Cộng Mạng
T.E.T.Я.I.S
Ngày nay, Nhật Bản trở thành một siêu cường kinh tế trên Thế giới. Và dĩ nhiên, văn hóa của họ cũng dần được giới thiệu rộng rãi ra bên ngoài, trong đó có mảng âm nhạc. Không thể phủ nhận mức độ phổ biến của các nghệ sĩ như Utada Hikaru hay nhóm nhạc AKB48, nhưng đáng tiếc thay, các nghệ sĩ này không đại diện cho nền âm nhạc đặc sắc và đặc thù của dân tộc Nhật Bản. Và giới trẻ cũng không có cơ hội tiếp xúc với những nét rất riêng, không thể lẫn với bất kỳ dân tộc nào khác của nền âm nhạc Nhật Bản.
Mục đích của chủ đề này là giới thiệu những nét tinh tế trong nền âm nhạc đặc thù của nước Nhật lần lượt qua những bài viết, những ca khúc đậm chất Nhật. Nó là những thứ làm nên sự khác biệt của dân tộc Nhật Bản với phần còn lại của Thế giới.
Để hiểu thế nào là "tâm hồn Nhật Bản" thì đầu tiên nên hiểu được âm nhạc thuần chất Nhật Bản là như thế nào.
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Bài 1: Haru no umi (biển mùa xuân)
Nếu hỏi rằng người Nhật có "nhạc xuân" không, thì xin thưa rằng là có. Một trong những bài nhạc xuân tiêu biểu đối với người Nhật chính là khúc nhạc "Haru no umi" (biển mùa xuân). Khúc nhạc này rất đỗi quen thuộc trong tâm thức người Nhật Bản và thường được phát trên đài vào những ngày đầu năm.
Haru no umi, sáng tác của Miyagi Michio, nghệ sĩ phái Ikuta-ryū biểu diễn với cây đàn Koto và sáo Shakuhachi.
Nghe tại đây hoặc đây
"Haru no umi" (春の海, biển mùa xuân) là một sáng tác Sōkyoku (tranh khúc, khúc nhạc cho đàn Koto) của nhạc sĩ Miyagi Michio. Nhạc cụ của bài này nguyên thủy gồm hai loại là đàn Koto và sáo Shakuhachi, sau này người ta còn chơi bằng hai loại nhạc cụ Tây phương là đàn Violin và sáo Tây. Tiếng đàn trong bản nhạc trầm, đại diện cho tiếng sóng biển, còn tiếng sáo bổng tượng trưng cho tiếng chim biển.
"Haru no umi" được sáng tác vào cuối năm 1929 cho chủ đề "bờ biển" do Thiên Hoàng Nhật Bản ra đề trong hội thơ ca Utakai no hajime trong cung đình vào năm 1930. Đây là một nhạc khúc tiêu biểu cho nền âm nhạc mới của Nhật Bản, nó được chỉ định trong sách giáo khoa âm nhạc cho học sinh tiểu học, ngoài ra còn được sử dụng làm nhạc hiệu của các chương trình TV, Radio, các công ty trong những ngày đầu năm. Ngày nay "Haru no umi" được biết đến như một khúc nhạc không thể thiếu trong ngày đầu năm ở Nhật.
Đặc trưng
Nhạc sư Miyagi Michio bị mù từ năm lên 8 tuổi, nhưng trước đó ông sống với ông bà nội ở vùng Seto, cảnh biển tuyệt đẹp của vịnh Tomo-no-ura thuộc thành phố Fukuyama đã in sâu vào tâm trí ông và trở thành đề tài cho khúc nhạc "Haru no umi" sau này.
Miyagi sáng tác "Haru no umi" với ảnh hưởng của âm nhạc Tây phương chứ không phải Hōgaku (nhạc truyền thống Nhật Bản) cận đại nhưng lại mang ấn tượng, khí sắc Nhật Bản sâu đậm.
Biểu diễn
Sơ diễn
"Haru no umi" được biểu diễu lần đầu tiên vào cuối năm 1929 do chính tác giả Miyagi Michio và nhạc sư sáo Shakuhachi là Yoshida Seifū tại công hội đường Hibiya. Miyagi thuật lại rằng đến nghe buổi biểu diễn có nhà phê bình âm nhạc Ushiyama Mitsuru, Ushiyama cười rằng "giờ là lúc bận rộn, vẫn chưa đến xuân mà các cậu chơi được biển mùa xuân thì quả là nhàn nhã, thật hạnh phúc", và theo tập tùy bút "Yume no sugata" (hình tướng giấc mơ) của ông thì buổi biểu diễn đầu tiên thực sự là vào mùa xuân năm sau.
Những chuyện liên quan
"Haru no umi" trở nên nổi tiếng khi nghệ sĩ Violin Pháp quốc là Renée Chemet đến Nhật thu âm "Haru no umi". Khi đến Nhật, Chemet rất thích "Haru no umi" của Miyagi Michio và quyết định biểu diễn, thu âm và sau đó bán rộng rãi ở Nhật, Hợp chúng quốc Hoa và Pháp quốc. Trong buổi diễn này, Chemet thay tiếng sáo Shakuhachi bằng tiếng Violin và vẫn giữ lại tiếng đàn Koto như nhạc cụ chủ đạo.
Năm 1968, ban nhạc điện tử "Inoue Munetaka & Sharp Five" phát hành album "Haru no umi", thay thế cây đàn Koto bằng Organ, thay tiếng Shakuhachi bằng guitar điện. Trong cùng năm, album này đã chiếm hạng nhất của Nihon Columbia.
Trong bộ phim Mỹ "Hannibal Rising" có cảnh Lady Murasaki chơi "Haru no umi" với cây đàn Koto.
"Haru no umi" được nhiều nghệ sĩ Tây phương biết đến và họ thường biểu diễn với tiếng Piano/ đàn Violin thay cho đàn Koto và sáo Tây/ guitar thay cho sáo Shakuhachi.
Nguồn: http://gokuraku-shujo.blogspot.com/2014/02/am-nhac-haru-no-umi-bien-mua-xuan.html
- - - Updated - - -
Bài 2: đàn Koto
Đàn Koto là một loại nhạc khí dây trong các nhạc cụ truyền thống của dân tộc Nhật. Tên nhạc cụ này được viết là 箏 (Hán Việt: tranh) và còn được đọc theo âm Hán Nhật là "sō", chữ này thường được đọc là "koto". Tên đàn này còn được viết thành Hán tự là 琴 (Hán Việt: cầm) nhưng nói chính xác thì chữ 箏 (tranh) mới đúng, còn 琴 (cầm) vốn là một loại nhạc cụ khác. Tuy hai loại nhạc khí này đều có thể đọc là "koto" nhưng điểm khác nhau lớn nhất giữa 箏 (tranh) và 琴 (cầm) là ở phần "trụ" (Ji) của "tranh" có phần đỡ có thể chuyển động được để điều chỉnh âm trình của dây đàn, còn "cầm" không có phần đỡ này.
