Thảo luận lịch sử chiến tranh(không chính trị)All in one(đọc kĩ post 1)

Status
Không mở trả lời sau này.
là thằng dệt chiếu bán giầy cỏ ăn hại:-w
con sao bố vậy:-w
mà nó vốn ngốc đẻ thằng con ngốc lại còn ngu tới mức ném con xuống đất nên thằng con 18t mà vẫn đần như cũ:-w
 
Cái dùng để đốt đèn nếu không lầm thì là mỡ động vật.Tên lửa thì là cuộn cái đồ dễ cháy như mùn cưa hay đơn giản hơn là rơm khô rồi đót thôi thì phải :-?
Lưu Bị chả biết nhân vật thật thế nào chứ như trong tiểu thuyết thì tớ thấy khôn hơn mỗi thằng con =))
 
ng` ta gọi là hiển giả :-j , nếu vào thời bình , Lưu bị có 1 mảnh đất , sống hiền hòa , có lẽ ông sẽ dc. ghi vào sử xanh vì ... nhân từ ,thanh liêm .... Đáng tiếc ông sống vào thời loạn , bối cảnh lúc đó chỉ có tài 0 cũng 0 xong ,mà cần phải thủ đoạn ( điển hình là cha con tào tháo ,chú cháu TMY ) .....

Vì thế nên thế chân vạc 0 dc. lâu dài , trai cò đánh nhau Ngư ông đắc lợi =)) , Tào phi lật đổ nhà hán ,thj`Tư Mã .. 0 nhớ tên lật đổ nhà Ngụy =)) ,
 
ng` ta gọi là hiển giả :-j , nếu vào thời bình , Lưu bị có 1 mảnh đất , sống hiền hòa , có lẽ ông sẽ dc. ghi vào sử xanh vì ... nhân từ ,thanh liêm .... Đáng tiếc ông sống vào thời loạn , bối cảnh lúc đó chỉ có tài 0 cũng 0 xong ,mà cần phải thủ đoạn ( điển hình là cha con tào tháo ,chú cháu TMY ) .....

Vì thế nên thế chân vạc 0 dc. lâu dài , trai cò đánh nhau Ngư ông đắc lợi =)) , Tào phi lật đổ nhà hán ,thj`Tư Mã .. 0 nhớ tên lật đổ nhà Ngụy =)) ,

"Thánh nhân đãi kẻ khù khờ" :))

Cái dùng để đốt đèn nếu không lầm thì là mỡ động vật.Tên lửa thì là cuộn cái đồ dễ cháy như mùn cưa hay đơn giản hơn là rơm khô rồi đót thôi thì phải :-?
Lưu Bị chả biết nhân vật thật thế nào chứ như trong tiểu thuyết thì tớ thấy khôn hơn mỗi thằng con =))

Thế thằng Lưu Bị hiền giả à :chicken:, vậy thằng nào hiền thật :-??

;;) ;;) ;;)
 
hiền thật chắc là anh Lu Bu=))
 
Thật sự trong truyện Tam quốc thì thấy ghét nhất là Lưu Bị, truyện ca ngợi là bậc nhân đức nhưng thực sự thì thấy như là 1 kẻ gàn dở, ngu ngốc thì đúng hơn.
Được Lưu Biểu tặng cho Kinh Châu thì ko thèm lấy, bảo đó là việc bất nhân trong khi lại đem quân đội đi lấy đất Thục vốn là đất của 1 người trong họ hàng ;))
Ném thằng con còn bé tí của mình xuống đất để lấy lòng Triệu Vân, mà có khi thằng con vì bị ném xuống đất nên về sau mới ngu ngốc đến mức như thế =))
Mà Lưu Bị cũng thuộc dạng háo sắc nữa chứ ;))
 
vấn đề này box Hội Vườn Đào ngày xưa đã tốn không ít băng thông và dung lượng lưu trữ của GVN để bàn rồi =)) hầu hết box HVĐ đều công nhận trình của Bị chả thua gì Tháo thậm chí còn hiểm độc hơn hẳn 1 bậc. Giả về ném thằng con bị bệnh down xuống đất để lấy lòng 1 anh tướng tài. Nhưng cả 2 bác Bị và Tháo thì vẫn thua xa Lượng về độ gian xảo =))
 
mẹ thế sao ko cho thằng con nuôi lên ngôi mà lại truyền ngôi cho thằng bệnh down đó:-w
 
Bởi vì con nuôi ko bao giờ bằng con ruột, cũng như truyền ngôi cho con cả chứ ko truyền ngôi cho con thứ, mặc dù con thứ tài giỏi hơn con ruột. Vì thế cho nên triều đại nào cũng đến 1 thời gian là thoái trào :D
 
Anh Lượng khôn thế mà sao cứ fai? nghe lời thằng con bệnh down của Lưu bị thế nhỉ :-/ , trận kỳ sơn sắp thằng rồi mà nó goị 1 fat' la` về :-??
 
vì trình của Bị thua Lượng 1 bậc. Lượng thuyết phục Bị là có khả năng chửa được bệnh down cho A Đẩu và nói rằng sẽ giúp đỡ A Đẩu cho tới khi nó khỏi bệnh ;))
 
Anh Lượng khôn thế mà sao cứ fai? nghe lời thằng con bệnh down của Lưu bị thế nhỉ :-/ , trận kỳ sơn sắp thằng rồi mà nó goị 1 fat' la` về :-??

Thứ nhất là có thể trong lịch sử thật không được vui vẻ như thế - thắng vài trận nhưng hết lương thì sao?

Thứ hai là không về cũng không được vì nếu phe cánh ở nhà bị thịt hết thì gay to. Quân lương mà không được tiếp viện đủ thì thành mồi cho địch. Với cái bệnh down của anh Đẩu thì ai mà biết anh ý sẽ làm gì. Thành thử, thôi thì về còn hơn, mất chiến thắng lần này nhưng còn cái mạng, hy vọng lần sau.
 
Anh Lượng khôn thế mà sao cứ fai? nghe lời thằng con bệnh down của Lưu bị thế nhỉ :-/ , trận kỳ sơn sắp thằng rồi mà nó goị 1 fat' la` về :-??

