- 15/10/05
- 19,851
- 32,225
1.
Lịch sử :
Được nghiên cứu từ năm 1978 trong phòng thí nghiệm Arklay. Umbrella đã thấy những hiệu lực trong những khám phá gần đây về virus Ebola đã được tìm ra ở Phi châu.Tập đoàn đã thấy được hiệu lực của virus là có tốc độ gây tử vong là gần 90 %. Vì thế Umbrella đã rất cẩn thận để nghiên cứu về nó. Hiệp hội vũ khí sinh học đã ngăn cấm việc nghiên cứu nó và những thứ tương tự. Để có thể nghiên cứu được nó , Umbrella đã đội lốt việc nghiên cứu cách chữa trị cho loại virus này , thực ra là tiếp tục các công trình nghiên cứu về virus.
Tuy nhiên , việc nghiên cứu này đã bị tạm hoãn do virus không thể sống được hơn vài ngày ngoài cơ thể vật chủ trong những điều kiện nhạy cảm như bị chiếu sóng tia cực tím . Ngoài ra , nó còn giết chết vật chủ quá nhanh m dẫn đến việc không cho phép vật chủ gây nhiễm cho các cá thể khác. Bởi vậy , Ebola chỉ có thể gây nhiễm đối với vật chủ mà nó tiếp xúc , mà bị giới hạn để gây ra sự nhiễm cho các vật khác.
Những nhà nghiên cứu Umbrella đã tự hỏi :" Điều gì sẽ xảy ra nếu như vật chủ có thể tiếp tục di chuyển và có thể lây nhiễm cho các cá thể khác." .
Chính ý tưởng này đã tạo tiền đề cho ngày sinh nhật của T-virus.
Sau khi nghiên cứu ra Virus tổ tiên , có ba nhà nghiên cứu của Umbrella cuối cùng cũng đã thành công trong việc tạo ra T-virus vào ngày 4 tháng 12 năm 1978. Ba người đó là Jame Marcus , Albert Wesker ,và Wiliam Birkin.
T-virus đóng vai trò cho việc phát triển ra các loại virus khác của Umbrella như là virus T-veronica , và NE-T virus.
Wiliam và Albert đã ám sát Marcus để đưa những nghiên cứu của anh ta cho Umbrella . Với những thử nghiệm của họ với Ebola virus , Wiliam Birkin đã nối T-virus với Ebola virus để tạo ra những loại virus khác có độ thích nghi cao hơn và nguy hiểm hơn , nó là cái sẽ được sử dụng để tạo ra Tyrants.
Virus tổ tiên và T-virus nguyên bản đã được dùng cho nhiều mục đích đã được định sẵn..
T-virus cũng giống như các loại virus khác . Cấu tạo gồm một tinh thể protein và một lõi ARN.Khi tinh thể tiếp xúc với mnaf tế bào , nó phá hủy màng và đưa ARN của nó vào tế bào.Tế bào hấp thu nó những thể dạng virsu vào DNA của tế bào đó và làm thay đổi chức năng của chính tế bào đó. Tế bào bắt đầu sinh sản từ tế bào gôcs bị nhiễm virus đó. Cứ thế các tế bào khác cũng bị lây nhiễm lần lần .
T-virus giết bất cứ Mitochondria nào còn sống sót và thay thế vào đó bằng một cái khác đã chết . Virus sau đó nối với những tế bào khác để tạo ra năng lượng , năng lượng này chỉ đủ để duy trì các hoạt động của Neutron thầnkinh và các chức năng thấp nhất của bộ não . Không những thế , nó còn vượt qua toàn bộ hệ thống truyền dẫn , tức là những thứ duy trì hoạt động sẵn sàng của tim và phổi . Tuy nhiên ,virus chỉ có thể hoạt động đúng chức năng bởi việc chi phối tế bào để sản sinh năng lượng và phân chia qua hoạt động phân bào có tơ . Việc sụp đổ chậm chạp của tế bào đã dẫn tới hiệu ứng necrotizing được thấy hầu hết trên BOWs. Virus còn gắn chặt nó vào ARN của vật chủ , thực chất là làm thay đổi vật chủ đó. Điều này giải thích tại sao các con vật nhỏ như ong và nhện lại biến đổi để có kích thước gia tăng lớn so với người cũng bị nhiễm . Chuỗi tiến triển ở người thì chậm hơn.