Cây đàn "tranh" cổ điển gồm 13 dây, ứng với 13 âm sắc lần lượt là : Ichi (nhất), Ni (nhị), San (tam), Shi (tứ), Go (ngũ), Roku (lục), Shichi (thất), Hachi (bát), Kyū (cửu), Jū (thập), Tō (đấu), I (vi) và Kin (cân).
Cây đàn "tranh" (Koto)
Banshū (buồn tàn thu) được các nghệ sĩ phái Ikuta-ryū biểu diễn với cây đàn Koto. Nghe tại đây hoặc đây.
Lịch sử
Thời cổ đại
Cây đàn Koto nguyên lai vốn có từ thời cổ ở Nhật gọi là Wagon (和琴- Hòa cầm) hoặc Yamato-goto (Đại Hòa cầm) gồm có 6 dây (hiếm khi là 5 dây) và được tìm thấy trong những di tích khai quật từ thời Yayoi đến thời Nara, hiện tại được sử dụng trong biểu diễn Nhã nhạc. Đến thời Heian thì nó được dùng như một nhạc khí biểu diễn phụ trợ trong một loại nhạc khúc Nhã nhạc gọi là Saibara (催馬楽) (loại ca khúc biểu diễn có kèm nhạc cụ thổi và nhạc cụ dây, kết hợp giữa điệu dân ca truyền thống ở địa phương với Nhã nhạc, thứ âm nhạc du nhập từ Trung Hoa đại lục sang). Tuy nhiên, trong thời hiện tại thì Wagon không được sử dụng trong Saibara.
Wagon (Hòa cầm) còn là nhạc khí được sử dụng trong nghi lễ lên đồng của các cô đồng ở núi Osore-yama, nơi được coi là vẫn còn truyền giữ lại nguyên hình thức âm nhạc cổ đại đến tận ngày nay. Ngoài ra, người Ainu (dân tộc thiểu số sống ở quần đảo Nhật Bản) còn có loại nhạc cụ gọi là Tonkori có cấu tạo giống với Wagon (Hòa cầm) nhưng chỉ có 5 dây.
Cây đàn "tranh" (sō) được truyền từ Trung Hoa đại lục sang Nhật Bản kể từ thời Nara có khởi nguyên từ nhân vật Mông Điềm thời nhà Tần (thế kỷ thứ 3 trước CN), nhưng đây chỉ là truyền thuyết và không có cơ sở về mặt lịch sử.
Thời Nara, Heian
Loại đàn Koto được biết đến rộng rãi hiện nay ở Nhật là cây đàn "tranh" được lưu truyền từ Đường quốc sang Nhật Bản vào thời Nara, gồm có 13 dây và được sử dụng trong Nhã nhạc thời Nara và sau đó là thời Heian. Cây đàn Koto (tranh) được cho là tượng trưng cho rồng, và các bộ phận của cây đàn có chỗ được gọi là "long đầu" (đầu rồng) và "long vĩ" (đuôi rồng). Đàn Koto dùng trong Nhã nhạc còn được gọi là "Gakusō" hoặc "Gaku-goto" (楽箏 - Nhạc tranh).
Trong thời Nara, Heian thì đàn Koto được dùng với hình thức độc tấu hoặc chơi đệm cho lời hát. Những cảnh chơi đàn Koto thường thấy miêu tả trong các tác phẩm văn học cổ điển thời Heian như Genji-monogatari. Tuy nhiên, các nhạc khúc từ thời Nara, Heian đã thất truyền, không được lưu đến hiện tại.
Nếu như Koto tượng trưng cho long thì thời cổ còn có cây đàn Kugo (箜篌 - Không hầu) tượng trưng cho phượng hoàng, nhưng cây đàn này đã bị thất truyền. Trong kho bảo vật Shōsō-in vẫn còn bảo quản một phần mảnh vỡ của đàn Kugo, và ngày nay người ta đang khôi phục lại cây đàn Kugo này. Ngoài ra còn có một loại nhạc cụ dây giống với Koto nhưng kích thước to lớn, gọi là Shitsu (hoặc Hitsu) (瑟- sắt). Trong khi Shōsō-in vẫn còn lưu giữ cây đàn Shitsu (sắt) Nhật Bản với 24 dây, còn đàn sắt Trung Hoa cổ đại gồm có 25 dây. Theo truyền thuyết thì thần linh đã chẻ đôi cây đàn Shitsu (sắt) này thành ra cây đàn Koto (tranh) 13 dây và đàn Koto (tranh) 12 dây. Hiện tại, đàn Shitsu (sắt) đã "tuyệt chủng" trong nền âm nhạc truyền thống Nhật Bản, nhưng cũng có nỗ lực khôi phục lại.
Thời trung cổ
Khoảng thời gian từ cuối thời Heian cho đến thời Muromachi thì không có ghi chép mang tính lịch sử nào rõ ràng về cây đàn Koto. Thời Azuchi-Momoyama thì có vị tăng lỡ Tịnh Độ tông là Kenjun (1574~1636) ở Kita Kyūshū đã thống hợp các nhạc khúc độc tấu của đàn Koto truyền từ Trung Hoa và cây đàn bản địa với các nhạc khúc Koto cho Nhã nhạc thành ra "Tsukushi-goto".
Thời Edo
Trong thời kỳ này, các khúc nhạc cho đàn Koto (Sōkyoku -tranh khúc) do các nhạc sư mù viết ra được gọi chung là "Zokusō" hay "Zoku-goto" (俗箏 -tục tranh). Zokusō dựa trên nền tảng là Tsukushi-goto do nhà sư Kenjun khởi xướng trong thời kỳ trước và đã thành công trong việc thiết lập nền tảng cho đàn Koto và các khúc nhạc Sōkyoku.
Đầu thời Edo có nhạc sư mù Yatsuhashi Kengyō (1614~1685) là người có công lớn trong việc đổi âm giai chỉnh âm cây đàn Koto từ trước đó sang âm giai Miyako-bushi phổ biến ở các nơi phồn hoa đô hội và nhân rộng trong đại chúng. Ngoài ra ông còn sáng tác nhiều khúc nhạc cho đàn Koto và đặt nền móng cơ bản cho các khúc nhạc Koto (Sōkyoku) hiện tại. Có thuyết cho rằng các khúc biến tấu "Dan-mono" (tên gọi chung của các khúc nhạc Godan, Rokudan, Hachidan...) được khai sinh là do Yatsuhashi Kengyō tiếp xúc với âm nhạc Tây phương, nhất là cây đàn Cembalo bằng hình thức nào đó.