Ngày xưa bị ràng buộc về tư tưởng Nho giáo các thứ, vua bảo thần chết thì thần ko thể ko chết. Anh Lượng thì càng thuấn nhuần cái tư tưởng ấy cho nên lúc bị gọi về, mặc dù biết là về sẽ bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng, nhưng vẫn phải về thôi.
Nhớ lại hồi bé xem Tam quốc đến đoạn đám tang của anh Lượng mà lòng mình cũng cảm thấy bồi hồi, xót xa :'>
Mà nếu là mình nhỉ, thằng vua ngu quá thì lật con mịe nó luôn ;)), lên làm vua ko phải là sướng hơn sao ;))
 
anh Lượng không muốn về cũng phải về
không về mất nước thì đánh tiếp phỏng có ích gì?=))
 
hôm qua lão vietanh qua vns bị chém nhầm =)) ,hôm nay qua đây xin lỗi và spam góp vui;))
Vài điều về Gia Cát Lượng
<1>Hoàng Nguyệt Ánh
Chuyện Gia Cát Lượng lấy Hoàng Thị - 1 cô gái xấu xí làm vợ đã ghi lại trong sử sách, lại được dân gian lưu truyền rộng rãi. Nhưng nguyên nhân tại sao Gia Cát Lượng lại lấy 1 cô gái xấu xí Hoàng A Sửu là con con gái Hoàng Thừa Ngạn làm vợ thì chưa thấy ghi chép trong chính sử “Tam Quốc Chí, Gia Cát Lượng truyện”, chỉ thấy ở “Tương Dương ký” do Bùi Tùng chu dẫn, đại ý là: Danh sĩ Miền Nam là Hoàng Thừa Ngạn nói với Gia Cát Lượng rằng: “Nghe tin ngài muốn kén vợ, nhà ta có 1 cô con gái xấu xí, túc hạ thấy thế nào?”. Gia Cát Lượng nghe xong lập tức muốn đi coi mặt sau đó đồng ý ngay. Ông dùng xe miền Nam đón dâu, Gia Cát Lượng là 1 người vốn được các danh sĩ đương thời đánh giá là người tài mạo song toàn, lại lấy 1 cô gái xấu xí về làm vợ khiến mọi người đều bất ngờ. Vì thế ko ít người lấy làm tiếc cho Gia Cát Lượng, càng có nhiều kẻ hiếu sự thêu dệt thành chuyện cười, nói là “Nếu Khổng Minh chọn vợ, chính là cô gái xấu xí A Thừa”.
Vậy vì sao Gia Cát Lượng lại lấy Hoàng Thị? Quan niệm truyền thống của người Trung Quốc cho rằng trai gái lấy nhau phải xứng đôi vừa lứa, Lang tài nữ mạo; Anh hùng mỹ nữ; Nữ tử giai nhân…Cho nên người ta tránh nói đến hoặc ko nói đến nguyên nhân Gia Cát Lượng lấy vợ xấu. Đặc biệt khi Gia Cát Lượng được thần hóa thì sự che dấu đó càng tăng.
Có người cho rằng Hoàng Thị tuy xấu xí nhưng tài năng phi phàm. Gia Cát Lượng được vợ hiền nội trợ, ko những có lợi cho sự nghiệp của ông mà còn giúp ích cho sự nghiệp của ông. Ví dụ như trong sách “Quế hải ngu hoành chí” của Phạm Thành đại thể viết rằng: Có 1 lần khách đến nhà, Gia Cát Lượng dặn vợ làm cơm đãi khách. Không đầy 1 lát, Hoàng Thị đã bưng cơm lên, Gia Cát Lượng lấy làm kinh ngạc. Sao mà nhanh thế! Thế là ông lặng lẽ theo sau nhìn trộm, thấy mấy người gỗ làm thức ăn nhanh như bay. 20 năm sau thời chiến tranh Bắc phạt, Gia Cát Lượng theo đó dùng trâu gỗ vận chuyển lương thực. Nhưng cuối cùng đó chỉ là truyền thuyết. Nếu nói Hoàn Thị có thể sai khiến người gỗ thì đương nhiên không thể tin được, nhưng trong cuộc đời sự nghiệp của Gia Cát Lượng đã có sự trợ giúp rất lớn của Hoàng Thị. Đó cũng chỉ là giả thuyết, dò đoán mà không có tư liệu lịch sử ghi lại. Cho nên có 1 số truyền thuyết đó là Gia Cát Lượng tài mạo song toàn mà lấy vợ xấu cho nên ko phù hợp với tâm lý thần hóa nhân vật của các học giả.
Chuyện Gia Cát Lượng lấy vợ xấu được ghi chép rõ ràng trong các tư liệu lịch sử. Người đương thời lấy việc đó làm trò cười thì cũng như mách bảo với chúng ta rằng Gia Cát Lượng là người phàm chứ ko phải là thánh nhân, coi việc chọn vợ ko quan trọng bằng việc chọn bố vở. Rất có thể ông đã lợi dụng cuộc hôn nhân đó để lọt vào chốn cao môn. Người hiện đại như Ăng-ghen đã chỉ rõ: Để trở thành một chính trị gia, có thể dùng hôn nhân để mở rộng thế lực của mình.
Thời Gia Cát Lượng ẩn cư ở Long Trung ko phải ông thờ ơ với thời cuộc mà trái lại ông rất quan tâm đến đại sự thiên hạ, dự đoán khả năng thay đổi cục diện thiên hạ, lại thường ví mình như Quản Trọng, Nhạc Nghị, nuôi khat1 vọng cứu thiên hạ làm trách nhiệm của mình, tạo lập một cơ đồ sự nghiệp. Nhưng ông hiểu rất rõ, trong điều kiện lúc đó muốn thực hiện lý tưởng của bản thân sẽ rất khó khăn.
Từ lúc chính quyền Đông Hán Lưu Tú thành lập. Lực lượng cường hào địa chủ ngày càng mở rộng. bè lũ Lưu Tú từ đời này qua đời khác nắm giữ chức vụ quan trọng ở cả trung ương lẫn địa phương. Tuy từ sau vương triều Tần Hán có cái gọi là Chế độ sát cử chính tích nhưng do quân phiệt cát cứ và chiến loạn liên miên cho nên chưa thực hiện được chế độ đó. Sự thực khách quan là quí tộc lũng đoạn chức vị, nếu ko phải con em thế gia đại tộc, danh môn đại tính thì khó đi vào con đường quan chức. Trong thời đại chỉ nói về xuất thân, môn đệ, đẳng cấp thì Gia Cát Lượng có tài năng cũng khó thực hiện được lý tưởng. Ông xuất thân từ môn đệ ko cao, phụ thân là Gia Cát Khuê ko vượt quá chức phận thừa của quận Thái Sơn, lại mất sớm nên ko giúp gì cho ông được. Ông cùng chú rời quê hương Đông Sơn đến trú ở Tương Dương – Hồ Bắc nhưng ko may chú cũng mất sớm. Có thể nói Gia Cát Lượng đã sống những ngày cơ cực ở Long Trung. Tuy ông có tài năng được các danh sĩ ca ngợi nhưng ko có mối quan hệ khắn khít với họ. Do vậy, để thay đổi tình hình, lợi dụng hôn nhân là phương thức đơn giản tiện lợi nhất.
Trong sách “Tương Dương Ký” có ghi rất rõ: Hoàng Thừa Ngạn hảo sảng nổi tiếng, là danh sĩ Miền Nam. Sách “Tam Quốc Chí tập giải” dẫn “Tương Dương kỳ cựu truyện” tiến lên 1 bước bổ sung rõ hơn: Cuối thời Hán, đại gia thế Thái Thị cực mạnh, trưởng nữ là vợ Hoàng Thừa Ngạn, thứ nữ là thiếp Lưu Cảnh Thăng.
Hoàng Thừa Ngạn vốn là danh sĩ Miền Nam, lại có quan hệ rất thân thiết với Lưu Biểu. Thân thích với người như vậy thì dù Hoàng Thị có xấu 1 chút cũng ko hề gì đối với một người ôm ấp nhiều hoài bão và muốn thực hiện ý tưởng của Gia Cát Lượng.
Quả nhiên Gia Cát Lượng sau khi làm con rể của hoàng Thừa Ngạn thì càng được các danh sĩ khẳng định kính trọng, tiếng nổi như cồn, địa vị ngày càng được củng cố trong giới danh sĩ Kinh Châu đương thời.
<2> Tôn Lưu Bị làm minh chủ?

