de Rhodes nói về Đại Việt vào những năm 40 của thế ỷ 17, thì đã có flintlock ở Đằng Trong rồi, Fusil là súng flintlock loại nhẹ, súng flintlock được Đào Duy Từ (1572-1634) gọi là súng Phật-lan-cơ (phật-lan là phiên âm của flint-lock, cơ là cơ cấu điểm hoả, tức kích hoả bằng đá lửa). Còn lúc Borri tới khoảng những năm 30 thì Đằng Trong vẫn còn nhiều aquebus và nhất là lính thuỷ 100% là dùng arquebus. Cuối thế kỷ 17 khi William Dampier tới đằng Ngoài thì 70% lính chúa Trịnh trang bị súng và phần lớn là flintlock kiểu Tây. Quân Tây Sơn thì dùng tới model 1777 kiểu Tây.
Năm 1627, một tàu buôn Bồ Đào Nha bị bão giạt vào cửa Bạng (Thanh Hóa). A-lếch-xan đờ Rốt (Alexandre de Rhodes) đi trên chiếc tàu này. Đúng dịp đó binh thuyền chúa Trịnh đang hành quân vào đánh Đàng Trong. Đờ Rốt được chúa tiếp và cho đi theo. Đoạn mô tả của ông về đoàn binh thuyền cho ta hình dung khá rõ các loại thuyền đương thời: “Đầu tiên chúng tôi thấy một đoàn thuyền đến 200 thuyền chiến chạm trổ tô son thếp vàng rực rỡ, trên thuyền quân đội súng ống đầy đủ. Đoàn thuyền tiến lên rất đều… Rồi đến 80 thuyền chở vệ binh, chạm trổ và tô điểm nhiều hơn, buồm cũng làm bằng vải thanh nhãn (?), còn dây chão thì cuộn bằng tơ màu son đỏ. Đi giữa là thuyền rồng to lớn, sơn son thếp vàng đẹp đẽ… Số binh thuyền theo sau đoàn thuyền hộ tống còn đông hơn cả đoàn thuyền đi tiên phong, đấy là không kể những thuyền lớn nhỏ đủ cỡ, nhiều vô số, dùng vào việc chở binh lương và các cung nữ… Ngoài ra, còn 50 thuyền lớn chở lương thực đủ cho bộ binh và thủy binh. Số quân cả thủy lẫn bộ có đến gần 12 vạn”
Ở Đàng Trong, từ năm 1658, chúa Nguyễn mở phường Đúc ở Huế do một thợ Bồ Đào Nha là Cruy-dơ (Joan da Cruz) phụ trách, số pháo đúc được có tới hàng ngàn khẩu. Trước đó, sau khi được Toàn quyền Bồ Đào Nha ở Ma Cao tặng một khẩu pháo, Chúa Nguyễn đã gửi sang Ma Cao 5.000 cân đồng nhờ Bồ Đào Nha đúc hộ súng (năm 1651). Trong P.Y. Manguin, Les Portugais sur les còtes du Việt Nam et du Campa, BEFEO, 1972, tr. 202 – 203.
Trong chương trình huấn luyện cho quân thủy thời này, có những thao tác cơ bản của một người lính: “Sau khi được tuyển vào quân ngũ, một người lính phải tập ba năm với một võ sư. Ông ta dạy lính cách sử dụng binh khí và tất cả những bộ môn liên quan đến binh nghiệp như sử dụng gươm giáo, cách mang súng, giữ súng, bắn và bắn theo lệnh. Lính còn được dạy cách chế biến thuốc súng, chế đạn, vì sau khi huấn luyện, họ phải tự làm lấy những thứ đó khi được cấp nguyên vật liệu.
Lê quý kỷ sự (tr. 89) thuật lại trận đánh của quân thủy Hoàng Viết Tuyển với quân thủy Tây Sơn do Quỳnh Ngọc hầu chỉ huy năm 1788: “Tuyển chia thuyền biển làm mười hàng. Ở các mũi thuyền đều đặt pháo lớn. Hễ gặp địch thì hàng thuyền cứ theo thứ tự lần lượt bắn. Tiếng súng liên miên không ngớt, đạn bay đầy sông, bắn vỡ luôn vài chục thuyền chiến giặc”.
Quân thủy Nguyễn ở Ngã Bảy tan vỡ quá nhanh, khiến cho việc bố trí ứng cứu của đội thuyền chiến do Nguyễn Ánh trực tiếp chỉ huy trở nên vô nghĩa. Khi được tin báo quân Tây Sơn đánh vào Ngã Bảy, Nguyễn Ánh “thân đốc binh thuyền đi ứng cứu”, nhưng đến Ngã Ba (có lẽ khoảng ngã ba Nhà Bè) thì quân thủy Tây Sơn đã tới nơi, dùng pháo bắn tới tấp vào đội hình thuyền chiến Nguyễn, đồng thời xông lên áp đảo. Lực lượng quân thủy dự trữ này cũng bị đánh lui nhanh chóng dưới làn hỏa pháo mãnh liệt, chính xác của các pháo thuyền Tây Sơn. Ngay trong đoạn viết nhằm tâng bốc Nguyễn Ánh, cuốn sử chính thống của nhà Nguyễn là Đại Nam thực lục (chính biên, t. II, tr. 40) cũng phải chép: “Giặc nhằm đầu thuyền bắn, gẫy cả cột buồm, quân sĩ đều thất sắc; vua đứng yên không động, tay cầm súng chim bắn lại thuyền giặc và hạ lệnh cho quân sĩ vừa đánh vừa lùi”. (súng chim là điểu thương tức flintlock)
Không phải quân Tây Sơn đi đến đâu là quân Trịnh lập tức tan vỡ vì "thoái trào" mà nhiều nơi tử chiến tới cừng như quân Trịnh ở Phú Xuân: Thoạt đầu, thuyền chiến Tây Sơn dàn trên sông Hương, đối diện sát với mặt thành phía đông, dùng pháo bắn uy hiếp quân Trịnh. Quân bộ Tây Sơn cũng dàn thế trận phối hợp ở trên bờ sông. Có lẽ trong lúc này, Nguyễn Huệ đưa ra yêu cầu của mình buộc quân Trịnh phải đầu hàng vô điều kiện. Quân Trịnh không chịu hàng, đóng cửa thành, đưa thêm quân ra bảo vệ ngoài thành và dùng pháo trên thành bắn vào quân Tây Sơn làm một thuyền chiến Tây Sơn trúng đạn. Quân Tây Sơn lên thuyền, tạm rút khỏi tầm pháo của Trịnh. Hầu như tất cả các tướng Trịnh chỉ huy trận địa này đều tử trận. Ngoài ra quân Trịnh còn có 3000 quân cuối cùng trong trận đánh tại Thăng Long, nhưng thuỷ binh Nguyễn Huệ ập tới quá nhanh nên thuỷ quân bị diệt gọn, chỉ còn một nhóm bộ binh nhỏ noi, lúc này thì không bỏ chạy mới lại
.
Chỉnh sửa cuối:
. Quý Nho đây thì hem biết biết gì cả 

.