Một trong những khúc nhạc độc tấu cho đàn Koto tiêu biểu là Rokudan no shirabe (khúc nhạc lục đoạn) còn được lưu truyền đến ngày nay là sáng tác của Yatsuhashi Kengyō. Kengyō là chức danh cao nhất của người mù trong thời phong kiến ở Nhật. Năm 1685 khi Yatsuhashi Kengyō qua đời cũng là năm sinh của nhiều đại gia trong nền âm nhạc Tây phương như Bach, Händel và Domenico Scarlatti. Tên của Yatsuhashi Kengyō còn được đặt cho một loại bánh ngọt Wagashi ở Kyōto là bánh "Yatsuhashi" phỏng theo hình dạng cây đàn Koto.
Nhạc khúc Midare (loạn) của Yatsuhashi Kengyō do nghệ sĩ phái Ikuta-ryū biểu diễn: nghe tại đây
Hoặc khúc biến tấu Midare (loạn) do nữ nghệ sĩ Yoshimura Nanae biểu diễn: nghe tại đây
Sau Yatsuhashi Kengyō, giữa thời Edo còn có hai nhà sáng tác Sōkyoku (tranh khúc) quan trọng khác là Yamada Kengyō và Ikuta Kengyō. Đây là hai nhân vật lớn, lập nên hai trường phái Koto là Ikuta-ryū và Yamada-ryū lưu truyền đến ngày nay. Ikuta Kengyō hoạt động ở kinh đô Kyōto trong những năm Genroku, có nhiều cải tiến trong phương pháp biểu diễn, chỉnh âm, cải tiến tay khảy đàn và có nhiều đóng góp trong việc phát triển các khúc nhạc Koto.
Thực tế đương thời ở vùng Kamigata (vùng quanh Kyōto, Ōsaka) có nhiều lưu phái mới phát sinh và đều có những cải tiến độc đáo về tay gãy đàn và sáng tác nhạc khúc. Thời nay, người ta gọi chung hết những lưu phái đó là Ikuta-ryū.
Ikuta Kengyō được cho là có công lớn trong việc đưa cây đàn Koto vào biểu diễn chung với Ji-uta, một hình thức biểu diễn đàn Shamisen nhưng thực tế đàn Koto cũng được diễn hợp tấu với Shamisen ở các lưu phái khác. Và như vậy Sōkyoku (tranh khúc) trở nên thịnh hành ở vùng Kamigata (phía Tây nước Nhật) một thời gian, đến nửa cuối thế kỷ 18 có nhạc sư mù Yamada Kengyō hoạt động ở Edo (phía Đông nước Nhật) cải tiến nhạc cụ và sáng tác nhạc khúc cho thể loại hát rối Jōruri (Tịnh lưu ly) và ông trở thành khai tổ của lưu phái Yamada-ryū. Lưu phái Yamada-ryū này lan rộng khắp miền Đông Nhật Bản, trung tâm là Edo. Và như vậy, cho đến cuối thời Mạc phủ Tokugawa thì miền Tây nước Nhật có phái Ikuta-ryū, còn miền Đông có Yamada-ryū hoạt động mạnh mẽ. Ngoài ra còn có một phần lưu phái Yatsuhashi-ryū được truyền thừa trực tiếp từ Yatsuhashi Kengyō lưu hành.
Các nhà sáng tác Sōkyoku (tranh khúc) quan trọng trong thời kỳ này gồm có Kitajima Kengyō đầu thời Edo, đệ tử của Yatsuhashi Kengyō và là sư phụ của Ikuta Kengyō, giữa kỳ có Mitsuhashi Kengyō và Yasumura Kengyō nổi tiếng với các sáng tác cho Kumi-uta, thể loại phối hợp các nhạc khúc có sẵn thành một bài duy nhất, và đến cuối kỳ Edo thì có Yaezaki Kengyō, Mitsuzaki Kengyō và Yoshizawa Kengyō.
Trong thời Edo, cây đàn Koto bị chế độ Tōdōza, tổ chức của những người mù độc chiếm. Koto chỉ được truyền dạy trong các nhạc sư mù và họ không chấp nhận cho người sáng mắt bình thường trở thành người biểu diễn chuyên nghiệp.
Vì vậy nên ngoài Ji-uta ra thì trái ngược với các thể loại âm nhạc khác diễn tấu với cây đàn Shamisen như kịch Kabuki hay kịch rối Jōruri (Tịnh lưu ly), tức các hình thức biểu diễn mang yếu tố thị giác, thì Sōkyoku (tranh khúc) biểu diễn với cây đàn Koto không có bất kỳ mối quan hệ nào với các sân khấu, kịch trường và chỉ phát triển như một thứ âm nhạc thuần túy. Trung tâm của Sōkyoku (tranh khúc) là Kumi-uta, trong đó đàn Koto phụ họa với các nhạc cụ khác, và các khúc độc tấu dành cho riêng Koto gọi là Dan-mono (tên gọi chung của các ca khúc "Ngũ đoạn"-Godan, "Lục đoạn"-Rokudan, "Bát đoạn"-Hachidan...). Và nhạc khúc Koto cũng phát triển mạnh mẽ trong vai trò là Tegoto, tiết mục biểu diễn đệm giữa hai lời hát trong thể loại hợp tấu Ji-uta.
Trái với cây đàn Shamisen phổ cập mạnh mẽ trong giới bình dân và có liên hệ mạnh mẽ với các du nữ, gái làng chơi, thì cây đàn Koto cùng các nhạc khúc của nó (tranh khúc) lại là đối tượng thường xuyên xuất hiện trong các tác phẩm văn học Vương triều, được cho là thứ âm nhạc mang tinh thần tao nhã, được giới Võ gia đương thời nhận thức là loại "âm nhạc cao thượng" nên đàn Koto trở thành một thú vui không thể thiếu của các tiểu thư con nhà Võ gia quyền quý.
[video=youtube;wXF-8vPrUmU]http://www.youtube.com/watch?v=wXF-8vPrUmU[/video]
Thời cận đại
Kể từ thời Meiji trở đi thì chế độ Tōdōza bị bãi bỏ, ngoài những người mù ra thì người mắt sáng bình thường vẫn có thể theo đuổi nghề diễn tấu đàn Koto. Các nhạc khúc được sáng tác trong thời kỳ này được gọi là "Meiji shinkyoku" (Minh Trị tân khúc) và có ít ảnh hưởng từ âm nhạc Tây phương, ngoài ra còn thấy có ảnh hưởng từ Minh Thanh nhạc, loại âm nhạc du nhập từ Trung Hoa sang.