Khi Gia Cát Lượng xuống núi có thể chọn rất nhiều người mạnh hơn Lưu Bị như Tào Tháo, Tôn Quyền, Lưu BIểu, Lưu Chương,… để lao động đường phố tá. Vì thế người ta sẽ hỏi tại sao Gia Cát Lượng lại tôn Lưu Bị làm minh chủ?
Cuối thời Hán, thiên hạ đại loạn, quân phiệt hỗn chiến, vô số kẻ muốn làm minh chủ, biết bao anh tài ẩn giật lũ lượt chọn minh chủ của mình. Nhưng Gia Cát Lượng vốn được người đương thời công nhận là Gia Cát Lượng vốn được người đương thời công nhận là người anh minh tài giỏi lại chọn vị minh chủ trơ trọi và có thực lực chính trị kém như Lưu Bị?
Gia Cát Lượng từng nói trong “Xuất xư Biểu” rằng: Thần vốn nghèo hèn, tự mình cày cấy ở Nam Dương… Tiên Đế Lưu Bị ko chê thần bất tài, ba lần đến nơi lều cỏ thần ở để vời thần gánh vác chung việc lớn! Thật là cảm kích! Sách “Tam Quốc diễn nghĩa” căn cứ vào đó mà nói Gia Cát Lượng ko muốn xuất sơn, vui vầy chốn ruộng đồng, ko muốn phụng mệnh. Sau cảm động vì Lưu Bị 3 lần đến mời nên ko trái ý. Cách lý giải đó kỳ thực ko chắc chắn.
Gia Cát Lượng quyết ko phải là người thích yên ổn nơi ruộng đồng. Ông thường ví mình với Quản Trọng, Nhạc Nghị, lưu tâm đến chính trị, thiết kế “Long Trung đối” với mục đích giành được sự nghiệp huy hoàng. Trong lúc ông chờ thời ở Long Trung chính là để chọn người lao động đường phố tá nhằm thực hiện lý tưởng của mình.
Ko nghi ngờ gì, Tào Tháo là nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất nhất thời đó. Những tay chân của Tào Tháo đều là những nhân tài văn võ song toàn, nếu Gia Cát Lượng về trướng Tào Tháo thì cũng chỉ ở dưới tầm họ mà thôi. Đồng thời Tháo tính cách tàn bạo, đa nghi mà lại gian trá, thường đùa với quyền lực. Quan điểm của Gia Cát Lượng khác biệt với Tháo nên ko muốn theo ông ta.
Tôn Quyền cũng là 1 nhà quân sự kiệt xuất nhất đương thời nhưng thiếu hùng tâm thống nhất thiên hạ, chỉ muốn giữ toàn sự nghiệp cha ông, muốn yên ổn ở Giang Đông. Mà Gia Cát Lượng lại nuôi ý chí kết thúc chia cắt, thống nhất thiên hạ nên Tôn Quyền ko thích hợp với ông. Huống hồ Tôn Quyền kế thừa sự nghiệp cha ông để lại có 1 loạt trọng thần giỏi như Trương Chiêu,…Nếu Gia Cát Lượng theo Tôn Quyền thì cũng khó mà theo đuổi chí hướng của mình.
Những kẻ cát cứ khác như Lưu Biểu, Lưu Chương, Mã Đằng – Hàn Toại đều ko xứng đáng với Gia Cát Lượng.
Chỉ có Lưu Bị là vị quân chủ lý tưởng của Gia Cát Lượng. Ông là hậu duệ của nhà Hán, giương cờ hiệu phục hưng nhà Hán, có khả năng thu hút lòng người, chiêu mộ nhân tài, có lý tưởng thống nhất thiên hạ giống như Gia Cát Lượng. Những mãnh tướng của Lưu Bị như Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân… Tuy tài giỏi nhưng thiếu sách lược quân sự mà Gia Cát Lượng lại phù hợp với trọng trách quân sư, có thể biểu hiện tài năng của mình. Tập đoàn Lưu Bị xuất thân thấp hơn tập đoàn Tôn Quyền, Tào Tháo nhưng lại được sự ủng hộ của các tập đoàn giai cấp địa chủ lớp trên và các thế lực cát cứ, quần chúng nhân dân nói chung và sĩ tộc hàn môn ở Kinh Châu, Tương Dương nơi Gia Cát Lượng trú ngụ.
Cho nên tập đoàn Lưu Bị và tập đoàn đại địa chủ Kinh Châu – Tương Dương lấy Gia Cát Lượng làm đại biểu cho vị trí chính trị, kinh tế, tư tưởng tương tự nhau nên Gia Cát Lượng sẽ phát huy hết khả năng quân sư của mình cho tập đoàn Lưu Bị mà chính nhà chính trị phong kiến Lưu Bị cũng tự nhiên trở thành vị “Minh chủ” hoàn toàn đáng tin cậy của Gia Cát Lượng.
<3> Từ Thứ tiến cử Gia Cát?
Trong sách “Tam Quốc diễn nghĩa” có chuyện Từ Thứ tiến cử Gia Cát, nói Gia Cát Lượng giao du với Từ Thứ lao động đường phố tá Lưu Bị, lần lượt đánh bại các tướng lĩnh của Tào Tháo như Tào Nhân, Lã Khoáng, Lã Tường đoạt lấy Phàn Thành. Tào Tháo dùng kế Trình Dục đoán mẹ Từ Thứ đến Hứa Đô rồi bắt chước chữ của Từ Mẫu gửi thư về cho Từ Thứ yêu cầu Từ Thứ đầu hàng Tào Tháo cứu mẹ. Từ Thứ là người có hiếu, khi nhận thư thì phải từ biệt Lưu Bị. Và rồi Thứ tiến cử Gia Cát Lượng.