Ở những người bị nhiễm mà không chết ngay thì các chức năng cao cấp của bộ não họ đã bị phá hủy , virus phân hủy dễ dàng thùy trán . ĐIều này chỉ còn để lại một cái gọi là telencephalon, nó có thể được biêt đến như một bộ não để kiểm soát hành vi. Khi đó cơ thể vật chủ chỉ còn lại một số hành vi mang tính bản năng động vật. Khi lây nhiễm rộng ra Virus còn làm bị thương hypothalamus. Cái được dùng để tạo ra một lượng lớn neurotransmitters, enzym và hormone như norepinephrine và dopamine. Những hiệu quả này kết hợp với những triệu chứng đau đớn ,sẽ tạo ra chứng rối loận thần kinh dữ dội, đói dai dẳng và làm gia tăng hiệu quả của những triệu chứng này.
Còn đối với những người đã chết khi bị nhiễm thì việc nhiễm sẽ tạo ra năng lượng chỉ đủ dùng cho các hoạt động thấp nhất của bộ não ( cơ thể mới chết ) , nó chỉ đem lại cho cái xác bị nhiễm khả năng cơ bản như động vật là chỉ đi lang thang và ăn .
Cuối cùng , ở giai đoạn cuối , những vật chủ bị nhiễm này chỉ có thể được gọi bằng một cái tên đúng nhất qua những hành vi và tính chất của chúng , đó là Zombie.
Khi bị nhiễm ở giai đoạn cuối , vật chủ không còn ý thức nữa . Chúng xuất hiện như một xác chết . Trong thực tế , cho thấy vật chủ nhanh chóng tiến đến thời hạn mà virus sẽ hoạt động mạnh thái quá . Trong vòng một giờ , khung xương và bắp thịt đã rệu rã sẽ biến đổi đến một thể mạnh hơn và chắc hơn ,sự phát triển có thể được thấy rõ qua sự sắc bén của răng và vuốt, máu thấm qua da còn lại làm cho da có màu hung đỏ , tiến đến sự phân hủy , mắt còn nguyên vẹn trở thành màu trắng sáng . Nhưng nhà nghiên cứu của Umbrella đã gán cho giai đoạn này là một V-ACT , thường được quy vào như là một Crimson Head .Bộ não sau đó bật trở lại với sự có ý thức một cách yếu ớt, nhưng quan trọng nhất là nó gia tăng độ thông minh ,và tăng đáng kể sự nhanh nhẹn cũng như hung hăng hơn. Với sự biến chuyển nhanh chóng này ,sự sụp đổ tế bào đã đánh trúng một điểm nguy hiểm là các vật chủ không thể hồi phục đúng cách lâu hơn . có thể bị giết vĩnh cửu , và nhận đủ tổn thương.
2.
T-virus cũng giống như các loại virus khác . Cấu tạo gồm một tinh thể protein và một lõi ARN.Khi tinh thể tiếp xúc với mnaf tế bào , nó phá hủy màng và đưa ARN của nó vào tế bào.Tế bào hấp thu nó những thể dạng virsu vào DNA của tế bào đó và làm thay đổi chức năng của chính tế bào đó. Tế bào bắt đầu sinh sản từ tế bào gôcs bị nhiễm virus đó. Cứ thế các tế bào khác cũng bị lây nhiễm lần lần .