Thời kỳ này chứng kiến sự cách tân trong trào lưu tư tưởng của toàn dân kể từ sau cuộc duy tân Meiji cho nên Sōkyoku (tranh khúc) được giải phóng rộng rãi, ngoài giới người mù ra thì còn có rất nhiều người bình thường khác bước vào thế giới của đàn Koto, cho nên thời kỳ này chứng kiến sự ra đời của rất nhiều nhạc khúc. Nhất là ở vùng Ōsaka, Minh Trị tân khúc cực kỳ thịnh hành. Tuy nhiên, đối với người chơi Koto hiện tại thì các nhạc khúc ra đời trong thời gian này được cho là có ít bài đạt chất lượng thỏa mãn. Nhưng bầu không khí âm nhạc thời kỳ này mang nét mới mẻ, độc đáo. Các tác phẩm sáng tác trong thời kỳ này vẫn thường được biểu diễn trong ngày nay có thể kể đến "Aki no koto no ha" (lời mùa thu) của Nishiyama Tokumo-ichi, "Kaede no hana" (hoa Kaede) của Matsuzaka Shun-ei, "Saga no aki" (mùa thu Saga) của Kikusue Kengyō, "Meiji Shōchikubai" (Minh Trị tùng trúc mai) của Kikuzuka Yo-ichi. Ngoài ra cũng có không ít nhạc khúc bất hũ như "Shiragiku" (cúc trắng) của Terashima Hanano, "Miyako no haru" (mùa xuân kinh kỳ) của phái Yamada-ryū.
Trong thời kỳ Taishō (Đại Chánh) và những năm đầu niên hiệu Shōwa (Chiêu Hòa) thì không thể không nhắc đến tên tuổi Miyagi Michio khi nói đển mảng Sōkyoku (tranh khúc). Ông là nhạc sư phái Ikuta-ryū và là nhân vật trung tâm trong trong việc đưa vào yếu tố âm nhạc Tây phương để hình thành nền âm nhạc mới của Nhật Bản. Ông không chỉ hoạt động trong lãnh vực Koto mà còn nổi trội trong các mặt khác của âm nhạc truyền thống (Hōgaku). Sáng tác tiêu biểu của Miyagi Michio là "Haru no umi" (biển mùa xuân) dành cho đàn Koto và cây sáo Shakuhachi (nói chính xác, loại sáo này dài 1 xích 6 thốn, ngắn hơn Shakuhachi một chút). "Haru no umi" là khúc nhạc viết lại ngữ pháp của âm nhạc truyền thống Nhật Bản (Hōgaku) và khai thác hết tính năng của nhạc cụ, cho đến nay thì nó vẫn là khúc nhạc hàng đầu khi chọn biểu diễn đàn Koto. "Haru no umi" (biển mùa xuân) của Miyagi Michio còn được diễn tấu với đàn Violin hay sáo Tây thay cho Shakuhachi. Về Violin thì có nữ nghệ sĩ Pháp quốc là Renée Chemet từng diễn tấu khúc nhạc này và kể từ đó, tên tuổi Miyagi Michio cũng như cây đàn Koto được Thế giới biết đến rộng rãi. Miyagi Michio không chỉ đi vào mảng sáng tác nhạc khúc và cải tiến nhạc cụ mà còn dốc hết lực vào việc khôi phục các nhạc phẩm cổ điển và các hoạt động đào tạo. Từ trước đó, việc luyện tập và truyền thụ đàn Koto chủ yếu thông qua hình thức truyền miệng, và Miyagi là người có công lớn trong việc phổ cập nhạc phổ vào âm nhạc truyền thống.
Miyagi Michio ảnh hưởng đến toàn thể trào lưu của thế giới Sankyoku (Tam khúc, một thể loại Ji-uta với đàn Koto, Shamisen và hồ cung). Các nhà tác khúc như Nakamura Sōyō, Hisamoto Genchi phái Ikuta-ryū và Naka-no-shima Kin-ichi đều có nhiều sáng tác chịu nhiều ảnh hưởng từ Miyagi Michio để lại cho hậu thế. Ngay cả những người không phải là nhà sáng tác Sōkyoku (tranh khúc) như Machida Kashō (nhà phê bình âm nhạc) cũng chịu ảnh hưởng của Miyagi mà sáng tác nhiều tác phẩm hợp tấu với các nhạc cụ truyền thống.
Thời hiện đại
Ngày nay, đàn Koto và Sōkyoku (tranh khúc) vẫn được truyền thừa qua các lưu phái truyền thống như Ikuta-ryū và Yamada-ryū, ngoài ra còn có sự giao lưu với âm nhạc cổ điển Tây phương. Cụ thế, năm 1964 dấy lên trào lưu sử dụng nhạc cụ Hōgaku (âm nhạc truyền thống) trong giới nhạc sĩ âm nhạc hiện đại. Các nhạc cụ truyền thống, trong đó có đàn Koto được sử dụng rộng rãi trong âm nhạc hiện đại. Dòng nhạc này phát huy đặc điểm, ưu điểm của cách biểu diễn và nhạc cụ truyền thống trong những bản nhạc mang âm luật hiện đại, Âu hóa và nó vẫn được hỗ trợ, tiếp tục đến nay thông qua các tổ chức âm nhạc như "Hōgaku yonin no kai", "Nihon ongaku shūdan" (tên Tây: Pro Musica Nipponia). Các nhóm nhạc trẻ như Rin' cũng thường sử dụng nhạc cụ truyền thống trong các tác phẩm mang âm luật hiện đại của họ.
Các nhạc phẩm đàn Koto chủ yếu trong âm nhạc hiện đại
Tác phẩm cho đàn Koto và dàn nhạc giao hưởng
* Fūchō-kagetsu (phong điểu hoa nguyệt), tác giả Yuasa Jōji, 1967.
* Hō-ō sanren.Ha-no-kyoku (phá khúc phượng hoàng tam liên), Matsu no kyōsōkyoku (hợp tấu khúc Matsu (tùng)),.... tác giả Miki Minoru.
* Sáng tác cho đàn Koto 20 dây và dàn nhạc giao hưởng của Ifukube Akira, 1982.
* In the shadow of the tree của Sofia Gubaidulina, nữ nghệ sĩ Liên Xô, 1999.
* Jūkai (thụ hải - biển cây), khúc hợp tấu cho đàn Koto 20 dây và dàn nhạc giao hưởng của Nishimura Akira, 2002.
* Khúc hợp tấu cho đàn Koto và dàn nhạc giao hưởng của Sakamoto Ryū-ichi, 2010.
Tác phẩm độc tấu Koto
* Sonata độc tấu Koto của Shimofusa Kan-ichi năm 1938. Đây là khúc độc tấu Koto đầu tiên của nhạc sĩ hệ âm nhạc Tây phương.
* Tennyo (thiên như) của Miki Minori năm 1969, đây là khúc độc tấu đầu tiên cho đàn Koto 20 dây.
* Koto uta (bài ca Koto) của Hosokawa Toshio.
* Intermezzi II của Mochizuki Misato.
Các tác phẩm khác
* Ama no megumi (ơn huệ của trời) của Enokido Fuyuki, 2011.