Do truyện Tam Quốc ảnh hưởng rộng rãi cho nên trong lòng người ta đều cho rằng việc Gia Cát Lượng lao động đường phố tá Lưu Bị là do Từ Thứ tiến cử cho Lưu Bị lúc chia tay. Nhưng điều này quả ko thực ko phù hợp với lịch sử. Căn cứ vào sử sách ghi chép lại thì Từ Thứ quả thực đã tiến cử Gia Cát Lượng cho Lưu Bị nhưng ko phải là lúc từ biệt mà là khi ông vẫn đang làm quân sư cho Lưu Bị.
Năm 200, sau khi Tháo hùng cứ ở Phương Bắc đánh bại Viên Thiệu ở Quan Độ, thống nhất phương Bắc thì dẫn quân về Nam đánh Lưu Bị. Dưới áp lực quân sự hùng mạnh của Tào Tháo, Lưu Bị phải dừa vào đồn binh Tân Dã của Lưu Biểu ở Kinh Châu. Lúc đó Từ Thứ theo Lưu Bị, do tài năng xuất chúng nên hiểu biết sâu rộng. Để giúp Lưu Bị khôi phục nhà Hán, thực hiện bá nghiệp, năm 207, Từ thứ tiến cử Gia Cát Lượng. Thế là Lưu Bị 3 lần đến Long Trung thăm hỏi Gia Cát Lượng. Cuối cùng Gia Cát Lượng vì cảm kích trước tấm lòng của Lưu Bị mà xuống núi.
Năm 208, Từ Thứ rời Lưu Bị. Năm đó Lưu Biểu bệnh chết, Tào Tháo thừa cơ tấn công Kinh Châu. Con của Lưu Biểu là Lưu Tôn đành phải đầu hàng trước áp lực quân sự của Tào Tháo. Lưu Bị đóng quân ở Phàn Thành nghe tin Lưu Tôn đầu hàng thì hoang mang lui về miền Nam. Trong đại quân rút lui đó, sử có ghi rằng có Gia Cát Lượng và Từ Thứ cùng đi. Để tiêu diệt Lưu Bị, Tào Tháo phải tinh binh đi đuổi theo suốt ngày đêm, cuối cùng đuổi kịp và đánh bại quân Lưu Bị. Tào Tháo để có được Từ Thứ đã dùng mẹ Từ Thứ làm con tin, ép ông quy thuận. Từ Thứ là người con có hiếu nên bắt buộc phải đến chỗ Tháo.
Từ đó có thể thấy, năm 207 Gia Cát Lượng xuống núi. Việc ông xuống núi là do có nhiều người tiến cử, Từ Thứ là 1 trong số đó. Năm 208, Từ Thứ mới xa Lưu Bị.
<4> Lưu Bị 3 lần tới lều cỏ?
Sách “Tam Quốc diễn nghĩa” có miêu tả câu chuyện này, Từ Thứ tiến cử rồi Lưu Bị 3 lần cầu hiền, cảm động nên Gia Cát Lượng mới xuống núi. Nhưng chuyện tôn trọng nhân tài, cầu hiền đãi sĩ như vậy ko thấy lịch sử ghi lại. Sách “Tam Quốc Chí” chỉ ghi lại 1 câu có liên quan tới việc này: Do tiên chủ mời 3 lần, Gia Cát Lượng bèn đi gặp Lưu Bị. Gia Cát Lượng còn viết trong “Xuất sư biểu” rằng: Tiên đế ko cho thần là kẻ thấp hèn, 3 lần đến lều cỏ của thần để mời thần cùng lo việc thế sự. Dựa vào tài liệu có đó để có thể soạn thành giai thoại thiên cổ Tam cố mao lư thì quả là sự sáng tạo.
Nếu phân tích tỉ mỉ tư liệu Tam cố mao lư thì thật là khó kết luận Gia Cát Lượng được Lưu Bị 3 lần đến lều cỏ mời. Vì trong lịch sử còn có ghi chép khác về sự kiện xuống núi.
Theo “Ngụy Lược” của Bùi Tùng chú dẫn có nói rằng: Lưu Bị đóng đồn ở Phàn Thành. Lúc đó Tào Công đóng quân ở Hà Bắc. Gia Cát Lượng Kinh Châu đang bị đe dọa mà Lưu Biểu mềm yếu, ko hiểu việc quân sự. Thế là Gia Cát Lượng đi lên miền Bắc gặp Lưu Bị. Gia Cát Lượng dâng kế với Lưu Bị thu nạp dân du mục tham gia binh sĩ. Lưu Bị theo kế đó nên tăng được số lượng binh sĩ. Từ đó Lưu Bị biết Gia Cát Lượng là người tài giỏi, tiếp đón ông như khách. Căn cứ vào tư liệu đó, việc xuống núi của Gia Cát Lượng là hoàn toàn chủ động và ko phải do Lưu Bị mời.
Tuy nhiên, nhiều người ko tin quan điểm cho rằng Gia Cát Lượng chủ động xuống núi nhưng nếu nghiên cứu tỉ mỉ thì có thể cho rằng đó là 1 khả năng.
Gia Cát Lượng ko phải 1 đời là ẩn sĩ. Khi ẩn ở Long Trung, 1 mặt ông hệ thống lại kinh sử đã học, nâng cao kiến thức, 1 mặt lại quan tâm đến tình hình thiên hạ, cuối cùng đã hình thành kế hoạch Long Trung đối. Ông thường ví mình với Quản Trọng, Nhạc Nghị. Tất cả thề hiện Gia Cát Lượng ko cam lòng chịu ở ẩn mà ôn ấp hoài bão kết thúc cục diện phân chia trong thiên hạ. Ông ẩn cư ở Long Trung chỉ là chờ đợi cơ hội. Ông có nhiều đối tượng để chọn nhưng nhiều nguyên nhân nên lại chọn Lưu Bị.
Vì thế, khi Gia Cát Lượng đã chọn Lưu Bị làm đối tưởng để lao động đường phố tá, sao ông lại ko thể chủ động đi gặp Lưu Bị? Đương nhiên, lúc đầu Lưu Bị cũng ko quá coi trong ông, nhưng sau khi nghe ông kiến nghị thì biết ông có tài thao lược, lại dược sự tiến cử của nhóm Từ Thứ thì quyết định mời ông xuống núi.