T-virus giết bất cứ Mitochondria nào còn sống sót và thay thế vào đó bằng một cái khác đã chết . Virus sau đó nối với những tế bào khác để tạo ra năng lượng , năng lượng này chỉ đủ để duy trì các hoạt động của Neutron thầnkinh và các chức năng thấp nhất của bộ não . Không những thế , nó còn vượt qua toàn bộ hệ thống truyền dẫn , tức là những thứ duy trì hoạt động sẵn sàng của tim và phổi . Tuy nhiên ,virus chỉ có thể hoạt động đúng chức năng bởi việc chi phối tế bào để sản sinh năng lượng và phân chia qua hoạt động phân bào có tơ . Việc sụp đổ chậm chạp của tế bào đã dẫn tới hiệu ứng necrotizing được thấy hầu hết trên BOWs. Virus còn gắn chặt nó vào ARN của vật chủ , thực chất là làm thay đổi vật chủ đó. Điều này giải thích tại sao các con vật nhỏ như ong và nhện lại biến đổi để có kích thước gia tăng lớn so với người cũng bị nhiễm . Chuỗi tiến triển ở người thì chậm hơn.
Ở những người bị nhiễm mà không chết ngay thì các chức năng cao cấp của bộ não họ đã bị phá hủy , virus phân hủy dễ dàng thùy trán . ĐIều này chỉ còn để lại một cái gọi là telencephalon, nó có thể được biêt đến như một bộ não để kiểm soát hành vi. Khi đó cơ thể vật chủ chỉ còn lại một số hành vi mang tính bản năng động vật. Khi lây nhiễm rộng ra Virus còn làm bị thương hypothalamus. Cái được dùng để tạo ra một lượng lớn neurotransmitters, enzym và hormone như norepinephrine và dopamine. Những hiệu quả này kết hợp với những triệu chứng đau đớn ,sẽ tạo ra chứng rối loận thần kinh dữ dội, đói dai dẳng và làm gia tăng hiệu quả của những triệu chứng này.
Còn đối với những người đã chết khi bị nhiễm thì việc nhiễm sẽ tạo ra năng lượng chỉ đủ dùng cho các hoạt động thấp nhất của bộ não ( cơ thể mới chết ) , nó chỉ đem lại cho cái xác bị nhiễm khả năng cơ bản như động vật là chỉ đi lang thang và ăn .
Cuối cùng , ở giai đoạn cuối , những vật chủ bị nhiễm này chỉ có thể được gọi bằng một cái tên đúng nhất qua những hành vi và tính chất của chúng , đó là Zombie.
Khi bị nhiễm ở giai đoạn cuối , vật chủ không còn ý thức nữa . Chúng xuất hiện như một xác chết . Trong thực tế , cho thấy vật chủ nhanh chóng tiến đến thời hạn mà virus sẽ hoạt động mạnh thái quá . Trong vòng một giờ , khung xương và bắp thịt đã rệu rã sẽ biến đổi đến một thể mạnh hơn và chắc hơn ,sự phát triển có thể được thấy rõ qua sự sắc bén của răng và vuốt, máu thấm qua da còn lại làm cho da có màu hung đỏ , tiến đến sự phân hủy , mắt còn nguyên vẹn trở thành màu trắng sáng . Nhưng nhà nghiên cứu của Umbrella đã gán cho giai đoạn này là một V-ACT , thường được quy vào như là một Crimson Head .Bộ não sau đó bật trở lại với sự có ý thức một cách yếu ớt, nhưng quan trọng nhất là nó gia tăng độ thông minh ,và tăng đáng kể sự nhanh nhẹn cũng như hung hăng hơn. Với sự biến chuyển nhanh chóng này ,sự sụp đổ tế bào đã đánh trúng một điểm nguy hiểm là các vật chủ không thể hồi phục đúng cách lâu hơn . có thể bị giết vĩnh cửu , và nhận đủ tổn thương.
3.
Các loại huyết thanh chống virus .
Có tổng cộng bốn loại vacine chống virus , nhưng chỉ ở giai đoạn đầu của quá trình nhiễm .
Thứ nhất: loại huyết thanh này có chỉ có tác dụng đối với các cơ thể vật chủ ko bị một lượng lớn virus tấn công và chưa bị nhiễm lâu lắm . Loại huyết thanh này được tạo ra bởi Dr. Ashford cho cháu gái của ông ta.