* Kaggra: nhóm nhạc Rock Nhật Bản. Nhóm nhạc này có nhiều tác phẩm biểu diễn với đàn Koto.
Nhạc phẩm "tennyo" (thiên như) sáng tác của Miki Minoru, nghệ sĩ Yoshimura Nanae biểu diễn với đàn Koto 20 dây: nghe tại đây.
Mục đích của chủ đề này là giới thiệu những nét tinh tế trong nền âm nhạc đặc thù của nước Nhật lần lượt qua những bài viết, những ca khúc đậm chất Nhật. Nó là những thứ làm nên sự khác biệt của dân tộc Nhật Bản với phần còn lại của Thế giới.
Để hiểu thế nào là "tâm hồn Nhật Bản" thì đầu tiên nên hiểu được âm nhạc thuần chất Nhật Bản là như thế nào.
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Bài 1: Haru no umi (biển mùa xuân)
Nếu hỏi rằng người Nhật có "nhạc xuân" không, thì xin thưa rằng là có. Một trong những bài nhạc xuân tiêu biểu đối với người Nhật chính là khúc nhạc "Haru no umi" (biển mùa xuân). Khúc nhạc này rất đỗi quen thuộc trong tâm thức người Nhật Bản và thường được phát trên đài vào những ngày đầu năm.
Haru no umi, sáng tác của Miyagi Michio, nghệ sĩ phái Ikuta-ryū biểu diễn với cây đàn Koto và sáo Shakuhachi.
Nghe tại đây hoặc đây
"Haru no umi" (春の海, biển mùa xuân) là một sáng tác Sōkyoku (tranh khúc, khúc nhạc cho đàn Koto) của nhạc sĩ Miyagi Michio. Nhạc cụ của bài này nguyên thủy gồm hai loại là đàn Koto và sáo Shakuhachi, sau này người ta còn chơi bằng hai loại nhạc cụ Tây phương là đàn Violin và sáo Tây. Tiếng đàn trong bản nhạc trầm, đại diện cho tiếng sóng biển, còn tiếng sáo bổng tượng trưng cho tiếng chim biển.
"Haru no umi" được sáng tác vào cuối năm 1929 cho chủ đề "bờ biển" do Thiên Hoàng Nhật Bản ra đề trong hội thơ ca Utakai no hajime trong cung đình vào năm 1930. Đây là một nhạc khúc tiêu biểu cho nền âm nhạc mới của Nhật Bản, nó được chỉ định trong sách giáo khoa âm nhạc cho học sinh tiểu học, ngoài ra còn được sử dụng làm nhạc hiệu của các chương trình TV, Radio, các công ty trong những ngày đầu năm. Ngày nay "Haru no umi" được biết đến như một khúc nhạc không thể thiếu trong ngày đầu năm ở Nhật.
Đặc trưng
Nhạc sư Miyagi Michio bị mù từ năm lên 8 tuổi, nhưng trước đó ông sống với ông bà nội ở vùng Seto, cảnh biển tuyệt đẹp của vịnh Tomo-no-ura thuộc thành phố Fukuyama đã in sâu vào tâm trí ông và trở thành đề tài cho khúc nhạc "Haru no umi" sau này.
Miyagi sáng tác "Haru no umi" với ảnh hưởng của âm nhạc Tây phương chứ không phải Hōgaku (nhạc truyền thống Nhật Bản) cận đại nhưng lại mang ấn tượng, khí sắc Nhật Bản sâu đậm.
Biểu diễn
Sơ diễn
"Haru no umi" được biểu diễu lần đầu tiên vào cuối năm 1929 do chính tác giả Miyagi Michio và nhạc sư sáo Shakuhachi là Yoshida Seifū tại công hội đường Hibiya. Miyagi thuật lại rằng đến nghe buổi biểu diễn có nhà phê bình âm nhạc Ushiyama Mitsuru, Ushiyama cười rằng "giờ là lúc bận rộn, vẫn chưa đến xuân mà các cậu chơi được biển mùa xuân thì quả là nhàn nhã, thật hạnh phúc", và theo tập tùy bút "Yume no sugata" (hình tướng giấc mơ) của ông thì buổi biểu diễn đầu tiên thực sự là vào mùa xuân năm sau.
Những chuyện liên quan
"Haru no umi" trở nên nổi tiếng khi nghệ sĩ Violin Pháp quốc là Renée Chemet đến Nhật thu âm "Haru no umi". Khi đến Nhật, Chemet rất thích "Haru no umi" của Miyagi Michio và quyết định biểu diễn, thu âm và sau đó bán rộng rãi ở Nhật, Hợp chúng quốc Hoa và Pháp quốc. Trong buổi diễn này, Chemet thay tiếng sáo Shakuhachi bằng tiếng Violin và vẫn giữ lại tiếng đàn Koto như nhạc cụ chủ đạo.
Năm 1968, ban nhạc điện tử "Inoue Munetaka & Sharp Five" phát hành album "Haru no umi", thay thế cây đàn Koto bằng Organ, thay tiếng Shakuhachi bằng guitar điện. Trong cùng năm, album này đã chiếm hạng nhất của Nihon Columbia.
Trong bộ phim Mỹ "Hannibal Rising" có cảnh Lady Murasaki chơi "Haru no umi" với cây đàn Koto.
"Haru no umi" được nhiều nghệ sĩ Tây phương biết đến và họ thường biểu diễn với tiếng Piano/ đàn Violin thay cho đàn Koto và sáo Tây/ guitar thay cho sáo Shakuhachi.
Nguồn: http://gokuraku-shujo.blogspot.com/2014/02/am-nhac-haru-no-umi-bien-mua-xuan.html
- - - Updated - - -
Bài 2: đàn Koto
Đàn Koto là một loại nhạc khí dây trong các nhạc cụ truyền thống của dân tộc Nhật. Tên nhạc cụ này được viết là 箏 (Hán Việt: tranh) và còn được đọc theo âm Hán Nhật là "sō", chữ này thường được đọc là "koto". Tên đàn này còn được viết thành Hán tự là 琴 (Hán Việt: cầm) nhưng nói chính xác thì chữ 箏 (tranh) mới đúng, còn 琴 (cầm) vốn là một loại nhạc cụ khác. Tuy hai loại nhạc khí này đều có thể đọc là "koto" nhưng điểm khác nhau lớn nhất giữa 箏 (tranh) và 琴 (cầm) là ở phần "trụ" (Ji) của "tranh" có phần đỡ có thể chuyển động được để điều chỉnh âm trình của dây đàn, còn "cầm" không có phần đỡ này.
Cây đàn "tranh" cổ điển gồm 13 dây, ứng với 13 âm sắc lần lượt là : Ichi (nhất), Ni (nhị), San (tam), Shi (tứ), Go (ngũ), Roku (lục), Shichi (thất), Hachi (bát), Kyū (cửu), Jū (thập), Tō (đấu), I (vi) và Kin (cân).