Lúc trọng bệnh nguy ngập, Lưu Bị triệu vời Thừa tướng Gia Cát Lượng, Thượng thư lệnh Lý Nghiêm gửi gắm hai người lao động đường phố tá con là Lưu Thiện. Giữa Lưu Bị và Gia Cát Lượng đã từng có một đoạn đối thoại, theo ghi chép từ “Tam quốc chí”, “Thục thư” và “Gia Cát Lượng truyện” ghi lại: “Mùa xuân năm thứ 3 Chương Vũ, tiên chủ lâm bệnh ở Vĩnh An, Triệu Lượng từ Thành Đô tới, những chuyện hậu sự về sau, dặn Lượng rằng: “Ngươi tài gấp 10 phần Tào Phi, ắt trị được nước, định đoạt đại cục. Nếu con ta có thể lao động đường phố trợ được, hãy giúp nó; nếu nó quả tình bất tài, ngươi có thể tự thay mình vào”. Lượng đổ lệ mà rằng: “Thần những muốn kiệt cùng tận lực, bảo tồn tiết khí trung trinh, đến chết mới thôi!" Tiên chủ lại hạ chiếu cho hậu chủ rằng, "Mi cùng với thừa tướng tòng sự, nhớ phải đối đãi ngài như cha!" Đoạn đối thoại này cùng những chuyện về sau đã trở thành giai thoại thiên cổ về nghĩa cử quân thần trung trinh nương dựa “tại Bạch Đế gửi gắm con côi ” mà người đời sau vẫn thích nhắc tới. Đoạn đối thoại này, lại đi kèm thêm “xuất sư biểu” do Gia Cát Lượng lập nhân lúc Bắc phạt, từ trước tới giờ vẫn luôn được coi là điển cố thực chứng tôn sùng Gia Cát Lượng là bậc “thiên cổ đệ nhất thần”. Về việc này, tôi lại có cách nghĩ khác. Gia Cát Lượng, là một nhân vật theo đuổi thuật Thân Hàn (Thân Bất Hại – Hàn Phi Tử) của phái Pháp gia giữa thời loạn thế, con người ấy không có điểm nào khiêm cung như những bậc tao khách văn nhân vẫn thường được miêu tả mà là một chính trị gia luôn hiểu rõ thời cơ nắm chặt quyền lực và thực lực, vào thời điểm then chốt không bao giờ nương tay với bất cứ ai. Vương chủ thứ hai của ông ta – Lưu Thiện hay bất kỳ đại thần nào trong ngoài triều tới đông đảo dân chúng đều không có ngoại lệ. Chúng ta xét tích “ tại Bạch Đế gửi gắm con côi” trước nhất. Tại Bạch Đế gửi gắm con côi, câu nói của Lưu Bị với Gia Cát Lượng “ngươi tài gấp 10 phần Tào Phi, ắt trị được nước, định đoạt đại cục. Nếu con ta có thể lao động đường phố trợ được, hãy giúp nó; nếu nó quả tình bất tài, ngươi có thể tự thay mình vào” cùng hình tượng “cung kính nghiêm cẩn, nhất nhất một lòng” của Gia Cát Lượng về sau này vừa không phải do Lưu Bị phát kiến ra mà cũng chẳng phải chỉ xảy đến với một mình Gia Cát Lượng. Chẳng cần nói xa xôi, vào đầu thời kỳ Tam Quốc, người sáng lập triều Đông Ngô Tôn Sách lúc lâm chung đã từng được ghi lại tích truyện như vậy. “Tam Quốc chí”, “Ngô thư”, “Trương Chiếu truyện” có viết: “Sách nói với Chiếu: “Nếu Trọng Mưu không gánh vác được, ngươi hãy tự đứng ra đảm đương thay nó. Tấn công trực diện lần nữa mà không thắng thì trở lui chậm về phía Tây, không có điều gì phải lo lắng”. Trương Chiêu trên dâng biểu tấu với nhà Hán, dưới dời Chúc Thành, các tướng lĩnh trong ngoài đều được lệnh riêng. Tôn Quyền vì đau khổ còn chưa rõ rành sự việc, Trương Chiều bèn thân chinh đỡ Quyền lên ngựa, bày binh mà ra trận, sau rồi lòng dân đều theo về." Lúc bấy giờ, Tôn Quyền tuổi mới tầm 19 còn Lưu Thiện 17 tuổi đã lên ngôi, tuổi đời xấp xỉ nhau. Nhưng khi Tôn Sách băng, quân phiệt cát cứ khắp nơi đang hỗn chiến, Tôn Sách thừa cơ Đông chinh Tây chiến để mở rộng lực lượng nhưng thế lực của ông ta không được củng cố thêm bao nhiêu, rõ ràng không thể so sánh với chính quyền Thục Hán căn cơ ổn định. Vậy nên một loạt những động thái mà Tôn Sách dặn dò Trương Chiêu lúc lâm chung còn trọng yếu hơn nhiều những gì Lưu Bị “gửi gắm con côi” lại cho Gia Cát Lượng. Nói về địa vị, địacủa Trương Chiếu ở Đông Ngô càng không thể tôn quý như của Gia Cát Lượng ở Thục Hán. Về mặt lịch đại, Tôn – Trương cũng là người đi trước, những kẻ hậu thế chỉ thấy nhắc tới Chiếu Liệt, Khổng Minh mà bỏ qua Hoàn Vương, Tử Bố (Trương Chiêu) rõ ràng không phải bởi không nhớ nổi những việc xưa ấy mà nghĩa cử đẹp nức lòng người ấy e chỉ mang dụng ý tô đẹp hình tượng Khổng Minh. Bởi thế nên nói một cách chân thành, việc ấy chẳng có gì đáng tâm đắc biểu dương cả, nếu muốn nêu gương thì phải nói tới Tôn