Thứ hai :được phát triển bởi Douglas Rover của dịch vụ y tế trực thuộc Umbrella trong bệnh viện của thành phố Raccoon .Đây chính là nỗ lực cuối cùng để ngăn chặn virus trong lúc nó đang lây lan rộng khắp và nhanh chóng .Nhưng hầu hết các nhân viên bệnh viện đều đã bị nhiễm và chết trước khi huyết thanh có một lượng đủ lớn để khống chế virus . Còn việc tạo ra virus thì các bạn đã rõ , chỉ cần dùng Medium Base cho vào máy tạo vaccine để lấy một ống nghiệm và nối với một ống nghiệm khác trong một căn phòng bệnh viện là được vaccine. Mọi tài liệu về Vaccine này đều đã bị Nicolai lấy đi và sau đó hắn còn cho nổ bệnh viện với hàng loạt khối thuốc nổ C-4 để xóa hẳn dấu vết về Vaccine này .Dù sao thì Carlos cũng đã lấy được vaccine cho Jill trước khi bệnh viện nổ tung.
Thứ ba: loại này có tên là Daylight ,được phát triển bỏi Greg Muller and Peter Jenkins ở trường đại học thành phố Raccoon . Thành phần cơ bản của nó là T-blood ( một mẫu máu của vật chủ bị nhiễm T-virus) ,V-poison (một mẫu chất độc tiết ra tù vật chủ nhiễm virus ) và P-base (một hóa chất lỏng cần thiết cho sự tổng hợp ) .Khi đủ các chất trên thì huyết thanh có thể được tổng hợp . Thời gian tổng hợp tù 5 đến 7 phút . Huyết thanh này cần 30 giây đến 1 phút để nhân đôi .
Thứ tư : đây là cái cuối cùng có tên là , AT1521 . Được phát triển bởi các đội nghiên cứu của các cơ sở của Umbrella trong khắp thành phố Raccoon. Các thành viên của các nhóm nghiên cứu này đã quay lại để lây virus để ngăn chặn virus .Nó có đặc tính khá giống Daylight.
Ngoài ra , đội UBCS cũng có vaccine của riêng họ .
Lịch sử :
Được nghiên cứu từ năm 1978 trong phòng thí nghiệm Arklay. Umbrella đã thấy những hiệu lực trong những khám phá gần đây về virus Ebola đã được tìm ra ở Phi châu.Tập đoàn đã thấy được hiệu lực của virus là có tốc độ gây tử vong là gần 90 %. Vì thế Umbrella đã rất cẩn thận để nghiên cứu về nó. Hiệp hội vũ khí sinh học đã ngăn cấm việc nghiên cứu nó và những thứ tương tự. Để có thể nghiên cứu được nó , Umbrella đã đội lốt việc nghiên cứu cách chữa trị cho loại virus này , thực ra là tiếp tục các công trình nghiên cứu về virus.
Tuy nhiên , việc nghiên cứu này đã bị tạm hoãn do virus không thể sống được hơn vài ngày ngoài cơ thể vật chủ trong những điều kiện nhạy cảm như bị chiếu sóng tia cực tím . Ngoài ra , nó còn giết chết vật chủ quá nhanh m dẫn đến việc không cho phép vật chủ gây nhiễm cho các cá thể khác. Bởi vậy , Ebola chỉ có thể gây nhiễm đối với vật chủ mà nó tiếp xúc , mà bị giới hạn để gây ra sự nhiễm cho các vật khác.
Những nhà nghiên cứu Umbrella đã tự hỏi :" Điều gì sẽ xảy ra nếu như vật chủ có thể tiếp tục di chuyển và có thể lây nhiễm cho các cá thể khác." .
Chính ý tưởng này đã tạo tiền đề cho ngày sinh nhật của T-virus.
Sau khi nghiên cứu ra Virus tổ tiên , có ba nhà nghiên cứu của Umbrella cuối cùng cũng đã thành công trong việc tạo ra T-virus vào ngày 4 tháng 12 năm 1978. Ba người đó là Jame Marcus , Albert Wesker ,và Wiliam Birkin.