Cây đàn "tranh" (Koto)
Banshū (buồn tàn thu) được các nghệ sĩ phái Ikuta-ryū biểu diễn với cây đàn Koto. Nghe tại đây hoặc đây.
Lịch sử
Thời cổ đại
Cây đàn Koto nguyên lai vốn có từ thời cổ ở Nhật gọi là Wagon (和琴- Hòa cầm) hoặc Yamato-goto (Đại Hòa cầm) gồm có 6 dây (hiếm khi là 5 dây) và được tìm thấy trong những di tích khai quật từ thời Yayoi đến thời Nara, hiện tại được sử dụng trong biểu diễn Nhã nhạc. Đến thời Heian thì nó được dùng như một nhạc khí biểu diễn phụ trợ trong một loại nhạc khúc Nhã nhạc gọi là Saibara (催馬楽) (loại ca khúc biểu diễn có kèm nhạc cụ thổi và nhạc cụ dây, kết hợp giữa điệu dân ca truyền thống ở địa phương với Nhã nhạc, thứ âm nhạc du nhập từ Trung Hoa đại lục sang). Tuy nhiên, trong thời hiện tại thì Wagon không được sử dụng trong Saibara.
Wagon (Hòa cầm) còn là nhạc khí được sử dụng trong nghi lễ lên đồng của các cô đồng ở núi Osore-yama, nơi được coi là vẫn còn truyền giữ lại nguyên hình thức âm nhạc cổ đại đến tận ngày nay. Ngoài ra, người Ainu (dân tộc thiểu số sống ở quần đảo Nhật Bản) còn có loại nhạc cụ gọi là Tonkori có cấu tạo giống với Wagon (Hòa cầm) nhưng chỉ có 5 dây.
Cây đàn "tranh" (sō) được truyền từ Trung Hoa đại lục sang Nhật Bản kể từ thời Nara có khởi nguyên từ nhân vật Mông Điềm thời nhà Tần (thế kỷ thứ 3 trước CN), nhưng đây chỉ là truyền thuyết và không có cơ sở về mặt lịch sử.
Thời Nara, Heian
Loại đàn Koto được biết đến rộng rãi hiện nay ở Nhật là cây đàn "tranh" được lưu truyền từ Đường quốc sang Nhật Bản vào thời Nara, gồm có 13 dây và được sử dụng trong Nhã nhạc thời Nara và sau đó là thời Heian. Cây đàn Koto (tranh) được cho là tượng trưng cho rồng, và các bộ phận của cây đàn có chỗ được gọi là "long đầu" (đầu rồng) và "long vĩ" (đuôi rồng). Đàn Koto dùng trong Nhã nhạc còn được gọi là "Gakusō" hoặc "Gaku-goto" (楽箏 - Nhạc tranh).
Trong thời Nara, Heian thì đàn Koto được dùng với hình thức độc tấu hoặc chơi đệm cho lời hát. Những cảnh chơi đàn Koto thường thấy miêu tả trong các tác phẩm văn học cổ điển thời Heian như Genji-monogatari. Tuy nhiên, các nhạc khúc từ thời Nara, Heian đã thất truyền, không được lưu đến hiện tại.
Nếu như Koto tượng trưng cho long thì thời cổ còn có cây đàn Kugo (箜篌 - Không hầu) tượng trưng cho phượng hoàng, nhưng cây đàn này đã bị thất truyền. Trong kho bảo vật Shōsō-in vẫn còn bảo quản một phần mảnh vỡ của đàn Kugo, và ngày nay người ta đang khôi phục lại cây đàn Kugo này. Ngoài ra còn có một loại nhạc cụ dây giống với Koto nhưng kích thước to lớn, gọi là Shitsu (hoặc Hitsu) (瑟- sắt). Trong khi Shōsō-in vẫn còn lưu giữ cây đàn Shitsu (sắt) Nhật Bản với 24 dây, còn đàn sắt Trung Hoa cổ đại gồm có 25 dây. Theo truyền thuyết thì thần linh đã chẻ đôi cây đàn Shitsu (sắt) này thành ra cây đàn Koto (tranh) 13 dây và đàn Koto (tranh) 12 dây. Hiện tại, đàn Shitsu (sắt) đã "tuyệt chủng" trong nền âm nhạc truyền thống Nhật Bản, nhưng cũng có nỗ lực khôi phục lại.
Thời trung cổ
Khoảng thời gian từ cuối thời Heian cho đến thời Muromachi thì không có ghi chép mang tính lịch sử nào rõ ràng về cây đàn Koto. Thời Azuchi-Momoyama thì có vị tăng lỡ Tịnh Độ tông là Kenjun (1574~1636) ở Kita Kyūshū đã thống hợp các nhạc khúc độc tấu của đàn Koto truyền từ Trung Hoa và cây đàn bản địa với các nhạc khúc Koto cho Nhã nhạc thành ra "Tsukushi-goto".
Thời Edo
Trong thời kỳ này, các khúc nhạc cho đàn Koto (Sōkyoku -tranh khúc) do các nhạc sư mù viết ra được gọi chung là "Zokusō" hay "Zoku-goto" (俗箏 -tục tranh). Zokusō dựa trên nền tảng là Tsukushi-goto do nhà sư Kenjun khởi xướng trong thời kỳ trước và đã thành công trong việc thiết lập nền tảng cho đàn Koto và các khúc nhạc Sōkyoku.
Đầu thời Edo có nhạc sư mù Yatsuhashi Kengyō (1614~1685) là người có công lớn trong việc đổi âm giai chỉnh âm cây đàn Koto từ trước đó sang âm giai Miyako-bushi phổ biến ở các nơi phồn hoa đô hội và nhân rộng trong đại chúng. Ngoài ra ông còn sáng tác nhiều khúc nhạc cho đàn Koto và đặt nền móng cơ bản cho các khúc nhạc Koto (Sōkyoku) hiện tại. Có thuyết cho rằng các khúc biến tấu "Dan-mono" (tên gọi chung của các khúc nhạc Godan, Rokudan, Hachidan...) được khai sinh là do Yatsuhashi Kengyō tiếp xúc với âm nhạc Tây phương, nhất là cây đàn Cembalo bằng hình thức nào đó.
Một trong những khúc nhạc độc tấu cho đàn Koto tiêu biểu là Rokudan no shirabe (khúc nhạc lục đoạn) còn được lưu truyền đến ngày nay là sáng tác của Yatsuhashi Kengyō. Kengyō là chức danh cao nhất của người mù trong thời phong kiến ở Nhật. Năm 1685 khi Yatsuhashi Kengyō qua đời cũng là năm sinh của nhiều đại gia trong nền âm nhạc Tây phương như Bach, Händel và Domenico Scarlatti. Tên của Yatsuhashi Kengyō còn được đặt cho một loại bánh ngọt Wagashi ở Kyōto là bánh "Yatsuhashi" phỏng theo hình dạng cây đàn Koto.