Sách cùng Trương Chiêu mới phải lẽ. Mặt khác, vào thời điểm Lưu Bị gửi gắm ở Bạch Đế cũng đâu chỉ có cho vời mỗi Gia Cát Lượng mà còn có cả Lý Nghiêm bên cạnh. Lưu Bị có thể triệu vời Gia Cát Lượng từ tận Thành Đô về để gửi gắm, điều đó cho thấy ông đã có đủ thời gian để suy xét và xử lý vấn đề này. Vậy nên khi gửi gắm lại cho hai người cũng không chỉ vì lý do Lý Nghiêm đang tiện ở cạnh mình mà chắc chắn là đã suy xét thật chín, thậm chí có thể nói là đã phải vắt kiệt tâm can mà quyết như vậy. Chúng ta biết rằng, chính quyền Thục Hán có nền tảng chủ yếu do 3 tập đoàn thế lực hợp thành: tập đoàn Kinh Sở con cháu chính thất Lưu Bị chiếm địa vị chủ đạo; tập đoàn Đông Châu của Lưu Chương, thứ sử Ích Châu ngày trước; tập đoàn Ích Châu của địa chủ trong vùng. Tập đoàn Ích Châu kể từ thời kỳ của Lưu Chương đã không còn chiếm vị trí quan trọng trong đường chính sự, luôn ở vào thế bồi thuộc, không đáng ngại. Về điểm này, chúng ta xem trong truyện ký “Tam quốc chí” có thể thấy được ngay, Thục Hán nếu trừ đi các thành viên của vương thất, các nhân tài chí sỹ trong phần liệt truyện có 19 người, chiếm 1/3 nhân vật, lại chẳng có lấy một ai là quan thần đại triều mà chỉ là những quan nhàn thuộc lớp thị lang hay quan lại hạ cấp. Do vậy cần phải suy xét tới vẫn là những vấn đề về tập đoàn Kinh Châu và Đông Châu. Mất yếu điểm chiến lược Kinh Châu; Quan Vũ, Trương Phi lần lượt bại vong rồi trận chiến Di Lăng, một loạt những sự kiện ấy khiến tập đoàn Kinh Sở vấp phải những mất mát to lớn. Trong lúc ấy Lưu Bị bệnh nặng bất xuất, tất nhiên sẽ nghĩ tới cảnh thân mình một khi chẳng còn thì mâu thuẫn giữa 3 tập đoàn này và việc củng cố chính quyền Thục Hán sẽ ra sao. Chúng ta cũng có lý do để tin rằng ông không hoàn toàn tin cậy Gia Cát Lượng và không có những suy xét tính toán riêng. “Ngươi tài gấp 10 phần Tào Phi, ắt trị được nước, định đoạt đại cục. Nếu con ta có thể lao động đường phố trợ được, hãy giúp nó; nếu nó quả tình bất tài, ngươi có thể tự thay mình vào”, Lưu Bị tuy đã dốc hết gan ruột mình như vậy thì Gia Cát Lượng cũng chỉ còn cách “khóc ròng mà thưa”: “Thần những muốn kiệt cùng tận lực, bảo tồn tiết khí trung trinh, đến chết mới thôi!”. Thái độ này cho thấy rõ ông ta chỉ dám tận trung tới chết chứ không dám thay mình vào. Dù có thế nào, vào thời kỳ ấy ông ta không thể nào nhanh nhảu mà trả lời một tiếng “vâng” được cả. Nhưng nếu như vậy, nếu quả ngày sau Lưu Thiện không đủ tài lực và Gia Cát Lượng thực sự muốn thay mình vào chỗ ấy thì ông ta sẽ mang tiếng xấu lao động đường phố tá bất lực, nuốt lời phản chúa. Chính trị, dư luận và cả lòng dân cũng sẽ lưu tội danh “bất thần bất trung bất nghĩa” muôn thuở, rồi bởi thế sẽ đẩy ôg ta vào cảnh bất chốn dung thân. Cho nên Lưu Bị nói lời ấy chẳng nên xét là tin cậy và gửi gắm mà nên xem là một sách lược uy hiếp chế ngự, hay một mưu quyền bất đắc dĩ nội nắm ngoại buông. Một nhân vật quan trọng khác là Lý Nghiêm, vào thời Lưu Chương là nhân vật nổi trội trong tập đoàn Đông Châu. Từ sau khi Lưu Bị vào làm chủ Thành Đô, Lý Nghiêm đã nhiều lần bình định được những cuộc phản loạn lớn chỉ với một thiểu số binh lực, qua đó đã thể hiện được khả năng chính trị và quân sự xuất sắc của mình. So ra mà nói, Gia Cát Lượng chỉ thi triển được tài năng xuất chúng trong chính trị và ngoại giao chứ về quân sự thì không hề có cơ hội lập công. Do vậy Lưu Bị đã quyết định sáng suốt thế này: “Nghiêm và Gia Cát Lượng cùng thụ di chiếu lao động đường phố Thiếu chủ; Nghiêm giám hộ Trung Đô, thống lĩnh việc quân trong ngoài” (1). Trên thực tế, một năm trước khi Lưu Bị lâm chung, năm Chương Vũ thứ 2, thì đã phong Lý Nghiêm làm Thượng Thư lệnh, xét về bậc phẩm thì ngang hàng với Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng lo việc của Thừa tướng, Lý Nghiêm nắm việc quân sự trong ngoài, sự phối hợp này vừa khéo để hai người chế ước cân bằng lẫn nhau tránh lộng quyền. Xem xét từ sự phân phối thực quyền và kết cấu của cơ cấu quyền