T-virus đóng vai trò cho việc phát triển ra các loại virus khác của Umbrella như là virus T-veronica , và NE-T virus.
Wiliam và Albert đã ám sát Marcus để đưa những nghiên cứu của anh ta cho Umbrella . Với những thử nghiệm của họ với Ebola virus , Wiliam Birkin đã nối T-virus với Ebola virus để tạo ra những loại virus khác có độ thích nghi cao hơn và nguy hiểm hơn , nó là cái sẽ được sử dụng để tạo ra Tyrants.
Virus tổ tiên và T-virus nguyên bản đã được dùng cho nhiều mục đích đã được định sẵn..
T-virus cũng giống như các loại virus khác . Cấu tạo gồm một tinh thể protein và một lõi ARN.Khi tinh thể tiếp xúc với mnaf tế bào , nó phá hủy màng và đưa ARN của nó vào tế bào.Tế bào hấp thu nó những thể dạng virsu vào DNA của tế bào đó và làm thay đổi chức năng của chính tế bào đó. Tế bào bắt đầu sinh sản từ tế bào gôcs bị nhiễm virus đó. Cứ thế các tế bào khác cũng bị lây nhiễm lần lần .
T-virus giết bất cứ Mitochondria nào còn sống sót và thay thế vào đó bằng một cái khác đã chết . Virus sau đó nối với những tế bào khác để tạo ra năng lượng , năng lượng này chỉ đủ để duy trì các hoạt động của Neutron thầnkinh và các chức năng thấp nhất của bộ não . Không những thế , nó còn vượt qua toàn bộ hệ thống truyền dẫn , tức là những thứ duy trì hoạt động sẵn sàng của tim và phổi . Tuy nhiên ,virus chỉ có thể hoạt động đúng chức năng bởi việc chi phối tế bào để sản sinh năng lượng và phân chia qua hoạt động phân bào có tơ . Việc sụp đổ chậm chạp của tế bào đã dẫn tới hiệu ứng necrotizing được thấy hầu hết trên BOWs. Virus còn gắn chặt nó vào ARN của vật chủ , thực chất là làm thay đổi vật chủ đó. Điều này giải thích tại sao các con vật nhỏ như ong và nhện lại biến đổi để có kích thước gia tăng lớn so với người cũng bị nhiễm . Chuỗi tiến triển ở người thì chậm hơn.
Ở những người bị nhiễm mà không chết ngay thì các chức năng cao cấp của bộ não họ đã bị phá hủy , virus phân hủy dễ dàng thùy trán . ĐIều này chỉ còn để lại một cái gọi là telencephalon, nó có thể được biêt đến như một bộ não để kiểm soát hành vi. Khi đó cơ thể vật chủ chỉ còn lại một số hành vi mang tính bản năng động vật. Khi lây nhiễm rộng ra Virus còn làm bị thương hypothalamus. Cái được dùng để tạo ra một lượng lớn neurotransmitters, enzym và hormone như norepinephrine và dopamine. Những hiệu quả này kết hợp với những triệu chứng đau đớn ,sẽ tạo ra chứng rối loận thần kinh dữ dội, đói dai dẳng và làm gia tăng hiệu quả của những triệu chứng này.
Còn đối với những người đã chết khi bị nhiễm thì việc nhiễm sẽ tạo ra năng lượng chỉ đủ dùng cho các hoạt động thấp nhất của bộ não ( cơ thể mới chết ) , nó chỉ đem lại cho cái xác bị nhiễm khả năng cơ bản như động vật là chỉ đi lang thang và ăn .
Cuối cùng , ở giai đoạn cuối , những vật chủ bị nhiễm này chỉ có thể được gọi bằng một cái tên đúng nhất qua những hành vi và tính chất của chúng , đó là Zombie.