Nhạc khúc Midare (loạn) của Yatsuhashi Kengyō do nghệ sĩ phái Ikuta-ryū biểu diễn: nghe tại đây
Hoặc khúc biến tấu Midare (loạn) do nữ nghệ sĩ Yoshimura Nanae biểu diễn: nghe tại đây
Sau Yatsuhashi Kengyō, giữa thời Edo còn có hai nhà sáng tác Sōkyoku (tranh khúc) quan trọng khác là Yamada Kengyō và Ikuta Kengyō. Đây là hai nhân vật lớn, lập nên hai trường phái Koto là Ikuta-ryū và Yamada-ryū lưu truyền đến ngày nay. Ikuta Kengyō hoạt động ở kinh đô Kyōto trong những năm Genroku, có nhiều cải tiến trong phương pháp biểu diễn, chỉnh âm, cải tiến tay khảy đàn và có nhiều đóng góp trong việc phát triển các khúc nhạc Koto.
Thực tế đương thời ở vùng Kamigata (vùng quanh Kyōto, Ōsaka) có nhiều lưu phái mới phát sinh và đều có những cải tiến độc đáo về tay gãy đàn và sáng tác nhạc khúc. Thời nay, người ta gọi chung hết những lưu phái đó là Ikuta-ryū.
Ikuta Kengyō được cho là có công lớn trong việc đưa cây đàn Koto vào biểu diễn chung với Ji-uta, một hình thức biểu diễn đàn Shamisen nhưng thực tế đàn Koto cũng được diễn hợp tấu với Shamisen ở các lưu phái khác. Và như vậy Sōkyoku (tranh khúc) trở nên thịnh hành ở vùng Kamigata (phía Tây nước Nhật) một thời gian, đến nửa cuối thế kỷ 18 có nhạc sư mù Yamada Kengyō hoạt động ở Edo (phía Đông nước Nhật) cải tiến nhạc cụ và sáng tác nhạc khúc cho thể loại hát rối Jōruri (Tịnh lưu ly) và ông trở thành khai tổ của lưu phái Yamada-ryū. Lưu phái Yamada-ryū này lan rộng khắp miền Đông Nhật Bản, trung tâm là Edo. Và như vậy, cho đến cuối thời Mạc phủ Tokugawa thì miền Tây nước Nhật có phái Ikuta-ryū, còn miền Đông có Yamada-ryū hoạt động mạnh mẽ. Ngoài ra còn có một phần lưu phái Yatsuhashi-ryū được truyền thừa trực tiếp từ Yatsuhashi Kengyō lưu hành.
Các nhà sáng tác Sōkyoku (tranh khúc) quan trọng trong thời kỳ này gồm có Kitajima Kengyō đầu thời Edo, đệ tử của Yatsuhashi Kengyō và là sư phụ của Ikuta Kengyō, giữa kỳ có Mitsuhashi Kengyō và Yasumura Kengyō nổi tiếng với các sáng tác cho Kumi-uta, thể loại phối hợp các nhạc khúc có sẵn thành một bài duy nhất, và đến cuối kỳ Edo thì có Yaezaki Kengyō, Mitsuzaki Kengyō và Yoshizawa Kengyō.
Trong thời Edo, cây đàn Koto bị chế độ Tōdōza, tổ chức của những người mù độc chiếm. Koto chỉ được truyền dạy trong các nhạc sư mù và họ không chấp nhận cho người sáng mắt bình thường trở thành người biểu diễn chuyên nghiệp.
Vì vậy nên ngoài Ji-uta ra thì trái ngược với các thể loại âm nhạc khác diễn tấu với cây đàn Shamisen như kịch Kabuki hay kịch rối Jōruri (Tịnh lưu ly), tức các hình thức biểu diễn mang yếu tố thị giác, thì Sōkyoku (tranh khúc) biểu diễn với cây đàn Koto không có bất kỳ mối quan hệ nào với các sân khấu, kịch trường và chỉ phát triển như một thứ âm nhạc thuần túy. Trung tâm của Sōkyoku (tranh khúc) là Kumi-uta, trong đó đàn Koto phụ họa với các nhạc cụ khác, và các khúc độc tấu dành cho riêng Koto gọi là Dan-mono (tên gọi chung của các ca khúc "Ngũ đoạn"-Godan, "Lục đoạn"-Rokudan, "Bát đoạn"-Hachidan...). Và nhạc khúc Koto cũng phát triển mạnh mẽ trong vai trò là Tegoto, tiết mục biểu diễn đệm giữa hai lời hát trong thể loại hợp tấu Ji-uta.
Trái với cây đàn Shamisen phổ cập mạnh mẽ trong giới bình dân và có liên hệ mạnh mẽ với các du nữ, gái làng chơi, thì cây đàn Koto cùng các nhạc khúc của nó (tranh khúc) lại là đối tượng thường xuyên xuất hiện trong các tác phẩm văn học Vương triều, được cho là thứ âm nhạc mang tinh thần tao nhã, được giới Võ gia đương thời nhận thức là loại "âm nhạc cao thượng" nên đàn Koto trở thành một thú vui không thể thiếu của các tiểu thư con nhà Võ gia quyền quý.
[video=youtube;wXF-8vPrUmU]http://www.youtube.com/watch?v=wXF-8vPrUmU[/video]
Thời cận đại
Kể từ thời Meiji trở đi thì chế độ Tōdōza bị bãi bỏ, ngoài những người mù ra thì người mắt sáng bình thường vẫn có thể theo đuổi nghề diễn tấu đàn Koto. Các nhạc khúc được sáng tác trong thời kỳ này được gọi là "Meiji shinkyoku" (Minh Trị tân khúc) và có ít ảnh hưởng từ âm nhạc Tây phương, ngoài ra còn thấy có ảnh hưởng từ Minh Thanh nhạc, loại âm nhạc du nhập từ Trung Hoa sang.