lực chính quyền nhà Thục Hán cũng làm chúng ta tin rằng người mà Lưu Bị phải phòng tránh lộng quyền, càng không thể là người không chiếm địa vị hàng đầu trong tập đoàn chủ đạo và trong trung tâm quyền lực thời bấy giờ như Lý Nghiêm. Chỉ trong vòng một năm ngắn ngủi, việc thăng cho Lý Nghiêm từ vị trí một quan lại địa phương là Thái thú Kiền Vi lên tới chức Thượng Thư lệnh, lại thêm xuất phát từ sự thăng tiến về chính trị và cơ sở vốn có đã đưa Lý Nghiêm trở thành đại diện của tập đoàn Đông Châu trên thực tế. Sự thực này đã cho thấy Lưu Bị đối với Lý Nghiêm chỉ là cố chế ngự chứ không phải là đề phòng. Lưu Bị nâng chức nhanh như vậy, một anh kiệt mới chưa từng thâm nhập được vào trung tâm quyền lực như Lý Nghiêm lại trở thành một trong hai trọng thần được gửi gắm, lại còn được lệnh “thống lĩnh việc quân trong ngoài”, liên hệ với cách nói “ngươi có thể tự thay mình vào” rõ ràng mục tiêu Lưu Bị phải phòng bị, chế ngự là Gia Cát Lượng là điều không có gì phải bàn cãi. Nhưng mặt khác, một bậc Quân vương như Lưu Bị chắc chắn cũng hi vọng hai người bọn họ có thể toàn tâm hợp lực củng cố vương quyền. Vừa vặn Lý Nghiêm ngoài những ưu thế vừa kể còn có một điều kiện thuận lợi khác, đó là ông là người Nam Dương, “có gốc gác cùng với ông Gia Cát lưu khách từ Từ quận”. Vậy nên Lưu Bị hi vọng hai người này có thể tăng thêm khả năng hiệp trợ ràng buộc, nhờ đó thông qua sự hợp tác của hai nhân vật đứng đầu hai tập đoàn lớn để điều tiết hai tập đoàn, ứng phó với những nguy hiểm có thể lường trước và nhất định sẽ xảy đến một khi Lưu Bị qua đời, hòng củng cố hơn nữa chính quyền Thục Hán. Đáng tiếc là, tính cách và chí hướng nhất quán của Gia Cát Lượng khiến ông ta không thể xét tới Lý Nghiêm và việc cùng Lý Nghiêm phân chia quyền lực, thậm chí đến việc Lý Nghiêm len vào được Thành Đô – trung tâm cơ cấu quyền lực chính trị ông ta cũng bất mãn khôn cùng. Nếu chúng ta không phải những người ngây ngô mà tích cực nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, thì ngay từ thiên “Xuất sư biểu” mà hậu thế vẫn tôn sùng Gia Cát Lượng cũng có thể cảm nhận sâu sắc được đại quyền độc tôn, khuynh đảo triều chính của Gia Cát Lượng lúc bấy giờ. Thấy rõ rằng, ông ta dắt bước chỉ tay từng hành động của hậu chủ Lưu Thiền, thậm chí còn uy hiếp Lưu Thiền. Đồng thời từ thiên biểu đó ta thấy rõ trong lòng ông ta vẫn còn rất nhiều điều phải ưu tư. Mặt khác, chúng ta cũng có thể qua đó để hiểu rõ cuộc đấu tranh quyền lực khốc liệt trong triều đình Thục Hán lúc bấy giờ. Hai trọng thần được gửi gắm, xét theo khía cạnh nào cũng đều phải đóng trụ tại Thành Đô, nhất là cỡ tư lệnh tam quân “thống lĩnh việc quân trong ngoài” như Lý Nghiêm. Đặt giả sử sau khi Lưu Bị chết,Thục Hán lâm vào thế cục đối địch với Đông Ngô thì việc Lý Nghiêm lưu tại Vĩnh An là chuyện tất yếu. Nhưng sau khi Thục Hán cùng Đông Ngô “Ngô vương Tôn Quyền cùng nhà Thục cho quan sang sứ, năm ấy qua lại tốt đẹp” (4) vào năm Kiến Nguyên thứ nhất, nếu vẫn để Lý Nghiêm, trọng thần đã được ủy thác thống lĩnh việc quân trong ngoài”, mọi mặt đều được xếp ngang hàng cùng Gia Cát Lượng tiếp tục ở tại Vĩnh An vùng tiếp giáp với Đông Ngô rõ ràng sẽ gây dị nghị. Nhưng trong tình hình như vậy, vào mùa xuân năm Kiến Hưng thứ tư, Lý Nghiêm lại phải đốc tới thành Giang Châu, tuyến thành trì thứ hai để giáp mặt với Đông Ngô, trước sau vẫn chưa thể về Thành Đô - thủ đô trung tâm quyền lực chính trị. Là người dạn dày giữa chốn quan trường mấy mươi năm, lại có tài lược chính trị quân sự, Lý Nghiêm không thể không hiểu rõ mặt trái của việc ở xa trung tâm quyền lực chính trị. Càng xa rời tập đoàn quan lại của giai cấp thống trị thì sức ảnh hưởng chính trị sẽ càng bị suy giảm, rốt cuộc sẽ dần bị người ta quên lãng. Lại rõ rằng ông không hề tơ tưởng việc tự mình xưng bá một phương nên không có lý nào ông lại tự nguyện xin đi Giang Châu. Xét những hành động sau này ông từng “trùng tu thành lớn, trong vòng 60 dặm… xin về Ba Châu làm