Khi bị nhiễm ở giai đoạn cuối , vật chủ không còn ý thức nữa . Chúng xuất hiện như một xác chết . Trong thực tế , cho thấy vật chủ nhanh chóng tiến đến thời hạn mà virus sẽ hoạt động mạnh thái quá . Trong vòng một giờ , khung xương và bắp thịt đã rệu rã sẽ biến đổi đến một thể mạnh hơn và chắc hơn ,sự phát triển có thể được thấy rõ qua sự sắc bén của răng và vuốt, máu thấm qua da còn lại làm cho da có màu hung đỏ , tiến đến sự phân hủy , mắt còn nguyên vẹn trở thành màu trắng sáng . Nhưng nhà nghiên cứu của Umbrella đã gán cho giai đoạn này là một V-ACT , thường được quy vào như là một Crimson Head .Bộ não sau đó bật trở lại với sự có ý thức một cách yếu ớt, nhưng quan trọng nhất là nó gia tăng độ thông minh ,và tăng đáng kể sự nhanh nhẹn cũng như hung hăng hơn. Với sự biến chuyển nhanh chóng này ,sự sụp đổ tế bào đã đánh trúng một điểm nguy hiểm là các vật chủ không thể hồi phục đúng cách lâu hơn . có thể bị giết vĩnh cửu , và nhận đủ tổn thương.
2.
T-virus cũng giống như các loại virus khác . Cấu tạo gồm một tinh thể protein và một lõi ARN.Khi tinh thể tiếp xúc với mnaf tế bào , nó phá hủy màng và đưa ARN của nó vào tế bào.Tế bào hấp thu nó những thể dạng virsu vào DNA của tế bào đó và làm thay đổi chức năng của chính tế bào đó. Tế bào bắt đầu sinh sản từ tế bào gôcs bị nhiễm virus đó. Cứ thế các tế bào khác cũng bị lây nhiễm lần lần .
T-virus giết bất cứ Mitochondria nào còn sống sót và thay thế vào đó bằng một cái khác đã chết . Virus sau đó nối với những tế bào khác để tạo ra năng lượng , năng lượng này chỉ đủ để duy trì các hoạt động của Neutron thầnkinh và các chức năng thấp nhất của bộ não . Không những thế , nó còn vượt qua toàn bộ hệ thống truyền dẫn , tức là những thứ duy trì hoạt động sẵn sàng của tim và phổi . Tuy nhiên ,virus chỉ có thể hoạt động đúng chức năng bởi việc chi phối tế bào để sản sinh năng lượng và phân chia qua hoạt động phân bào có tơ . Việc sụp đổ chậm chạp của tế bào đã dẫn tới hiệu ứng necrotizing được thấy hầu hết trên BOWs. Virus còn gắn chặt nó vào ARN của vật chủ , thực chất là làm thay đổi vật chủ đó. Điều này giải thích tại sao các con vật nhỏ như ong và nhện lại biến đổi để có kích thước gia tăng lớn so với người cũng bị nhiễm . Chuỗi tiến triển ở người thì chậm hơn.
Ở những người bị nhiễm mà không chết ngay thì các chức năng cao cấp của bộ não họ đã bị phá hủy , virus phân hủy dễ dàng thùy trán . ĐIều này chỉ còn để lại một cái gọi là telencephalon, nó có thể được biêt đến như một bộ não để kiểm soát hành vi. Khi đó cơ thể vật chủ chỉ còn lại một số hành vi mang tính bản năng động vật. Khi lây nhiễm rộng ra Virus còn làm bị thương hypothalamus. Cái được dùng để tạo ra một lượng lớn neurotransmitters, enzym và hormone như norepinephrine và dopamine. Những hiệu quả này kết hợp với những triệu chứng đau đớn ,sẽ tạo ra chứng rối loận thần kinh dữ dội, đói dai dẳng và làm gia tăng hiệu quả của những triệu chứng này.
Còn đối với những người đã chết khi bị nhiễm thì việc nhiễm sẽ tạo ra năng lượng chỉ đủ dùng cho các hoạt động thấp nhất của bộ não ( cơ thể mới chết ) , nó chỉ đem lại cho cái xác bị nhiễm khả năng cơ bản như động vật là chỉ đi lang thang và ăn .
Cuối cùng , ở giai đoạn cuối , những vật chủ bị nhiễm này chỉ có thể được gọi bằng một cái tên đúng nhất qua những hành vi và tính chất của chúng , đó là Zombie.