Thời kỳ này chứng kiến sự cách tân trong trào lưu tư tưởng của toàn dân kể từ sau cuộc duy tân Meiji cho nên Sōkyoku (tranh khúc) được giải phóng rộng rãi, ngoài giới người mù ra thì còn có rất nhiều người bình thường khác bước vào thế giới của đàn Koto, cho nên thời kỳ này chứng kiến sự ra đời của rất nhiều nhạc khúc. Nhất là ở vùng Ōsaka, Minh Trị tân khúc cực kỳ thịnh hành. Tuy nhiên, đối với người chơi Koto hiện tại thì các nhạc khúc ra đời trong thời gian này được cho là có ít bài đạt chất lượng thỏa mãn. Nhưng bầu không khí âm nhạc thời kỳ này mang nét mới mẻ, độc đáo. Các tác phẩm sáng tác trong thời kỳ này vẫn thường được biểu diễn trong ngày nay có thể kể đến "Aki no koto no ha" (lời mùa thu) của Nishiyama Tokumo-ichi, "Kaede no hana" (hoa Kaede) của Matsuzaka Shun-ei, "Saga no aki" (mùa thu Saga) của Kikusue Kengyō, "Meiji Shōchikubai" (Minh Trị tùng trúc mai) của Kikuzuka Yo-ichi. Ngoài ra cũng có không ít nhạc khúc bất hũ như "Shiragiku" (cúc trắng) của Terashima Hanano, "Miyako no haru" (mùa xuân kinh kỳ) của phái Yamada-ryū.
Trong thời kỳ Taishō (Đại Chánh) và những năm đầu niên hiệu Shōwa (Chiêu Hòa) thì không thể không nhắc đến tên tuổi Miyagi Michio khi nói đển mảng Sōkyoku (tranh khúc). Ông là nhạc sư phái Ikuta-ryū và là nhân vật trung tâm trong trong việc đưa vào yếu tố âm nhạc Tây phương để hình thành nền âm nhạc mới của Nhật Bản. Ông không chỉ hoạt động trong lãnh vực Koto mà còn nổi trội trong các mặt khác của âm nhạc truyền thống (Hōgaku). Sáng tác tiêu biểu của Miyagi Michio là "Haru no umi" (biển mùa xuân) dành cho đàn Koto và cây sáo Shakuhachi (nói chính xác, loại sáo này dài 1 xích 6 thốn, ngắn hơn Shakuhachi một chút). "Haru no umi" là khúc nhạc viết lại ngữ pháp của âm nhạc truyền thống Nhật Bản (Hōgaku) và khai thác hết tính năng của nhạc cụ, cho đến nay thì nó vẫn là khúc nhạc hàng đầu khi chọn biểu diễn đàn Koto. "Haru no umi" (biển mùa xuân) của Miyagi Michio còn được diễn tấu với đàn Violin hay sáo Tây thay cho Shakuhachi. Về Violin thì có nữ nghệ sĩ Pháp quốc là Renée Chemet từng diễn tấu khúc nhạc này và kể từ đó, tên tuổi Miyagi Michio cũng như cây đàn Koto được Thế giới biết đến rộng rãi. Miyagi Michio không chỉ đi vào mảng sáng tác nhạc khúc và cải tiến nhạc cụ mà còn dốc hết lực vào việc khôi phục các nhạc phẩm cổ điển và các hoạt động đào tạo. Từ trước đó, việc luyện tập và truyền thụ đàn Koto chủ yếu thông qua hình thức truyền miệng, và Miyagi là người có công lớn trong việc phổ cập nhạc phổ vào âm nhạc truyền thống.
Miyagi Michio ảnh hưởng đến toàn thể trào lưu của thế giới Sankyoku (Tam khúc, một thể loại Ji-uta với đàn Koto, Shamisen và hồ cung). Các nhà tác khúc như Nakamura Sōyō, Hisamoto Genchi phái Ikuta-ryū và Naka-no-shima Kin-ichi đều có nhiều sáng tác chịu nhiều ảnh hưởng từ Miyagi Michio để lại cho hậu thế. Ngay cả những người không phải là nhà sáng tác Sōkyoku (tranh khúc) như Machida Kashō (nhà phê bình âm nhạc) cũng chịu ảnh hưởng của Miyagi mà sáng tác nhiều tác phẩm hợp tấu với các nhạc cụ truyền thống.
Thời hiện đại
Ngày nay, đàn Koto và Sōkyoku (tranh khúc) vẫn được truyền thừa qua các lưu phái truyền thống như Ikuta-ryū và Yamada-ryū, ngoài ra còn có sự giao lưu với âm nhạc cổ điển Tây phương. Cụ thế, năm 1964 dấy lên trào lưu sử dụng nhạc cụ Hōgaku (âm nhạc truyền thống) trong giới nhạc sĩ âm nhạc hiện đại. Các nhạc cụ truyền thống, trong đó có đàn Koto được sử dụng rộng rãi trong âm nhạc hiện đại. Dòng nhạc này phát huy đặc điểm, ưu điểm của cách biểu diễn và nhạc cụ truyền thống trong những bản nhạc mang âm luật hiện đại, Âu hóa và nó vẫn được hỗ trợ, tiếp tục đến nay thông qua các tổ chức âm nhạc như "Hōgaku yonin no kai", "Nihon ongaku shūdan" (tên Tây: Pro Musica Nipponia). Các nhóm nhạc trẻ như Rin' cũng thường sử dụng nhạc cụ truyền thống trong các tác phẩm mang âm luật hiện đại của họ.
Các nhạc phẩm đàn Koto chủ yếu trong âm nhạc hiện đại
Tác phẩm cho đàn Koto và dàn nhạc giao hưởng
* Fūchō-kagetsu (phong điểu hoa nguyệt), tác giả Yuasa Jōji, 1967.
* Hō-ō sanren.Ha-no-kyoku (phá khúc phượng hoàng tam liên), Matsu no kyōsōkyoku (hợp tấu khúc Matsu (tùng)),.... tác giả Miki Minoru.
* Sáng tác cho đàn Koto 20 dây và dàn nhạc giao hưởng của Ifukube Akira, 1982.
* In the shadow of the tree của Sofia Gubaidulina, nữ nghệ sĩ Liên Xô, 1999.
* Jūkai (thụ hải - biển cây), khúc hợp tấu cho đàn Koto 20 dây và dàn nhạc giao hưởng của Nishimura Akira, 2002.
* Khúc hợp tấu cho đàn Koto và dàn nhạc giao hưởng của Sakamoto Ryū-ichi, 2010.
Tác phẩm độc tấu Koto
* Sonata độc tấu Koto của Shimofusa Kan-ichi năm 1938. Đây là khúc độc tấu Koto đầu tiên của nhạc sĩ hệ âm nhạc Tây phương.
* Tennyo (thiên như) của Miki Minori năm 1969, đây là khúc độc tấu đầu tiên cho đàn Koto 20 dây.
* Koto uta (bài ca Koto) của Hosokawa Toshio.
* Intermezzi II của Mochizuki Misato.
Các tác phẩm khác
* Ama no megumi (ơn huệ của trời) của Enokido Fuyuki, 2011.
* Kaggra: nhóm nhạc Rock Nhật Bản. Nhóm nhạc này có nhiều tác phẩm biểu diễn với đàn Koto.
Nhạc phẩm "tennyo" (thiên như) sáng tác của Miki Minoru, nghệ sĩ Yoshimura Nanae biểu diễn với đàn Koto 20 dây: nghe tại đây.
Chỉnh sửa cuối: