- 3/5/09
- 268
- 157
Chắc phải còn lâu mới xong quyển 2 nên ngồi dịch chơi một chương trong quyển cuối cùng. Toàn bộ chương này sẽ nói về trận Brenna, một trong những trận chiến quan trọng nhất của lịch sử phương Bắc. Phần 2 có một quest liên quan chút đến trận này. Bác nào đọc xong quay lại chơi xem có đúng không nhé. 

Không xa chiến trường nơi xảy ra trận chiến kinh hoàng mà hầu hết toàn bộ phương bắc chạm trán với gần như toàn bộ sức mạnh của Nilfgaard, có hai ngôi làng chài – Old Butts và Brenna. Tuy nhiên, vì Brenna đã bị thiêu rụi, người ta thường hay gọi nó là “Trận Old Butts.” Mặc dù vậy, đến ngày hôm nay nó lại được biết đến là “Trận Brenna” vì hai lý do – Đầu tiên, Brenna giờ đây đã được khôi phục và là một thị trấn thịnh vượng, trong khi Old Butts đã bị những người sống ở đó bỏ hoang từ lâu và giờ đây đã mọc đầy cỏ dại và tầm ma. Thứ hai, cái tên gốc, trong ngữ cảnh của cuộc xung đột bi thảm và hoành tráng đó, nghe rất kỳ quặc, như thể gần 30 ngàn sinh mạng bất hạnh đã mất trong cuộc chiến đó là chưa đủ, mà còn với cái mông đã cũ của họ nữa.
Vậy nên, trong lịch sử văn chương, quân đội đã gọi nó là “Trận Brenna.” Và đấy là không chỉ trong những văn bản của chúng ta, mà còn cả trong những văn bản của Nilfgaard, những người mà có nhiều nguồn hơn chúng ta trong vấn đề này.
- Tu sĩ Jarre của Ellander, Annales seu Cronicae Incliti Regni Temeriae.
CHƯƠNG VIII
“Học viên Fitz-Osterlen, anh đã sai. Ngồi xuống đi. Tôi muốn các anh chú ý đến sự thiếu hiểu biết của học viên này đối với những sự kiện quan trọng và nổi bật trong lịch sử đất nước của anh ta, mà mỗi người dân yêu nước đều biết đến, nhưng đối với một sĩ quan quân đội tương lai là không thể chấp nhận được. Và thêm một điều nữa, học viên. Trong 20 năm tôi dạy ở trường này, không một học kỳ nào mà bài thi cuối kỳ không có câu hỏi về trận Brenna. Sự dốt nát chắc chắn đã loại trừ hoàn toàn cơ hội được trở thành một sĩ quan của anh, nhưng khi anh đã là một nam tước thì không bắt buộc phải trở thành sĩ quan nữa, vậy nên anh có thể thử tham gia chính trị. Hay ngoại giao. Tôi chúc anh may mắn, học viên Fitz-Ostelern. Còn tất cả chúng ta sẽ quay trở lại trận Brenna, các quý ngài. Học viên Puttkammer!”
“Có mặt!”
“Hãy chỉ lên bản đồ nào, và tiếp tục. Bắt đầu từ chỗ mà ngài nam tước đã không biết.”
“Tuân lệnh! Khi Nguyên soái Menno Coehoorn nghe báo cáo từ mật vụ xác nhận rằng quân đội phương Bắc đang đến hỗ trợ trận vây hãm pháo đài Mayena, ngài đã quyết định tiến quân nhanh về hướng tây. Kế hoạch của ngài là cắt viện trợ của quân địch và dồn chúng vào một trận chiến sinh tử. Vì mục đích này, ngài đã chia nhỏ Quân Chính Quy ra. Một số lực lượng ngài để lại ở Mayena, số còn lại đã nhanh chóng hành quân...”
“Học viên Puttkammer! Anh là nhà viết tiểu thuyết lịch sử giả tưởng hay là một sĩ quan quân đội tương lai? Tên của “số còn lại” đó là gì? Hãy cho tôi biết chính xác tên các lực lượng tiến công của Nguyên soái Coehoorn! Sử dụng các thuật ngữ quân sự!”
“Vâng, thưa ngài. Nguyên soái Coehoorn tại thời điểm đó, có hai đội quân – Quân Đoàn Kỵ Binh Số 4, chỉ huy bởi Thiếu tướng Marcus Braibant, người sáng lập ra học viện của chúng ta...”
“Rất tốt, học viên Puttkammer!”
“Mẹ kiếp,” học viên Fitz-Ostelern rít lên qua kẽ răng.
“...và Quân Đoàn Số 3, chỉ huy bởi Trung tướng Rhetz de Mellis-Stoke. Quân Đoàn Kỵ Binh Số 4, với khoảng 20 ngàn lính, bao gồm các đơn vị sau đây – sư đoàn Venendal, sư đoàn Magne, sư đoàn Frundsberg, lữ đoàn Vicovaro Số 2, lữ đoàn Daerlan Số 7, lữ đoàn Nauzicaa, và lữ đoàn Vrihedd. Quân Đoàn Số 3 bao gồm sư đoàn Alba, sư đoàn Deithwen và....umm. Sư đoàn...”
***
“Sư đoàn Ard Feainn,” Julia Abatemarco nói. “Nếu người của anh không nhầm lẫn gì. Họ thật sự có quân kỳ với hình mặt trời bạc in trên đó?”
“Vâng, thưa đại tá,” người chỉ huy trinh sát nói không lưỡng lự.
“Vậy là, Ard Feainn,” Mèo Con Xinh Xắn trầm ngâm. “Thú vị thật. Điều này có nghĩa là, trong ba cánh quân đang di chuyển mà anh đã thấy, không chỉ có Quân Đoàn Số 4 đến đánh chúng ta, mà còn gần như là toàn bộ Quân Đoàn Số 3 nữa. Ta không thể tin được, ta phải thấy tận mắt. Đại úy, hãy chỉ huy thay ta một lúc. Gửi ngay điện báo đến đại tá Pangratt...”
“Đại tá Abatemarco, có thật sự hợp lý không khi đại tá...”
“Đó là lệnh!”
“Tuân lệnh.”
“Đây là một canh bạc, đại tá,” người chỉ huy trinh sát hét lên qua tiếng vó ngựa rầm rập. “Chúng ta có thể gặp phải một toán trinh sát elves.”
“Đừng nói nữa! Dẫn đường đi!”
Họ phi qua thung lũng, qua một dòng suối, và vào rừng. Họ phải chậm lại vì ngựa vướng những bụi cây, và cũng bởi nguy cơ gặp phải một đội tuần tra của Nilfgaard. Mặc dù người chỉ huy trinh sát tiếp cận từ bên sườn quân địch, chứ không phải từ phía trước, vẫn có khả năng sườn bên được bảo vệ. Hành động của họ là rất liều lĩnh. Nhưng Mèo Con Xinh Xắn nổi danh vì sự vô tư của mình. Và không có người lính nào, trong toàn bộ Quân Đoàn Tự Do, là không sẵn sàng theo cô – thậm chí có phải xuống địa ngục.
“Ở đây,” người chỉ huy trinh sát nói. “Đây là tòa tháp.”
Julia Abatemarco lắc đầu. Tòa tháp vặn vẹo, đổ nát, đầy những cột chống gãy rời và lỗ hổng vá víu trên tường, kêu lên như những chiếc kèn túi khi gió thổi qua. Không ai biết tại sao và bằng cách nào mà tòa tháp lại được xây tại nơi hoang vu thế này. Người ta chỉ biết rằng nó đã được xây từ rất lâu rồi.
“Nó sẽ không sập đấy chứ?”
“Chắc chắn là không, thưa đại tá.”
Trong Quân Đoàn Tự Do, các chỉ huy không dùng từ “ngài” hay “bà”. Chỉ dùng tước hiệu.
Julia nhanh nhẹn trèo lên đỉnh tháp. Người chỉ huy trinh sát bắt kịp cô sau một lúc, thở hồng hộc như một con trâu. Mèo Con Xinh Xắn đứng trên thành lũy, và quan sát đường chân trời qua một cái ống nhòm, lưỡi thè giữa hai hàm răng và ưỡn bụng ra. Trông thấy cảnh đó, người chỉ huy trinh sát cảm thấy một cơn kích động nhẹ. Tuy nhiên, vì sự an toàn của chính mình, anh ta nhanh chóng làm chủ nó.
“Thề trên linh hồn của tôi, Ard Feainn.” Julia Abatemarco liếm môi. “Ta có thể thấy lữ đoàn Daerlan Số 7, người elves của lữ đoàn Vrihedd, những người bạn cũ của chúng ta đến từ Maribor và Mayena...Aha! Có cả hình đầu lâu nữa, lữ đoàn Nauzicaa lừng danh...Ta còn trông thấy ánh sáng lóe lên từ áo giáp của sư đoàn Deithwen...Và quân kỳ trắng với hình đại bàng đen của sư đoàn Alba.”
“Đại tá nhận ra chúng ư,” người chỉ huy lầm bầm, “như những người bạn cũ vậy....Làm sao mà đại tá biết chúng?”
“Ta tốt nghiệp từ một học viện quân sự,” Mèo Con Xinh Xắn nói vô tư, như thể chẳng có gì to tát cả. “Ta là một sĩ quan chuyên nghiệp. Thôi, ta đã thấy những gì muốn thấy rồi. Hãy quay về doanh trại nào.”
***
“Hắn đã đem cả Quân Đoàn Kỵ Binh Số 4 và Số 3 đến đánh chúng ta.” Julia Abatemarco nói. “Tôi lặp lại, toàn bộ Quân Đoàn Kỵ Binh Số 4 và Quân Đoàn Số 3. Phía sau quân tiên phong, tôi thấy bụi bay mù trời. Ước tính có tầm 40 ngàn con ngựa, thậm chí nhiều hơn. Có thể...”
“Có thể Coehoorn đã chia Quân Chính Quy ra,” Adam ‘Adieu’ Pangratt, được chọn làm chỉ huy tối cao của Quân Đoàn Tự Do, nói nốt. “Có thể hắn chỉ đem theo kỵ binh từ Số 4 và ngựa từ Số 3, không có bộ binh, để hành quân nhanh hết mức có thể....Ha, cô biết tôi sẽ làm gì khi phải đối mặt với tổng chỉ huy Natalis của vua Foltest không...”
“Tôi biết,” đôi mắt của Mèo Con Xinh Xắn ánh lên sự thích thú. “Tôi biết anh sẽ làm gì, anh sẽ cử những kẻ chạy nhanh đi.”