Khi bị nhiễm ở giai đoạn cuối , vật chủ không còn ý thức nữa . Chúng xuất hiện như một xác chết . Trong thực tế , cho thấy vật chủ nhanh chóng tiến đến thời hạn mà virus sẽ hoạt động mạnh thái quá . Trong vòng một giờ , khung xương và bắp thịt đã rệu rã sẽ biến đổi đến một thể mạnh hơn và chắc hơn ,sự phát triển có thể được thấy rõ qua sự sắc bén của răng và vuốt, máu thấm qua da còn lại làm cho da có màu hung đỏ , tiến đến sự phân hủy , mắt còn nguyên vẹn trở thành màu trắng sáng . Nhưng nhà nghiên cứu của Umbrella đã gán cho giai đoạn này là một V-ACT , thường được quy vào như là một Crimson Head .Bộ não sau đó bật trở lại với sự có ý thức một cách yếu ớt, nhưng quan trọng nhất là nó gia tăng độ thông minh ,và tăng đáng kể sự nhanh nhẹn cũng như hung hăng hơn. Với sự biến chuyển nhanh chóng này ,sự sụp đổ tế bào đã đánh trúng một điểm nguy hiểm là các vật chủ không thể hồi phục đúng cách lâu hơn . có thể bị giết vĩnh cửu , và nhận đủ tổn thương.
3.
Các loại huyết thanh chống virus .
Có tổng cộng bốn loại vacine chống virus , nhưng chỉ ở giai đoạn đầu của quá trình nhiễm .
Thứ nhất: loại huyết thanh này có chỉ có tác dụng đối với các cơ thể vật chủ ko bị một lượng lớn virus tấn công và chưa bị nhiễm lâu lắm . Loại huyết thanh này được tạo ra bởi Dr. Ashford cho cháu gái của ông ta.
Thứ hai :được phát triển bởi Douglas Rover của dịch vụ y tế trực thuộc Umbrella trong bệnh viện của thành phố Raccoon .Đây chính là nỗ lực cuối cùng để ngăn chặn virus trong lúc nó đang lây lan rộng khắp và nhanh chóng .Nhưng hầu hết các nhân viên bệnh viện đều đã bị nhiễm và chết trước khi huyết thanh có một lượng đủ lớn để khống chế virus . Còn việc tạo ra virus thì các bạn đã rõ , chỉ cần dùng Medium Base cho vào máy tạo vaccine để lấy một ống nghiệm và nối với một ống nghiệm khác trong một căn phòng bệnh viện là được vaccine. Mọi tài liệu về Vaccine này đều đã bị Nicolai lấy đi và sau đó hắn còn cho nổ bệnh viện với hàng loạt khối thuốc nổ C-4 để xóa hẳn dấu vết về Vaccine này .Dù sao thì Carlos cũng đã lấy được vaccine cho Jill trước khi bệnh viện nổ tung.
Thứ ba: loại này có tên là Daylight ,được phát triển bỏi Greg Muller and Peter Jenkins ở trường đại học thành phố Raccoon . Thành phần cơ bản của nó là T-blood ( một mẫu máu của vật chủ bị nhiễm T-virus) ,V-poison (một mẫu chất độc tiết ra tù vật chủ nhiễm virus ) và P-base (một hóa chất lỏng cần thiết cho sự tổng hợp ) .Khi đủ các chất trên thì huyết thanh có thể được tổng hợp . Thời gian tổng hợp tù 5 đến 7 phút . Huyết thanh này cần 30 giây đến 1 phút để nhân đôi .
Thứ tư : đây là cái cuối cùng có tên là , AT1521 . Được phát triển bởi các đội nghiên cứu của các cơ sở của Umbrella trong khắp thành phố Raccoon. Các thành viên của các nhóm nghiên cứu này đã quay lại để lây virus để ngăn chặn virus .Nó có đặc tính khá giống Daylight.
Ngoài ra , đội UBCS cũng có vaccine của riêng họ .