“Đương nhiên.”
“Natalis là một con cáo già. Có thể ngày mai...”
“Có thể,” Adieu nói lại. “Tôi đoán ông ta nghĩ giống tôi. Đi với tôi, Julia, tôi muốn cho cô xem cái này.”
Họ chạy lên phía trước đoàn quân. Mặt trời đã gần chạm đỉnh đồi ở phía tây, khu rừng trở nên tối đi và thung lũng được bao phủ bởi một bóng đen trải dài. Tuy nhiên, trời vẫn còn đủ sáng để Mèo Con Xinh Xắn ngay lập tức nhận ra điều mà Pangratt đang muốn chỉ cho mình xem.
“Đây,” Adieu nói, xác nhận suy đoán của cô. “Nếu tôi chỉ huy lực lượng của chúng ta, đây sẽ là nơi mà tôi tổ chức trận chiến cho ngày mai.”
“Địa hình khá tốt,” Julia công nhận, “Cứng cáp, bằng phẳng, chúng ta có thể bố trí lực lượng ở đây...trên vùng đồng bằng đó. Và ngọn đồi kia là một chốt chỉ huy lý tưởng.”
“Cô nói đúng. Hãy nhìn thẳng vào giữa thung lũng, ở đó có một cái hồ. Chúng ta có thể sử dụng nó, cũng như con sông, tuy rằng chúng khá nông, và phía bờ rất lầy lội...Con sông tên là gì nhỉ Julia? Mà chúng ta đã đi qua ngày hôm trước ý. Cô có nhớ không?”
“Tôi quên rồi. Cái Thìa thì phải, tôi đoán vậy. Hay gì đó đại loại thế.”
***
“Những ai đã quen thuộc với địa hình khu vực xung quanh có thể dễ dàng hình dung ra toàn cảnh hơn là những người phải dựa vào bản đồ để tìm ra Brenna. Chính tại nơi này, đội quân hoàng gia đã có mặt. Thực ra thì chẳng có ngôi làng nào cả, bởi vì trong một trận chiến một năm về trước, các biệt đội elves đã chôn vùi nó xuống mặt đất. Tại đó, bên phía cánh trái là quân đội Redania, do Bá tước de Ruyter chỉ huy. Ông có 8 ngàn người, bao gồm bộ binh và kỵ binh.
Trung tâm của đội quân nằm dưới chân ngọn đồi, mà sau này được gọi là Đồi Gallow. Trên đỉnh đồi này là tổng chỉ huy của vua Foltest, John Natalis. Tại vị trí đó ông có một tầm nhìn hoàn hảo bao quát chiến trường. Bên dưới ông là lực lượng chính của quân đội chúng ta – 12 ngàn lính bộ binh Temeria và Redania bố trí thành bốn sư đoàn theo hình vuông, phía sau là 10 lá quân kỳ của kỵ binh nặng. Lực lượng dự bị bao gồm 3 ngàn bộ binh Maribor dưới sự chỉ huy của Tổng trấn Bronibor.
Từ bờ phía nam của cái hồ, mà dân trong vùng gọi là Hồ Vàng, chay vòng qua xuống Cholta, là các đơn vị quân cánh phải của chúng ta – Lực Lượng quân tình nguyện Mahakam bao gồm tám đơn vị kỵ binh nhẹ, và những người lính đánh thuê của Quân Đoàn Tự Do. Cánh phải được chỉ huy bởi Adam Pangratt và người lùn Barclay Els.
Cách xa quân đội hoàng gia gần hai dặm là quân đội của Nilfgaard đang di chuyển dưới sự chỉ huy của Nguyên soái Menno Coehoorn. Những đơn vị giáp trụ của họ đứng lừng lững như một bức tường sắt, các sư đoàn nối tiếp sư đoàn, lữ đoàn nối tiếp lữ đoàn, tiểu đoàn nối tiếp tiểu đoàn, xa ngút tầm mắt. Và qua những rừng cờ và kích có thể thấy đội hình của họ không những rộng, mà còn rất sâu.
Quân đội của Nilfgaard có khoảng 46 ngàn lính tại thời điểm đó, tuy nhiên chỉ có một số ít người biết điều này. Cũng rất may mắn, bởi vì sự quyết tâm của những người lính của chúng ta đã không lung lay trước sức mạnh đồ sộ của Nilfgaard.
Nhưng kể cả những trái tim quả cảm nhất cũng đập nhanh hơn trong lồng ngực, bởi vì rõ ràng là một trận chiến khó khăn và đẫm máu sắp sửa diễn ra. Và nhiều người trong số đang đứng đây có thể sẽ không còn được nhìn thấy mặt trời lặn nữa.”
Jarre chỉnh lại cặp kính đang tuột xuống sống mũi của mình, và đọc lại toàn bộ những gì đã viết, thở dài, xoa xoa cái đầu trọc lốc, và xóa câu cuối cùng đi.
Gió thổi qua những tán cây bồ đề và những con ong kêu vo ve. Những đứa trẻ con, như trẻ con vẫn hay làm, cố gắng thi xem ai hét to hơn ai.
Một quả bóng nảy vào tường và đáp xuống gần chân ông già. Trước khi ông kịp cúi xuống, một đứa cháu trai của ông đã chộp lấy quả bóng và chạy mất. Khi thằng bé đi qua, nó đã đụng phải cái bàn. Jarre, tay phải cứu lấy lọ mực khỏi rơi, tay trái giữ lấy những cuộn giấy.
Những con ong, vàng và dính đầy phấn hoa từ cây bồ đề, vo ve phía trên đầu ông.
Jarre quay trở lại viết tiếp.
“Buổi sáng âm u, nhưng mặt trời chiếu xuyên qua những đám mây để nhắc nhở chúng ta về thời gian đang trôi qua. Gió thổi mạnh hơn, những lá cờ và quân kỳ bay phần phật như một bầy chim chuẩn bị rời tổ. Phía trước chúng ta, quân Nilfgaard không có động tĩnh, và tất cả bắt đầu thắc mắc tại sao Nguyên soái Menno Coehoorn vẫn chưa ra lệnh tấn công...”
***
“Khi nào à?” Menno Coehoorn ngước lên khỏi tấm bản đồ và nhìn vào người chỉ huy. “Ngươi muốn biết khi nào ta ra lệnh tấn công?”
Không ai trả lời. Menno quan sát các sĩ quan của mình. Những kẻ trông có vẻ căng thẳng và lo âu nhất là những người phải ở lại trong quân dự bị. Elen Trahe, chỉ huy lữ đoàn Daerlan Số 7, và Kees van Lo của lữ đoàn Nauzicaa. Ouder de Wyngalt, phụ tá của Nguyên soái Coehoorn, cũng có vẻ rất lo lắng, mặc dù không phải ra chiến trường.
Nhưng những người trực tiếp chỉ huy trận đánh lại cực kỳ bình thản, thậm chí có phần chán chường. Marcus Braibant đang ngáp, Rhetz de Mellis-Stoke đang ngoáy tai bằng ngón tay bé xíu của mình. Đại tá Ramon Tyrconnel, vị chỉ huy trẻ của sư đoàn Ard Feainn, khẽ huýt sáo trong khi mắt lơ đễnh quan sát đường chân trời. Một sĩ quan trẻ có triển vọng khác, Đại tá Liam aep Muir Moss của sư đoàn Deithwen, đang lật qua một trong những tuyển tập thơ yêu thích của anh ta. Chỉ huy của sư đoàn giáo mác Alba, Tobor Eggebracht, đang gãi cằm bằng cán của một cây roi quất ngựa như một người đánh xe.
“Cuộc tấn công sẽ bắt đầu,” Coehoorn nói, “sau khi trinh sát quay lại. Ta cảm thấy lo về ngọn đồi ở hướng bắc. Trước khi chúng ta tấn công, các quý ngài, ta phải biết được có ai hay cái gì đằng sau ngọn đồi đó.”
***
Lamarr Flaut đang rất sợ hãi. Nỗi sợ túm chặt lấy bao tử anh ta, và ruột anh ta như những con lươn nhớp nháp chỉ muốn tìm đường thoát ra bên ngoài. Một giờ trước, đội tuần tra đã nhận được lệnh. Flaut, từ sâu trong tâm trí mình, cứ hy vọng rằng nỗi sợ sẽ bị nhấn chìm trong cái lạnh buổi sáng và thói quen, một nghi lễ mà anh ta đã làm mấy trăm lần. Nhưng anh ta đã nhầm. Giờ đây, sau một tiếng đồng hồ và đã đi 5 dặm đường, vào sâu trong lãnh địa của địch, nỗi sợ vẫn gặm nhấm anh ta.
Đội tuần tra dừng lại trên sườn đồi dưới chân khu rừng thông. Những kỵ sĩ được ngụy trang kín đáo nhờ những bụi bách xù rậm rạp. Phía trước họ là một thung lũng trải dài. Những hạt sương sớm vẫn còn đọng lại trên những ngọn cỏ.
“Không có ai.” Flaut nói. “Không một bóng người. Quay về thôi. Chúng ta đã đi quá xa rồi.”
Người trung sĩ liếc xéo anh ta. Xa? Họ mới chỉ đi được chưa đầy 10 dặm và di chuyển như rùa bò.
“Chúng ta nên,” anh ta nói, “sang phía bên kia ngọn đồi, trung úy. Chúng ta sẽ có tầm nhìn tốt hơn. Đặc biệt là đối với cả hai thung lũng. Từ đó, chúng ta có thể nhìn thấy có ai ở thung lũng bên kia. Ngài nghĩ sao? Chỉ đi thêm vài thước thôi.”
Vài thước, Flaut nghĩ. Trên địa hình trống trải, bằng phẳng như một cái chảo. Những con lươn quằn quại và tìm đường ra khỏi ruột anh ta. Flaut gần như cảm thấy một con đã đi đúng đường.
Mình nghe thấy tiếng leng keng. Một con ngựa đang thở mạnh. Kia, ở giữa những cây thông, trên con dốc phủ cát đó. Có phải có thứ gì đó đang di chuyển không? Một bóng người? Chúng ta đang bị bao vây chăng?
Một lời đồn đại đã lan ra khắp đại bản doanh vào hôm qua, rằng các lính đánh thuê của Quân Đoàn Tự Do đã mai phục một nhóm tuần tra từ lữ đoàn Vrihedd và bắt sống được một người elves. Người ta đồn rằng hắn đã bị thiến, cắt lưỡi, và cắt luôn tất cả các ngón tay...Cuối cùng, chúng móc mắt hắn ra.
Và rồi họ cười đùa, nói rằng giờ đây hắn không thể vui vẻ với lũ điếm người elves của hắn nữa. Và hắn cũng chẳng thể xem người khác vui vẻ được.
“Thế nào, thưa ngài?” người trung sĩ nói bằng giọng khàn khàn. “Chúng ta có tiếp cận ngọn đồi không?”
Lamar Flaut nuốt nước bọt.
“Không,” anh ta nói. “Không nên phí thời gian nữa. Chúng ta không tìm thấy gì cả, không có kẻ địch nào ở đây. Chúng ta phải quay lại và báo cáo với chỉ huy. Đi thôi!”
***
Menno Coehoorn nghe bản báo cáo và ngước nhìn lên khỏi tấm bản đồ.
“Ra trận,” ông ta ra lệnh ngắn gọn. “Ngài Braibant, ngài Mellis-Stoke. Tấn công!”
“Hoàng đế vạn tuế!” Tyrconnel và Eggebracht hô lên. Menno nhìn vào họ với vẻ kỳ lạ.
“Ra trận,” ông ta lặp lại. “Cầu cho Mặt Trời Vĩ Đại sẽ soi sáng vinh quang của các ngươi.”
***
Milo Vanderbeck, một halfling và là một bác sĩ thực địa mà được biết đến nhiều hơn với cái tên Rusty, hít vào mùi iốt, amoniac, cồn, và thần dược đang lởn vởn trong căn lều. Ông muốn tận hưởng bầu không khí này, trong khi nó vẫn còn đang sạch sẽ, thuần khiết, và tiệt trùng. Ông biết nó sẽ không còn được như thế này lâu nữa.
Ông nhìn vào cái bàn phẫu thuật, vẫn trắng như tuyết, và đồ nghề của mình, những dụng cụ tỏa ra sự tôn trọng và tin tưởng với chất thép lạnh lẽo, vô hồn và đe dọa. Hoàn toàn sạch sẽ, ngăn nắp và rất có thẩm mỹ.
Tập trung xung quanh chiếc bàn là dàn phụ tá nhộn nhịp của ông – 3 người phụ nữ. Không, Rusty tự đính chính lại trong đầu. Một người phụ nữ và hai cô gái. Không. Một người phụ nữ trung niên nhưng trông vẫn rất trẻ và xinh đẹp. Và hai đứa trẻ con.
Người nữ pháp sư và trị thương tên là Marti Sodegren.Và hai tình nguyện viên. Shani, một sinh viên đến từ Oxenfurt. Và Iola, một nữ tu đến từ Đền thờ Melitele ở Ellander.
Ta biết Marti Sodegren, Rusty nghĩ, ta đã từng làm việc cùng người đẹp này vài lần rồi. Hơi cuồng dâm một chút, cũng có triệu chứng thần kinh, nhưng chỉ cần cô ta vẫn làm phép được là ổn. Những câu thần chú gây mê, khử trùng và ngăn chảy máu trong.
Iola là một nữ tu, hay nói cách khác là một học viên. Một cô gái với vẻ đẹp giản dị, như một tấm vải lanh, và đôi bàn tay to, khỏe của nông dân. Ngôi đền đã ngăn bàn tay cô bé khỏi lấm bẩn đất phù sa. Nhưng cô vẫn không thể che dấu được xuất thân của mình. Không, Rusty nghĩ, về nguyên tắc, ta không có gì phải sợ cô bé cả. Đó là đôi bàn tay của người nông dân, đôi bàn tay có thể tin tưởng được. Thêm nữa, những cô gái đến từ đền thờ hiếm khi thất vọng, và trong những lúc căng thẳng không gục ngã, mà dựa vào tôn giáo của họ, vào niềm tin thần thánh của họ. Rất thú vị là nó lại có ích.
Ông nhìn vào Shani tóc đỏ, đang khéo léo xâu chỉ cho kim khâu vết thương.
Shani, một đứa trẻ xuất thân từ một nơi tồi tàn nhưng được nhận vào học tại trường nhờ niềm đam mê, khao khát trí thức vô tận và sự hy sinh không kể xiết của những bậc cha mẹ nghèo khó. Một sinh viên. Cô bé có thể làm gì đây? Xâu chỉ? Quấn băng?Giữ cặp? Câu hỏi ở đây phải là liệu cô bé tóc đỏ có ngất xỉu, đánh rơi cặp và ngã chúi mũi vào ổ bụng đang mổ của bệnh nhân hay không?
Con người không được cứng cáp cho lắm, ông nghĩ. Ta đã bảo họ hãy đem cho ta một elf. Hoặc ai đó cùng giống loài với ta. Nhưng họ không làm. Họ không tin chúng ta. Hay chỉ riêng ta cũng vậy. Ta là một halfling. Không phải con người. Một kẻ xa lạ.
“Shani!”
“Vâng, thưa ông Vanderbeck?”
“Rusty. Đối với cô thì là “ông Rusty”. Cái này là cái gì hả Shani? Nó dùng để làm gì?”
“Có phải ông đang kiểm tra tôi không, thưa ông Rusty?”
“Trả lời đi, cô gái!”
“Đây là một cái nạo. Dùng để vét vỏ xương trong lúc cưa chi! Để vỏ xương không bị vỡ dưới lưỡi cưa, ta phải cưa gọn ghẽ! Ông đã hài lòng chưa? Tôi đã được ông chấp thuận chưa?”
“Trật tự, cô gái.”
Ông luồn các ngón tay qua mái tóc.
Thú vị thật, ông nghĩ. Có 4 bác sĩ ở đây. Và tất cả đều có tóc đỏ! Là định mệnh hay gì đây?
“Làm ơn hãy ra đứng trước lều”. Ông ra hiệu với các phụ tá của mình.
Họ vâng lời. Nhưng mỗi người đều lầm bầm cái gì đó khác nhau.
Phía trước lều là một nhóm quân y đang ngồi, tận hưởng những giây phút thư thái cuối cùng. Rusty nhìn nghiêm khắc và ngửi xem họ có say rượu không.
Người thợ rèn, một thanh niên cơ bắp, đang ngồi xếp lại những dụng cụ để trên ghế dùng để gỡ người bị thương ra khỏi những chiếc áo giáp hay mũ trụ bị giập nát và cong queo.
“Ở đó,” Rusty bắt đầu nói mà không chào hỏi, chỉ về phía chiến trường, “sắp sửa diễn ra một trận tắm máu. Và chỉ giây lát nữa thôi, chúng ta sẽ tiếp nhận người bị thương đầu tiên. Tất cả đã biết phải làm gì, vị trí của mình, và trách nhiệm của mình như thế nào rồi. Nếu cứ thực hiện đúng theo như vậy thì sẽ không có vấn đề gì cả. Đã rõ chưa?”
Các cô gái nghe lời ông mà không bình luận gì.
“Ở đó”, Rusty lại chỉ về hướng như lúc trước, “sắp sửa có hàng trăm ngàn con người cố gắng giết nhau. Bằng nhiều cách tinh vi khác nhau. Ở đây, và hai bệnh viện nữa, có tổng cộng 12 bác sĩ. Chúng ta không thể nào cứu được hết tất cả mọi người. Thậm chí không thể cứu được một phần nhỏ trong số đó. Và nói để tất cả biết sự thật, không ai trông đợi điều đó từ chúng ta cả. Nhưng chúng ta vẫn sẽ cứu họ. Bởi vì đó, xin lỗi có hơi sến một chút, chính là lý do mà chúng ta tồn tại. Đối với những người cần chúng ta.”
Các thính giả của ông tiếp tục im lặng. Rusty nhún vai.
“Chúng ta không thể làm nhiều hơn những gì có thể,” ông nói, chậm rãi hơn và nồng ấm hơn. “Nhưng chúng ta sẽ làm hết tất cả những gì có thể, và không ít hơn.”
***
“Chúng đang tấn công,” Tổng chỉ huy Natalis nói trong khi chùi mồ hôi túa ra từ lòng bàn tay lên quần. “Quân Nilfgaard đang tấn công, thưa ngài, chúng đang đến chỗ chúng ta!”
Vua Foltest kiểm soát con ngựa đang nhảy múa của mình, một con bạch mã với hình hoa súng trang trí trên yên, và quay gương mặt quý phái, xứng đáng với hình khắc trên những đồng xu, về phía tổng chỉ huy.
“Chúng ta phải chuẩn bị tiếp đón chu đáo, ngài tổng chỉ huy! Các sĩ quan!”
“Cái chết cho bọn Áo Đen!” Adam “Adieu” Pangratt và Bá tước de Ruyter hô lên. Ngài tổng chỉ huy ngồi thẳng dậy trên yên ngựa và hít vào một hơi thật sâu.
“Ra trận!”
Tiếng trống và kèn trận vang lên. Mặt đất rung chuyển bên dưới hàng trăm ngàn vó ngựa.
***
“Giờ thì,” halfling Andy Biberveldt nói, vén những lọn tóc của mình ra khỏi tai, “trận chiến đã bắt đầu...”
Tara Hildebrandt, Didi Hofmeier, và những người còn lại đang vây xung quanh chiếc xe gật đầu. Họ có thể nghe thấy tiếng vó ngựa thình thịch từ phía sau ngọn đồi và khu rừng. Họ có thể cảm nhận thấy mặt đất đang rung chuyển.
Và rồi, từ đằng xa sau cánh rừng, bắt đầu xuất hiện những tiếng kêu la. Và âm lượng ngày càng lớn dần lên.
“Loạt tên đầu tiên từ các cung thủ,” Andy, người mà đã từng nhìn thấy – hay đúng hơn là nghe kể về - nhiều trận chiến, nói một cách chuyên nghiệp. “Rồi sẽ có một đợt nữa.”
Anh ta đã đúng.
“Và giờ, họ sẽ đâm vào nhau.”
“Có....có thể....chúng ta....có thể trốn....dưới gầm xe.” William Hardbottom đề nghị, lắp bắp và rên rỉ.
Biberveldt và những người khác nhìn gã halfling với ánh mắt thương hại.
“Dưới gầm xe? Để làm gì? Chúng ta cách xa trận chiến đến gần một phần tư dặm. Và kể cả nếu có một toán tuần tra đến đây, trốn dưới gầm xe cũng chẳng thể cứu mạng chúng ta được.”
Âm thanh từ trận đánh ngày càng tăng dần.
“Ngay bây giờ,” Andy Biberveldt dự đoán và lại chính xác. Từ cách xa gần một phần tư dặm qua cánh rừng vọng lại tiếng quân đội hoàng gia va chạm với sắt thép và một âm thanh làm dựng tóc gáy.
Những tiếng rên rỉ tuyệt vọng , khủng khiếp và hoang dại của những con thú đang bị cắt xén.
“Kỵ binh...” Biberveldt liếm môi. “Kỵ binh bị xiên trên giáo...”
***
Nhà chép sử già nua dùng miếng tẩy và xóa câu tiếp theo, không hài lòng với những gì mà mình viết. Ông nhắm mắt, cố nhớ lại ngày hôm đó. Khoảnh khắc mà hai đoàn quân va vào nhau. Khi hai đội quân, dữ tợn như những con chó ngao, nhảy vào họng nhau, khóa chặt trong một cái ôm chết chóc.
Jarre cố tìm từ để diễn tả điều đó.
Trong vô vọng.
***
Một chiếc dùi đã đục vào bên sườn của bộ binh Temeria. Một cây cọc sống khổng lồ của sư đoàn Alba, nghiền nát mọi thứ bảo vệ thân thể những người lính bộ binh – giáo, chĩa, khiên, và kích.
Sư đoàn Alba đâm như một con dao vào một cơ thể sống và làm nó chảy máu. Những con ngựa trượt ngã trên nền đất trơn tuột. Nhưng mặc dù đầu mũi dao đâm vào rất sâu, nó vẫn chưa làm bị thương trái tim hay bất cứ cơ quan nội tạng quan trọng nào cả. Chiếc dùi của sư đoàn Alba, thay vì nghiền nát và chặt đứt bộ binh Temeria, lại đâm vào và bị kẹt trong đó. Họ kẹt giữa hàng ngàn bộ binh dày đặc.
Ban đầu, trông không có vẻ đe dọa lắm. Đầu và hai cánh của chiếc dùi được tạo nên từ các đơn vị quân tinh nhuệ mang giáp nặng. Những đòn tấn công bật ra khỏi áo giáp và khiên của họ như những chiếc búa thợ rèn bật ra khỏi đe. Họ cũng đã trang bị rất chắc chắn cho thú cưỡi. Và tuy rằng thỉnh thoảng lại có một người ngã xuống cùng với con ngựa của mình, những đường kiếm và lưỡi rìu của họ vẫn rơi giữa hàng bộ binh như một vụ gặt đẫm máu. Bị bao vây tứ phía, sư đoàn bắt đầu tiến vào sâu hơn.
“Albaaa!” Thiếu úy Devlin aep Meara nghe thấy tiếng hô xung trận của của đại tá Eggebracht, vang lên phía trên những tiếng va chạm của vũ khí, tiếng người hét và tiếng ngựa hý. “Tiến lên, Alba! Vì hoàng đế!”
Họ tiến về phía trước, chặt, đâm và chém. Bên dưới những vó ngựa miễn cưỡng có thể nghe thấy máu chảy, giáp trụ vỡ nát và người rên rỉ.
“Albaaa!”
Chiếc dùi lại kẹt lần nữa. Lực lượng bộ binh, tuy bị nghiền nát và chảy máu, vẫn không chịu nhường bước và bao vây lấy kỵ binh. Mặt đất rung chuyển. Bên dưới những mũi kích và lưỡi búa, lớp đầu tiên của chiếc dùi đã tan rã. Bị đâm bởi giáo, đập bởi chùy, bị kéo khỏi ngựa bằng móc câu, các hiệp sĩ của sư đoàn Alba bắt đầu chết.
Con dao kẹt trong bộ binh Temeria giờ đây không còn như mũi sắt trong cơ thể sống nữa, mà giống như một chỏm băng trong bàn tay của người nông dân.
“Temeriaaa! Vì đức vua! Giết bọn Áo Đen!”
Không dễ dàng chút nào cho bộ binh. Sư đoàn Alba đã không tan tác ra. Kiếm và rìu giơ lên rồi hạ xuống, và cho mỗi một kỵ sĩ ngã xuống, những người lính bộ binh can trường phải trả một cái giá bằng máu.
Một đầu mũi giáo đã tìm được đường vào khe hở trên áo giáp của Eggebracht và đâm vô đó. Người đại tá kêu lên và lắc lư trên yên ngựa. Và trước khi lính của ông kịp giúp, trận chiến đã kéo ông xuống dưới mặt đất và bộ binh tràn qua người ông.
Lá quân kỳ đại bàng đen lung lay và đổ xuống. Các kỵ binh hạng nặng, trong số đó có thiếu úy Delvin aep Meara, tăng tốc về phía đó, chặt, chém, giẫm đạp và la hét.
Ta tự hỏi, Delvin aep Meara nghĩ, trong khi rút thanh kiếm ra khỏi hộp sọ vỡ nát của một người lính Temeria. Ta tự hỏi, anh nghĩ, trong khi chặn lại một cú đánh nhằm vào mình, mục đích của tất cả những việc này là gì? Và ai phải chịu trách nhiệm?
***
“Ờ...và sau đó, các Pháp Sư Vĩ Đại đã họp tại...Đức mẹ đáng kính của chúng ta...ờ...mà sẽ sống mãi trong ký ức của chúng ta...bởi vì...à....những nhà vô địch vĩ đại của Hội đầu tiên...đã bàn bạc...và quyết định...”
“Em đã không chuẩn bị bài, học viên Abonde. Em đã trượt rồi. Ngồi xuống đi.”
“Nhưng em có học mà. Thật đó...”
“Ngồi xuống.”
“Tại sao họ lại phải dạy mấy thứ vớ vẩn cũ kỹ này chứ,” Abonde lầm bầm trong lúc ngồi xuống. “Thời buổi bây giờ ai mà quan tâm đến nó...Và có được cái tích sự gì đâu...”
“Trật tự đi! Học viên Nimue!”
“Có mặt, thưa cô.”
“Em có thể trả lời được câu hỏi không? Nếu không thì ngồi thẳng lên và đừng làm tốn thời gian của tôi.”
“Em có.”
“Vậy thì tôi nghe đây.”
“Vậy là như đã ghi trong biên niên sử, rằng cuộc họp của các pháp sư đã diễn ra ở Lâu Đài Núi Trọc và họ đã nhất trí là sẽ chấm dứt cuộc chiến tranh hủy diệt giữa Hoàng đế và các Vua phương Bắc. Đức Mẹ Assire, đức thánh nữ, đã quyết định rằng các nhà cai trị sẽ không dừng tranh chấp lại cho đến khi kiệt sức hoàn toàn. Trong khi đó, Đức Mẹ Philippa, đức thánh nữ, đã quyết định: “Hãy cho họ một trận chiến kinh hoàng, tàn ác và đẫm máu ngoài sức tưởng tượng. Một trận chiến chưa từng có. Và quân đội hoàng gia cùng các binh lính của những vị vua sẽ tắm trong máu của trận chiến đó, và rồi chúng ta, Hội Pháp Sư Vĩ Đại, sẽ bắt họ phải làm hòa.” Và đó chính xác là những gì đã diễn ra. Các Đức Mẹ đã tạo ra Trận Brenna. Và rồi các nhà cai trị đã buộc phải ký kết hiệp ước ở Cintra.”
“Tốt lắm, học viên Nimue. Tôi lẽ ra đã cho em một điểm A...nếu không vì từ “vậy là” ở đầu câu nói. Đừng có bắt đầu một câu bằng từ “vậy là”. Ngồi xuống đi. Và giờ, chúng ta sẽ nói đến Hiệp ước Cintra...”
Chuông reo báo giờ ra chơi. Nhưng các học viên không vội đứng lên và bỏ chạy. Họ giữ bình tĩnh và phẩm hạnh của mình, một vẻ bình thản đặc trưng.
Họ không phải những cô nhóc năm nhất nữa. Họ đã là năm thứ ba rồi. Họ đã gần 14 tuổi rồi. Và đó là điều quan trọng.
***
“Đây là giải pháp duy nhất,” Rusty đánh giá tình hình vết thương của bệnh nhân đầu tiên, người đang nằm chảy hết máu ra cái bàn phẫu thuật sạch sẽ. “Xương đùi đã gãy. Động mạch vẫn chưa bị cắt, nếu không thì người ta đã mang một cái xác vào đây rồi. Trông có vẻ như là một vết rìu chặt. Chiếc yên ngựa đã đóng vai trò như một cái thớt. Các cô có thể thấy ở đây...”
Iola và Shani cúi xuống người lính bị thương, Rusty xoa hai lòng bàn tay vào với nhau.
“Như tôi đã nói, chẳng có gì để chữa ở đây cả. Chúng ta phải cắt bỏ nó thôi. Làm việc nào. Iola, lấy nẹp ra. Kẹp chặt vào nữa đi. Shani, dao mổ. Không phải cái đó. Cái to hơn dùng để cưa ý.”
Người đàn ông bị thương tiếp tục bắn về phía bàn tay họ những ánh mắt khiếp đảm, theo dõi họ qua đôi mắt của một con thú bị bẫy trong chuồng.
“Một chút ma thuật nào, Marti.” Người halfling cúi gần xuống bệnh nhân để thu hẹp tối đa tầm nhìn lại.
“Tôi sẽ phải cưa nó thôi, con trai.”
“Khôôôông!” người đàn ông bị thương nói, lắc đầu quầy quậy, có gắng thoát ra khỏi đôi tay của Marti Sodergren. “Tôi không muốn!”
“Tôi phải cưa nó đi không anh sẽ chết!”
“Tôi thà chết...” Cử động của người đàn ông chậm dần đi dưới tác dụng của ma thuật. “Tôi thà chết còn hơn bị cắt xén...hãy để tôi chết....tôi xin ông...hãy để tôi chết!”
“Tôi không thể,” Rusty nhấc cao con dao lên và nhìn vào lưỡi thép nguyên chất sáng loáng. “Tôi không thể để anh chết. Tôi là một bác sĩ.”
Ông ấn mạnh con dao vào trong da và cắt sâu xuống. Người đàn ông tru lên. Âm thanh man rợ nghe không giống người.
***
Người liên lạc viên dừng con ngựa lại đột ngột đến nỗi có tia lửa tóe ra bên dưới móng của nó. Hai người phụ tá giữ dây cương và trấn an con vật. Người liên lạc viên quỳ xuống đất.
“Ngươi là ai?” John Natalis hỏi. “Ai đã cử ngươi đến?”
“Lãnh chúa de Ruyter...” người liên lạc viên thở khò khè. “Chúng tôi đã chặn được bọn Áo Đen, nhưng tổn thất quá lớn. Lãnh chúa de Ruyter đang yêu cầu cứu viện.”
“Không,” Tổng chỉ huy trả lời sau một phút im lặng. “Các ngươi phải cố giữ thôi. Các ngươi bắt buộc phải cố giữ!”
Vậy nên, trong lịch sử văn chương, quân đội đã gọi nó là “Trận Brenna.” Và đấy là không chỉ trong những văn bản của chúng ta, mà còn cả trong những văn bản của Nilfgaard, những người mà có nhiều nguồn hơn chúng ta trong vấn đề này.
- Tu sĩ Jarre của Ellander, Annales seu Cronicae Incliti Regni Temeriae.
CHƯƠNG VIII
“Học viên Fitz-Osterlen, anh đã sai. Ngồi xuống đi. Tôi muốn các anh chú ý đến sự thiếu hiểu biết của học viên này đối với những sự kiện quan trọng và nổi bật trong lịch sử đất nước của anh ta, mà mỗi người dân yêu nước đều biết đến, nhưng đối với một sĩ quan quân đội tương lai là không thể chấp nhận được. Và thêm một điều nữa, học viên. Trong 20 năm tôi dạy ở trường này, không một học kỳ nào mà bài thi cuối kỳ không có câu hỏi về trận Brenna. Sự dốt nát chắc chắn đã loại trừ hoàn toàn cơ hội được trở thành một sĩ quan của anh, nhưng khi anh đã là một nam tước thì không bắt buộc phải trở thành sĩ quan nữa, vậy nên anh có thể thử tham gia chính trị. Hay ngoại giao. Tôi chúc anh may mắn, học viên Fitz-Ostelern. Còn tất cả chúng ta sẽ quay trở lại trận Brenna, các quý ngài. Học viên Puttkammer!”
“Có mặt!”
“Hãy chỉ lên bản đồ nào, và tiếp tục. Bắt đầu từ chỗ mà ngài nam tước đã không biết.”
“Tuân lệnh! Khi Nguyên soái Menno Coehoorn nghe báo cáo từ mật vụ xác nhận rằng quân đội phương Bắc đang đến hỗ trợ trận vây hãm pháo đài Mayena, ngài đã quyết định tiến quân nhanh về hướng tây. Kế hoạch của ngài là cắt viện trợ của quân địch và dồn chúng vào một trận chiến sinh tử. Vì mục đích này, ngài đã chia nhỏ Quân Chính Quy ra. Một số lực lượng ngài để lại ở Mayena, số còn lại đã nhanh chóng hành quân...”
“Học viên Puttkammer! Anh là nhà viết tiểu thuyết lịch sử giả tưởng hay là một sĩ quan quân đội tương lai? Tên của “số còn lại” đó là gì? Hãy cho tôi biết chính xác tên các lực lượng tiến công của Nguyên soái Coehoorn! Sử dụng các thuật ngữ quân sự!”
“Vâng, thưa ngài. Nguyên soái Coehoorn tại thời điểm đó, có hai đội quân – Quân Đoàn Kỵ Binh Số 4, chỉ huy bởi Thiếu tướng Marcus Braibant, người sáng lập ra học viện của chúng ta...”
“Rất tốt, học viên Puttkammer!”
“Mẹ kiếp,” học viên Fitz-Ostelern rít lên qua kẽ răng.
“...và Quân Đoàn Số 3, chỉ huy bởi Trung tướng Rhetz de Mellis-Stoke. Quân Đoàn Kỵ Binh Số 4, với khoảng 20 ngàn lính, bao gồm các đơn vị sau đây – sư đoàn Venendal, sư đoàn Magne, sư đoàn Frundsberg, lữ đoàn Vicovaro Số 2, lữ đoàn Daerlan Số 7, lữ đoàn Nauzicaa, và lữ đoàn Vrihedd. Quân Đoàn Số 3 bao gồm sư đoàn Alba, sư đoàn Deithwen và....umm. Sư đoàn...”
***
“Sư đoàn Ard Feainn,” Julia Abatemarco nói. “Nếu người của anh không nhầm lẫn gì. Họ thật sự có quân kỳ với hình mặt trời bạc in trên đó?”
“Vâng, thưa đại tá,” người chỉ huy trinh sát nói không lưỡng lự.
“Vậy là, Ard Feainn,” Mèo Con Xinh Xắn trầm ngâm. “Thú vị thật. Điều này có nghĩa là, trong ba cánh quân đang di chuyển mà anh đã thấy, không chỉ có Quân Đoàn Số 4 đến đánh chúng ta, mà còn gần như là toàn bộ Quân Đoàn Số 3 nữa. Ta không thể tin được, ta phải thấy tận mắt. Đại úy, hãy chỉ huy thay ta một lúc. Gửi ngay điện báo đến đại tá Pangratt...”
“Đại tá Abatemarco, có thật sự hợp lý không khi đại tá...”
“Đó là lệnh!”
“Tuân lệnh.”
“Đây là một canh bạc, đại tá,” người chỉ huy trinh sát hét lên qua tiếng vó ngựa rầm rập. “Chúng ta có thể gặp phải một toán trinh sát elves.”
“Đừng nói nữa! Dẫn đường đi!”
Họ phi qua thung lũng, qua một dòng suối, và vào rừng. Họ phải chậm lại vì ngựa vướng những bụi cây, và cũng bởi nguy cơ gặp phải một đội tuần tra của Nilfgaard. Mặc dù người chỉ huy trinh sát tiếp cận từ bên sườn quân địch, chứ không phải từ phía trước, vẫn có khả năng sườn bên được bảo vệ. Hành động của họ là rất liều lĩnh. Nhưng Mèo Con Xinh Xắn nổi danh vì sự vô tư của mình. Và không có người lính nào, trong toàn bộ Quân Đoàn Tự Do, là không sẵn sàng theo cô – thậm chí có phải xuống địa ngục.
“Ở đây,” người chỉ huy trinh sát nói. “Đây là tòa tháp.”
Julia Abatemarco lắc đầu. Tòa tháp vặn vẹo, đổ nát, đầy những cột chống gãy rời và lỗ hổng vá víu trên tường, kêu lên như những chiếc kèn túi khi gió thổi qua. Không ai biết tại sao và bằng cách nào mà tòa tháp lại được xây tại nơi hoang vu thế này. Người ta chỉ biết rằng nó đã được xây từ rất lâu rồi.
“Nó sẽ không sập đấy chứ?”
“Chắc chắn là không, thưa đại tá.”
Trong Quân Đoàn Tự Do, các chỉ huy không dùng từ “ngài” hay “bà”. Chỉ dùng tước hiệu.
Julia nhanh nhẹn trèo lên đỉnh tháp. Người chỉ huy trinh sát bắt kịp cô sau một lúc, thở hồng hộc như một con trâu. Mèo Con Xinh Xắn đứng trên thành lũy, và quan sát đường chân trời qua một cái ống nhòm, lưỡi thè giữa hai hàm răng và ưỡn bụng ra. Trông thấy cảnh đó, người chỉ huy trinh sát cảm thấy một cơn kích động nhẹ. Tuy nhiên, vì sự an toàn của chính mình, anh ta nhanh chóng làm chủ nó.
“Thề trên linh hồn của tôi, Ard Feainn.” Julia Abatemarco liếm môi. “Ta có thể thấy lữ đoàn Daerlan Số 7, người elves của lữ đoàn Vrihedd, những người bạn cũ của chúng ta đến từ Maribor và Mayena...Aha! Có cả hình đầu lâu nữa, lữ đoàn Nauzicaa lừng danh...Ta còn trông thấy ánh sáng lóe lên từ áo giáp của sư đoàn Deithwen...Và quân kỳ trắng với hình đại bàng đen của sư đoàn Alba.”
“Đại tá nhận ra chúng ư,” người chỉ huy lầm bầm, “như những người bạn cũ vậy....Làm sao mà đại tá biết chúng?”
“Ta tốt nghiệp từ một học viện quân sự,” Mèo Con Xinh Xắn nói vô tư, như thể chẳng có gì to tát cả. “Ta là một sĩ quan chuyên nghiệp. Thôi, ta đã thấy những gì muốn thấy rồi. Hãy quay về doanh trại nào.”
***
“Hắn đã đem cả Quân Đoàn Kỵ Binh Số 4 và Số 3 đến đánh chúng ta.” Julia Abatemarco nói. “Tôi lặp lại, toàn bộ Quân Đoàn Kỵ Binh Số 4 và Quân Đoàn Số 3. Phía sau quân tiên phong, tôi thấy bụi bay mù trời. Ước tính có tầm 40 ngàn con ngựa, thậm chí nhiều hơn. Có thể...”
“Có thể Coehoorn đã chia Quân Chính Quy ra,” Adam ‘Adieu’ Pangratt, được chọn làm chỉ huy tối cao của Quân Đoàn Tự Do, nói nốt. “Có thể hắn chỉ đem theo kỵ binh từ Số 4 và ngựa từ Số 3, không có bộ binh, để hành quân nhanh hết mức có thể....Ha, cô biết tôi sẽ làm gì khi phải đối mặt với tổng chỉ huy Natalis của vua Foltest không...”
“Tôi biết,” đôi mắt của Mèo Con Xinh Xắn ánh lên sự thích thú. “Tôi biết anh sẽ làm gì, anh sẽ cử những kẻ chạy nhanh đi.”
“Đương nhiên.”
“Natalis là một con cáo già. Có thể ngày mai...”
“Có thể,” Adieu nói lại. “Tôi đoán ông ta nghĩ giống tôi. Đi với tôi, Julia, tôi muốn cho cô xem cái này.”
Họ chạy lên phía trước đoàn quân. Mặt trời đã gần chạm đỉnh đồi ở phía tây, khu rừng trở nên tối đi và thung lũng được bao phủ bởi một bóng đen trải dài. Tuy nhiên, trời vẫn còn đủ sáng để Mèo Con Xinh Xắn ngay lập tức nhận ra điều mà Pangratt đang muốn chỉ cho mình xem.
“Đây,” Adieu nói, xác nhận suy đoán của cô. “Nếu tôi chỉ huy lực lượng của chúng ta, đây sẽ là nơi mà tôi tổ chức trận chiến cho ngày mai.”
“Địa hình khá tốt,” Julia công nhận, “Cứng cáp, bằng phẳng, chúng ta có thể bố trí lực lượng ở đây...trên vùng đồng bằng đó. Và ngọn đồi kia là một chốt chỉ huy lý tưởng.”
“Cô nói đúng. Hãy nhìn thẳng vào giữa thung lũng, ở đó có một cái hồ. Chúng ta có thể sử dụng nó, cũng như con sông, tuy rằng chúng khá nông, và phía bờ rất lầy lội...Con sông tên là gì nhỉ Julia? Mà chúng ta đã đi qua ngày hôm trước ý. Cô có nhớ không?”
“Tôi quên rồi. Cái Thìa thì phải, tôi đoán vậy. Hay gì đó đại loại thế.”
***
“Những ai đã quen thuộc với địa hình khu vực xung quanh có thể dễ dàng hình dung ra toàn cảnh hơn là những người phải dựa vào bản đồ để tìm ra Brenna. Chính tại nơi này, đội quân hoàng gia đã có mặt. Thực ra thì chẳng có ngôi làng nào cả, bởi vì trong một trận chiến một năm về trước, các biệt đội elves đã chôn vùi nó xuống mặt đất. Tại đó, bên phía cánh trái là quân đội Redania, do Bá tước de Ruyter chỉ huy. Ông có 8 ngàn người, bao gồm bộ binh và kỵ binh.
Trung tâm của đội quân nằm dưới chân ngọn đồi, mà sau này được gọi là Đồi Gallow. Trên đỉnh đồi này là tổng chỉ huy của vua Foltest, John Natalis. Tại vị trí đó ông có một tầm nhìn hoàn hảo bao quát chiến trường. Bên dưới ông là lực lượng chính của quân đội chúng ta – 12 ngàn lính bộ binh Temeria và Redania bố trí thành bốn sư đoàn theo hình vuông, phía sau là 10 lá quân kỳ của kỵ binh nặng. Lực lượng dự bị bao gồm 3 ngàn bộ binh Maribor dưới sự chỉ huy của Tổng trấn Bronibor.
Từ bờ phía nam của cái hồ, mà dân trong vùng gọi là Hồ Vàng, chay vòng qua xuống Cholta, là các đơn vị quân cánh phải của chúng ta – Lực Lượng quân tình nguyện Mahakam bao gồm tám đơn vị kỵ binh nhẹ, và những người lính đánh thuê của Quân Đoàn Tự Do. Cánh phải được chỉ huy bởi Adam Pangratt và người lùn Barclay Els.
Cách xa quân đội hoàng gia gần hai dặm là quân đội của Nilfgaard đang di chuyển dưới sự chỉ huy của Nguyên soái Menno Coehoorn. Những đơn vị giáp trụ của họ đứng lừng lững như một bức tường sắt, các sư đoàn nối tiếp sư đoàn, lữ đoàn nối tiếp lữ đoàn, tiểu đoàn nối tiếp tiểu đoàn, xa ngút tầm mắt. Và qua những rừng cờ và kích có thể thấy đội hình của họ không những rộng, mà còn rất sâu.
Quân đội của Nilfgaard có khoảng 46 ngàn lính tại thời điểm đó, tuy nhiên chỉ có một số ít người biết điều này. Cũng rất may mắn, bởi vì sự quyết tâm của những người lính của chúng ta đã không lung lay trước sức mạnh đồ sộ của Nilfgaard.
Nhưng kể cả những trái tim quả cảm nhất cũng đập nhanh hơn trong lồng ngực, bởi vì rõ ràng là một trận chiến khó khăn và đẫm máu sắp sửa diễn ra. Và nhiều người trong số đang đứng đây có thể sẽ không còn được nhìn thấy mặt trời lặn nữa.”
Jarre chỉnh lại cặp kính đang tuột xuống sống mũi của mình, và đọc lại toàn bộ những gì đã viết, thở dài, xoa xoa cái đầu trọc lốc, và xóa câu cuối cùng đi.
Gió thổi qua những tán cây bồ đề và những con ong kêu vo ve. Những đứa trẻ con, như trẻ con vẫn hay làm, cố gắng thi xem ai hét to hơn ai.
Một quả bóng nảy vào tường và đáp xuống gần chân ông già. Trước khi ông kịp cúi xuống, một đứa cháu trai của ông đã chộp lấy quả bóng và chạy mất. Khi thằng bé đi qua, nó đã đụng phải cái bàn. Jarre, tay phải cứu lấy lọ mực khỏi rơi, tay trái giữ lấy những cuộn giấy.
Những con ong, vàng và dính đầy phấn hoa từ cây bồ đề, vo ve phía trên đầu ông.
Jarre quay trở lại viết tiếp.
“Buổi sáng âm u, nhưng mặt trời chiếu xuyên qua những đám mây để nhắc nhở chúng ta về thời gian đang trôi qua. Gió thổi mạnh hơn, những lá cờ và quân kỳ bay phần phật như một bầy chim chuẩn bị rời tổ. Phía trước chúng ta, quân Nilfgaard không có động tĩnh, và tất cả bắt đầu thắc mắc tại sao Nguyên soái Menno Coehoorn vẫn chưa ra lệnh tấn công...”
***
“Khi nào à?” Menno Coehoorn ngước lên khỏi tấm bản đồ và nhìn vào người chỉ huy. “Ngươi muốn biết khi nào ta ra lệnh tấn công?”
Không ai trả lời. Menno quan sát các sĩ quan của mình. Những kẻ trông có vẻ căng thẳng và lo âu nhất là những người phải ở lại trong quân dự bị. Elen Trahe, chỉ huy lữ đoàn Daerlan Số 7, và Kees van Lo của lữ đoàn Nauzicaa. Ouder de Wyngalt, phụ tá của Nguyên soái Coehoorn, cũng có vẻ rất lo lắng, mặc dù không phải ra chiến trường.
Nhưng những người trực tiếp chỉ huy trận đánh lại cực kỳ bình thản, thậm chí có phần chán chường. Marcus Braibant đang ngáp, Rhetz de Mellis-Stoke đang ngoáy tai bằng ngón tay bé xíu của mình. Đại tá Ramon Tyrconnel, vị chỉ huy trẻ của sư đoàn Ard Feainn, khẽ huýt sáo trong khi mắt lơ đễnh quan sát đường chân trời. Một sĩ quan trẻ có triển vọng khác, Đại tá Liam aep Muir Moss của sư đoàn Deithwen, đang lật qua một trong những tuyển tập thơ yêu thích của anh ta. Chỉ huy của sư đoàn giáo mác Alba, Tobor Eggebracht, đang gãi cằm bằng cán của một cây roi quất ngựa như một người đánh xe.
“Cuộc tấn công sẽ bắt đầu,” Coehoorn nói, “sau khi trinh sát quay lại. Ta cảm thấy lo về ngọn đồi ở hướng bắc. Trước khi chúng ta tấn công, các quý ngài, ta phải biết được có ai hay cái gì đằng sau ngọn đồi đó.”
***
Lamarr Flaut đang rất sợ hãi. Nỗi sợ túm chặt lấy bao tử anh ta, và ruột anh ta như những con lươn nhớp nháp chỉ muốn tìm đường thoát ra bên ngoài. Một giờ trước, đội tuần tra đã nhận được lệnh. Flaut, từ sâu trong tâm trí mình, cứ hy vọng rằng nỗi sợ sẽ bị nhấn chìm trong cái lạnh buổi sáng và thói quen, một nghi lễ mà anh ta đã làm mấy trăm lần. Nhưng anh ta đã nhầm. Giờ đây, sau một tiếng đồng hồ và đã đi 5 dặm đường, vào sâu trong lãnh địa của địch, nỗi sợ vẫn gặm nhấm anh ta.
Đội tuần tra dừng lại trên sườn đồi dưới chân khu rừng thông. Những kỵ sĩ được ngụy trang kín đáo nhờ những bụi bách xù rậm rạp. Phía trước họ là một thung lũng trải dài. Những hạt sương sớm vẫn còn đọng lại trên những ngọn cỏ.
“Không có ai.” Flaut nói. “Không một bóng người. Quay về thôi. Chúng ta đã đi quá xa rồi.”
Người trung sĩ liếc xéo anh ta. Xa? Họ mới chỉ đi được chưa đầy 10 dặm và di chuyển như rùa bò.
“Chúng ta nên,” anh ta nói, “sang phía bên kia ngọn đồi, trung úy. Chúng ta sẽ có tầm nhìn tốt hơn. Đặc biệt là đối với cả hai thung lũng. Từ đó, chúng ta có thể nhìn thấy có ai ở thung lũng bên kia. Ngài nghĩ sao? Chỉ đi thêm vài thước thôi.”
Vài thước, Flaut nghĩ. Trên địa hình trống trải, bằng phẳng như một cái chảo. Những con lươn quằn quại và tìm đường ra khỏi ruột anh ta. Flaut gần như cảm thấy một con đã đi đúng đường.
Mình nghe thấy tiếng leng keng. Một con ngựa đang thở mạnh. Kia, ở giữa những cây thông, trên con dốc phủ cát đó. Có phải có thứ gì đó đang di chuyển không? Một bóng người? Chúng ta đang bị bao vây chăng?
Một lời đồn đại đã lan ra khắp đại bản doanh vào hôm qua, rằng các lính đánh thuê của Quân Đoàn Tự Do đã mai phục một nhóm tuần tra từ lữ đoàn Vrihedd và bắt sống được một người elves. Người ta đồn rằng hắn đã bị thiến, cắt lưỡi, và cắt luôn tất cả các ngón tay...Cuối cùng, chúng móc mắt hắn ra.
Và rồi họ cười đùa, nói rằng giờ đây hắn không thể vui vẻ với lũ điếm người elves của hắn nữa. Và hắn cũng chẳng thể xem người khác vui vẻ được.
“Thế nào, thưa ngài?” người trung sĩ nói bằng giọng khàn khàn. “Chúng ta có tiếp cận ngọn đồi không?”
Lamar Flaut nuốt nước bọt.
“Không,” anh ta nói. “Không nên phí thời gian nữa. Chúng ta không tìm thấy gì cả, không có kẻ địch nào ở đây. Chúng ta phải quay lại và báo cáo với chỉ huy. Đi thôi!”
***
Menno Coehoorn nghe bản báo cáo và ngước nhìn lên khỏi tấm bản đồ.
“Ra trận,” ông ta ra lệnh ngắn gọn. “Ngài Braibant, ngài Mellis-Stoke. Tấn công!”
“Hoàng đế vạn tuế!” Tyrconnel và Eggebracht hô lên. Menno nhìn vào họ với vẻ kỳ lạ.
“Ra trận,” ông ta lặp lại. “Cầu cho Mặt Trời Vĩ Đại sẽ soi sáng vinh quang của các ngươi.”
***
Milo Vanderbeck, một halfling và là một bác sĩ thực địa mà được biết đến nhiều hơn với cái tên Rusty, hít vào mùi iốt, amoniac, cồn, và thần dược đang lởn vởn trong căn lều. Ông muốn tận hưởng bầu không khí này, trong khi nó vẫn còn đang sạch sẽ, thuần khiết, và tiệt trùng. Ông biết nó sẽ không còn được như thế này lâu nữa.
Ông nhìn vào cái bàn phẫu thuật, vẫn trắng như tuyết, và đồ nghề của mình, những dụng cụ tỏa ra sự tôn trọng và tin tưởng với chất thép lạnh lẽo, vô hồn và đe dọa. Hoàn toàn sạch sẽ, ngăn nắp và rất có thẩm mỹ.
Tập trung xung quanh chiếc bàn là dàn phụ tá nhộn nhịp của ông – 3 người phụ nữ. Không, Rusty tự đính chính lại trong đầu. Một người phụ nữ và hai cô gái. Không. Một người phụ nữ trung niên nhưng trông vẫn rất trẻ và xinh đẹp. Và hai đứa trẻ con.
Người nữ pháp sư và trị thương tên là Marti Sodegren.Và hai tình nguyện viên. Shani, một sinh viên đến từ Oxenfurt. Và Iola, một nữ tu đến từ Đền thờ Melitele ở Ellander.
Ta biết Marti Sodegren, Rusty nghĩ, ta đã từng làm việc cùng người đẹp này vài lần rồi. Hơi cuồng dâm một chút, cũng có triệu chứng thần kinh, nhưng chỉ cần cô ta vẫn làm phép được là ổn. Những câu thần chú gây mê, khử trùng và ngăn chảy máu trong.
Iola là một nữ tu, hay nói cách khác là một học viên. Một cô gái với vẻ đẹp giản dị, như một tấm vải lanh, và đôi bàn tay to, khỏe của nông dân. Ngôi đền đã ngăn bàn tay cô bé khỏi lấm bẩn đất phù sa. Nhưng cô vẫn không thể che dấu được xuất thân của mình. Không, Rusty nghĩ, về nguyên tắc, ta không có gì phải sợ cô bé cả. Đó là đôi bàn tay của người nông dân, đôi bàn tay có thể tin tưởng được. Thêm nữa, những cô gái đến từ đền thờ hiếm khi thất vọng, và trong những lúc căng thẳng không gục ngã, mà dựa vào tôn giáo của họ, vào niềm tin thần thánh của họ. Rất thú vị là nó lại có ích.
Ông nhìn vào Shani tóc đỏ, đang khéo léo xâu chỉ cho kim khâu vết thương.
Shani, một đứa trẻ xuất thân từ một nơi tồi tàn nhưng được nhận vào học tại trường nhờ niềm đam mê, khao khát trí thức vô tận và sự hy sinh không kể xiết của những bậc cha mẹ nghèo khó. Một sinh viên. Cô bé có thể làm gì đây? Xâu chỉ? Quấn băng?Giữ cặp? Câu hỏi ở đây phải là liệu cô bé tóc đỏ có ngất xỉu, đánh rơi cặp và ngã chúi mũi vào ổ bụng đang mổ của bệnh nhân hay không?
Con người không được cứng cáp cho lắm, ông nghĩ. Ta đã bảo họ hãy đem cho ta một elf. Hoặc ai đó cùng giống loài với ta. Nhưng họ không làm. Họ không tin chúng ta. Hay chỉ riêng ta cũng vậy. Ta là một halfling. Không phải con người. Một kẻ xa lạ.
“Shani!”
“Vâng, thưa ông Vanderbeck?”
“Rusty. Đối với cô thì là “ông Rusty”. Cái này là cái gì hả Shani? Nó dùng để làm gì?”
“Có phải ông đang kiểm tra tôi không, thưa ông Rusty?”
“Trả lời đi, cô gái!”
“Đây là một cái nạo. Dùng để vét vỏ xương trong lúc cưa chi! Để vỏ xương không bị vỡ dưới lưỡi cưa, ta phải cưa gọn ghẽ! Ông đã hài lòng chưa? Tôi đã được ông chấp thuận chưa?”
“Trật tự, cô gái.”
Ông luồn các ngón tay qua mái tóc.
Thú vị thật, ông nghĩ. Có 4 bác sĩ ở đây. Và tất cả đều có tóc đỏ! Là định mệnh hay gì đây?
“Làm ơn hãy ra đứng trước lều”. Ông ra hiệu với các phụ tá của mình.
Họ vâng lời. Nhưng mỗi người đều lầm bầm cái gì đó khác nhau.
Phía trước lều là một nhóm quân y đang ngồi, tận hưởng những giây phút thư thái cuối cùng. Rusty nhìn nghiêm khắc và ngửi xem họ có say rượu không.
Người thợ rèn, một thanh niên cơ bắp, đang ngồi xếp lại những dụng cụ để trên ghế dùng để gỡ người bị thương ra khỏi những chiếc áo giáp hay mũ trụ bị giập nát và cong queo.
“Ở đó,” Rusty bắt đầu nói mà không chào hỏi, chỉ về phía chiến trường, “sắp sửa diễn ra một trận tắm máu. Và chỉ giây lát nữa thôi, chúng ta sẽ tiếp nhận người bị thương đầu tiên. Tất cả đã biết phải làm gì, vị trí của mình, và trách nhiệm của mình như thế nào rồi. Nếu cứ thực hiện đúng theo như vậy thì sẽ không có vấn đề gì cả. Đã rõ chưa?”
Các cô gái nghe lời ông mà không bình luận gì.
“Ở đó”, Rusty lại chỉ về hướng như lúc trước, “sắp sửa có hàng trăm ngàn con người cố gắng giết nhau. Bằng nhiều cách tinh vi khác nhau. Ở đây, và hai bệnh viện nữa, có tổng cộng 12 bác sĩ. Chúng ta không thể nào cứu được hết tất cả mọi người. Thậm chí không thể cứu được một phần nhỏ trong số đó. Và nói để tất cả biết sự thật, không ai trông đợi điều đó từ chúng ta cả. Nhưng chúng ta vẫn sẽ cứu họ. Bởi vì đó, xin lỗi có hơi sến một chút, chính là lý do mà chúng ta tồn tại. Đối với những người cần chúng ta.”
Các thính giả của ông tiếp tục im lặng. Rusty nhún vai.
“Chúng ta không thể làm nhiều hơn những gì có thể,” ông nói, chậm rãi hơn và nồng ấm hơn. “Nhưng chúng ta sẽ làm hết tất cả những gì có thể, và không ít hơn.”
***
“Chúng đang tấn công,” Tổng chỉ huy Natalis nói trong khi chùi mồ hôi túa ra từ lòng bàn tay lên quần. “Quân Nilfgaard đang tấn công, thưa ngài, chúng đang đến chỗ chúng ta!”
Vua Foltest kiểm soát con ngựa đang nhảy múa của mình, một con bạch mã với hình hoa súng trang trí trên yên, và quay gương mặt quý phái, xứng đáng với hình khắc trên những đồng xu, về phía tổng chỉ huy.
“Chúng ta phải chuẩn bị tiếp đón chu đáo, ngài tổng chỉ huy! Các sĩ quan!”
“Cái chết cho bọn Áo Đen!” Adam “Adieu” Pangratt và Bá tước de Ruyter hô lên. Ngài tổng chỉ huy ngồi thẳng dậy trên yên ngựa và hít vào một hơi thật sâu.
“Ra trận!”
Tiếng trống và kèn trận vang lên. Mặt đất rung chuyển bên dưới hàng trăm ngàn vó ngựa.
***
“Giờ thì,” halfling Andy Biberveldt nói, vén những lọn tóc của mình ra khỏi tai, “trận chiến đã bắt đầu...”
Tara Hildebrandt, Didi Hofmeier, và những người còn lại đang vây xung quanh chiếc xe gật đầu. Họ có thể nghe thấy tiếng vó ngựa thình thịch từ phía sau ngọn đồi và khu rừng. Họ có thể cảm nhận thấy mặt đất đang rung chuyển.
Và rồi, từ đằng xa sau cánh rừng, bắt đầu xuất hiện những tiếng kêu la. Và âm lượng ngày càng lớn dần lên.
“Loạt tên đầu tiên từ các cung thủ,” Andy, người mà đã từng nhìn thấy – hay đúng hơn là nghe kể về - nhiều trận chiến, nói một cách chuyên nghiệp. “Rồi sẽ có một đợt nữa.”
Anh ta đã đúng.
“Và giờ, họ sẽ đâm vào nhau.”
“Có....có thể....chúng ta....có thể trốn....dưới gầm xe.” William Hardbottom đề nghị, lắp bắp và rên rỉ.
Biberveldt và những người khác nhìn gã halfling với ánh mắt thương hại.
“Dưới gầm xe? Để làm gì? Chúng ta cách xa trận chiến đến gần một phần tư dặm. Và kể cả nếu có một toán tuần tra đến đây, trốn dưới gầm xe cũng chẳng thể cứu mạng chúng ta được.”
Âm thanh từ trận đánh ngày càng tăng dần.
“Ngay bây giờ,” Andy Biberveldt dự đoán và lại chính xác. Từ cách xa gần một phần tư dặm qua cánh rừng vọng lại tiếng quân đội hoàng gia va chạm với sắt thép và một âm thanh làm dựng tóc gáy.
Những tiếng rên rỉ tuyệt vọng , khủng khiếp và hoang dại của những con thú đang bị cắt xén.
“Kỵ binh...” Biberveldt liếm môi. “Kỵ binh bị xiên trên giáo...”
***
Nhà chép sử già nua dùng miếng tẩy và xóa câu tiếp theo, không hài lòng với những gì mà mình viết. Ông nhắm mắt, cố nhớ lại ngày hôm đó. Khoảnh khắc mà hai đoàn quân va vào nhau. Khi hai đội quân, dữ tợn như những con chó ngao, nhảy vào họng nhau, khóa chặt trong một cái ôm chết chóc.
Jarre cố tìm từ để diễn tả điều đó.
Trong vô vọng.
***
Một chiếc dùi đã đục vào bên sườn của bộ binh Temeria. Một cây cọc sống khổng lồ của sư đoàn Alba, nghiền nát mọi thứ bảo vệ thân thể những người lính bộ binh – giáo, chĩa, khiên, và kích.
Sư đoàn Alba đâm như một con dao vào một cơ thể sống và làm nó chảy máu. Những con ngựa trượt ngã trên nền đất trơn tuột. Nhưng mặc dù đầu mũi dao đâm vào rất sâu, nó vẫn chưa làm bị thương trái tim hay bất cứ cơ quan nội tạng quan trọng nào cả. Chiếc dùi của sư đoàn Alba, thay vì nghiền nát và chặt đứt bộ binh Temeria, lại đâm vào và bị kẹt trong đó. Họ kẹt giữa hàng ngàn bộ binh dày đặc.
Ban đầu, trông không có vẻ đe dọa lắm. Đầu và hai cánh của chiếc dùi được tạo nên từ các đơn vị quân tinh nhuệ mang giáp nặng. Những đòn tấn công bật ra khỏi áo giáp và khiên của họ như những chiếc búa thợ rèn bật ra khỏi đe. Họ cũng đã trang bị rất chắc chắn cho thú cưỡi. Và tuy rằng thỉnh thoảng lại có một người ngã xuống cùng với con ngựa của mình, những đường kiếm và lưỡi rìu của họ vẫn rơi giữa hàng bộ binh như một vụ gặt đẫm máu. Bị bao vây tứ phía, sư đoàn bắt đầu tiến vào sâu hơn.
“Albaaa!” Thiếu úy Devlin aep Meara nghe thấy tiếng hô xung trận của của đại tá Eggebracht, vang lên phía trên những tiếng va chạm của vũ khí, tiếng người hét và tiếng ngựa hý. “Tiến lên, Alba! Vì hoàng đế!”
Họ tiến về phía trước, chặt, đâm và chém. Bên dưới những vó ngựa miễn cưỡng có thể nghe thấy máu chảy, giáp trụ vỡ nát và người rên rỉ.
“Albaaa!”
Chiếc dùi lại kẹt lần nữa. Lực lượng bộ binh, tuy bị nghiền nát và chảy máu, vẫn không chịu nhường bước và bao vây lấy kỵ binh. Mặt đất rung chuyển. Bên dưới những mũi kích và lưỡi búa, lớp đầu tiên của chiếc dùi đã tan rã. Bị đâm bởi giáo, đập bởi chùy, bị kéo khỏi ngựa bằng móc câu, các hiệp sĩ của sư đoàn Alba bắt đầu chết.
Con dao kẹt trong bộ binh Temeria giờ đây không còn như mũi sắt trong cơ thể sống nữa, mà giống như một chỏm băng trong bàn tay của người nông dân.
“Temeriaaa! Vì đức vua! Giết bọn Áo Đen!”
Không dễ dàng chút nào cho bộ binh. Sư đoàn Alba đã không tan tác ra. Kiếm và rìu giơ lên rồi hạ xuống, và cho mỗi một kỵ sĩ ngã xuống, những người lính bộ binh can trường phải trả một cái giá bằng máu.
Một đầu mũi giáo đã tìm được đường vào khe hở trên áo giáp của Eggebracht và đâm vô đó. Người đại tá kêu lên và lắc lư trên yên ngựa. Và trước khi lính của ông kịp giúp, trận chiến đã kéo ông xuống dưới mặt đất và bộ binh tràn qua người ông.
Lá quân kỳ đại bàng đen lung lay và đổ xuống. Các kỵ binh hạng nặng, trong số đó có thiếu úy Delvin aep Meara, tăng tốc về phía đó, chặt, chém, giẫm đạp và la hét.
Ta tự hỏi, Delvin aep Meara nghĩ, trong khi rút thanh kiếm ra khỏi hộp sọ vỡ nát của một người lính Temeria. Ta tự hỏi, anh nghĩ, trong khi chặn lại một cú đánh nhằm vào mình, mục đích của tất cả những việc này là gì? Và ai phải chịu trách nhiệm?
***
“Ờ...và sau đó, các Pháp Sư Vĩ Đại đã họp tại...Đức mẹ đáng kính của chúng ta...ờ...mà sẽ sống mãi trong ký ức của chúng ta...bởi vì...à....những nhà vô địch vĩ đại của Hội đầu tiên...đã bàn bạc...và quyết định...”
“Em đã không chuẩn bị bài, học viên Abonde. Em đã trượt rồi. Ngồi xuống đi.”
“Nhưng em có học mà. Thật đó...”
“Ngồi xuống.”
“Tại sao họ lại phải dạy mấy thứ vớ vẩn cũ kỹ này chứ,” Abonde lầm bầm trong lúc ngồi xuống. “Thời buổi bây giờ ai mà quan tâm đến nó...Và có được cái tích sự gì đâu...”
“Trật tự đi! Học viên Nimue!”
“Có mặt, thưa cô.”
“Em có thể trả lời được câu hỏi không? Nếu không thì ngồi thẳng lên và đừng làm tốn thời gian của tôi.”
“Em có.”
“Vậy thì tôi nghe đây.”
“Vậy là như đã ghi trong biên niên sử, rằng cuộc họp của các pháp sư đã diễn ra ở Lâu Đài Núi Trọc và họ đã nhất trí là sẽ chấm dứt cuộc chiến tranh hủy diệt giữa Hoàng đế và các Vua phương Bắc. Đức Mẹ Assire, đức thánh nữ, đã quyết định rằng các nhà cai trị sẽ không dừng tranh chấp lại cho đến khi kiệt sức hoàn toàn. Trong khi đó, Đức Mẹ Philippa, đức thánh nữ, đã quyết định: “Hãy cho họ một trận chiến kinh hoàng, tàn ác và đẫm máu ngoài sức tưởng tượng. Một trận chiến chưa từng có. Và quân đội hoàng gia cùng các binh lính của những vị vua sẽ tắm trong máu của trận chiến đó, và rồi chúng ta, Hội Pháp Sư Vĩ Đại, sẽ bắt họ phải làm hòa.” Và đó chính xác là những gì đã diễn ra. Các Đức Mẹ đã tạo ra Trận Brenna. Và rồi các nhà cai trị đã buộc phải ký kết hiệp ước ở Cintra.”
“Tốt lắm, học viên Nimue. Tôi lẽ ra đã cho em một điểm A...nếu không vì từ “vậy là” ở đầu câu nói. Đừng có bắt đầu một câu bằng từ “vậy là”. Ngồi xuống đi. Và giờ, chúng ta sẽ nói đến Hiệp ước Cintra...”
Chuông reo báo giờ ra chơi. Nhưng các học viên không vội đứng lên và bỏ chạy. Họ giữ bình tĩnh và phẩm hạnh của mình, một vẻ bình thản đặc trưng.
Họ không phải những cô nhóc năm nhất nữa. Họ đã là năm thứ ba rồi. Họ đã gần 14 tuổi rồi. Và đó là điều quan trọng.
***
“Đây là giải pháp duy nhất,” Rusty đánh giá tình hình vết thương của bệnh nhân đầu tiên, người đang nằm chảy hết máu ra cái bàn phẫu thuật sạch sẽ. “Xương đùi đã gãy. Động mạch vẫn chưa bị cắt, nếu không thì người ta đã mang một cái xác vào đây rồi. Trông có vẻ như là một vết rìu chặt. Chiếc yên ngựa đã đóng vai trò như một cái thớt. Các cô có thể thấy ở đây...”
Iola và Shani cúi xuống người lính bị thương, Rusty xoa hai lòng bàn tay vào với nhau.
“Như tôi đã nói, chẳng có gì để chữa ở đây cả. Chúng ta phải cắt bỏ nó thôi. Làm việc nào. Iola, lấy nẹp ra. Kẹp chặt vào nữa đi. Shani, dao mổ. Không phải cái đó. Cái to hơn dùng để cưa ý.”
Người đàn ông bị thương tiếp tục bắn về phía bàn tay họ những ánh mắt khiếp đảm, theo dõi họ qua đôi mắt của một con thú bị bẫy trong chuồng.
“Một chút ma thuật nào, Marti.” Người halfling cúi gần xuống bệnh nhân để thu hẹp tối đa tầm nhìn lại.
“Tôi sẽ phải cưa nó thôi, con trai.”
“Khôôôông!” người đàn ông bị thương nói, lắc đầu quầy quậy, có gắng thoát ra khỏi đôi tay của Marti Sodergren. “Tôi không muốn!”
“Tôi phải cưa nó đi không anh sẽ chết!”
“Tôi thà chết...” Cử động của người đàn ông chậm dần đi dưới tác dụng của ma thuật. “Tôi thà chết còn hơn bị cắt xén...hãy để tôi chết....tôi xin ông...hãy để tôi chết!”
“Tôi không thể,” Rusty nhấc cao con dao lên và nhìn vào lưỡi thép nguyên chất sáng loáng. “Tôi không thể để anh chết. Tôi là một bác sĩ.”
Ông ấn mạnh con dao vào trong da và cắt sâu xuống. Người đàn ông tru lên. Âm thanh man rợ nghe không giống người.
***
Người liên lạc viên dừng con ngựa lại đột ngột đến nỗi có tia lửa tóe ra bên dưới móng của nó. Hai người phụ tá giữ dây cương và trấn an con vật. Người liên lạc viên quỳ xuống đất.
“Ngươi là ai?” John Natalis hỏi. “Ai đã cử ngươi đến?”
“Lãnh chúa de Ruyter...” người liên lạc viên thở khò khè. “Chúng tôi đã chặn được bọn Áo Đen, nhưng tổn thất quá lớn. Lãnh chúa de Ruyter đang yêu cầu cứu viện.”
“Không,” Tổng chỉ huy trả lời sau một phút im lặng. “Các ngươi phải cố giữ thôi. Các ngươi bắt buộc phải cố giữ!”
!!!
.với lại màn hình 27 inch vi tính thì ngon lành zoi`.

. Sau đó cả hội tản ra để tìmSalamandra lấy lại công thức
).
, thậm chí anh Ge còn vô rừng kiếm sơn nữ đổi gió, giả làm nhà từ thiện ban phát đồ ăn để ứ ừ với các ẻm !!! Đương nhiên là trong 25 em đó khó tránh khỏi vài 3 em cave,, bản chất của Ge cmnr !!!