vương quận, Thừa tướng Gia Cát Lượng không cho”(3), ta thấy rõ ông rất muốn đứng vào giữa trung tâm quyền lực. Chỉ bởi đã biết không thể vào được Thành Đô nên đành chỉ dám xin “lấy Ba Châu làm vương quận”, tin chắc rằng ông cũng hiểu rõ khả năng được như vậy thấp như thế nào, do vẫy có thể đó chỉ là một cách để ông biểu lộ sự bất mãn mà thôi. Dù thế nào thì, những việc này đều có thể cho thấy ông không phải tự nguyện xa khỏi Thành Đô, bức được ông phải làm việc ấy, trong cả nước Thục duy chỉ có mình ông Gia Cát là làm được vậy mà thôi. Tên gọi hậu thế dành cho hai người này vẫn là “cố mệnh đại thần”, nghĩa là dù xét về chức quan, địa vị chính trị hay phân phối quyền lực cũng cần phải ngang hàng về cơ bản. Nhưng trên thực tế từ ngày Gia Cát Lượng đưa linh cữu Lưu Bị về Thành Đô thì Lý Nghiêm đã bị gạt sang một bên: “Kiến Hưng nguyên niên, phong Lượng làm Vũ Hương Hầu, lập phủ quản chính sự. Không lâu sau, lại cai quản luôn cả Ích Châu. Chính sự không phân việc lớn nhỏ đều nằm gọn về mối Lượng”. (Tam Quốc chí, Thục Thư, Gia Cát Lượng truyện) “Kiến Hưng nguyên niên, phong (Lý Nghiêm làm Đô Hương Hầu, Giả Tiết, thêm cả Quang Lục Huân” (Tam quốc chí, Thục Thư, Lý Nghiêm truyện) Cùng là trọng thần được gửi gắm, Gia Cát Lượng trước đó đã là Giả Tiết, nay được tấn phong là Hương Hầu, được lập phủ, hưởng lộc đất Ích Châu. Tất cả những chi tiết đó mang ý nghĩa rằng ông ta có thể xin với triều đình lập quan lại trong phủ, là đại quan chính trị quân sự cao nhất của Ích Châu, nắm chắc thực quyền trong tay. Trong khi ấy, Lý Nghiêm tuy cũng được tấn phong Hương Hầu, Giả Tiết nhưng vẫn chỉ thêm được cái hư vị Quang Lục Huân, so ra mà xét, rõ ràng bị yếu thế đi nhiều. Nếu chúng ta không phải những người ngây ngô mà tích cực nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, thì ngay từ thiên “Xuất sư biểu” mà hậu thế vẫn tôn sùng Gia Cát Lượng cũng có thể cảm nhận sâu sắc được đại quyền độc tôn, khuynh đảo triều chính của Gia Cát Lượng lúc bấy giờ. Thấy rõ rằng, ông ta dắt bước chỉ tay từng hành động của hậu chủ Lưu Thiền, thậm chí còn uy hiếp Lưu Thiền. Đồng thời từ thiên biểu đó ta thấy trong lòng ông ta vẫn còn rất nhiều điều phải ưu tư. Mặt khác, chúng ta cũng có thể qua đó mà hiểu được cuộc đấu tranh quyền lực khốc liệt trong triều đình Thục Hán lúc bấy giờ. Trong “Xuất sư biểu”, ông ta đề cập trước nhất chuyện trước mắt là mùa thu nguy cấp sống còn, tình thế khó khăn rồi chuyển đoạn viết thành: “dốc lòng mở mang thánh đức, làm rạng ngời di đức của tiên đế, xốc lại tinh thần của chí sỹ, không nên coi thường bản thân, nói ra những lời không xác đáng ngăn trở chúng thần biểu lộ lòng trung nghĩa. Nội cung nội phủ hợp thành một, thưởng phạt phân minh, không được để khác biệt. Nếu có kẻ gây tội hay người trung hiếu thì tuỳ nghi mà luận thưởng phạt theo lý xét phân minh của bệ hạ, không được nương tay làm cho hình pháp trong ngoài không giống nhau”. “Nội cung nội phủ hợp nhất, thưởng phạt phân minh, không được để khác biệt”, câu nói này đã đưa “nội cung” của Lưu Thiền hợp với “nội phủ” của Gia Cát thành “một thể hợp nhất”, cung thất hoàng đế đồng đẳng với phủ đệ thừa tướng. Sau đó lại nói “nếu có kẻ gây tội hay người trung hiếu thì tuỳ nghi mà luận thưởng phạt theo lý xét phân minh của bệ hạ, không được giảm nhẹ làm cho hình pháp trong ngoài không giống nhau”, chẳng qua là một cách yêu cầu rõ ràng hơn nữa, đòi Lưu Thiền đem mọi sự biến tình hình trong cung phải giao lại cho mạc phủ mà ông ta sẽ “lập phủ” ra để cai quản, không cần dùng tới cơ chế quản lý trong cung nữa. Nếu Lưu Thiền không đồng tình thì há chẳng phải đã thành ra “hình pháp trong ngoài không giống nhau” rồi  hay sao, làm vậy thì “bệ hạ” nhà anh sẽ rước vào những hiềm nghi không “mở mang thánh đức”, không “làm rạng ngời di đức của thiên đế, xốc lại tinh thần của chí sỹ”, “coi thường bản thân, nói ra những lời không xác đáng ngăn trở chúng thần biểu lộ lòng trung nghĩa”, “nương tay” lại còn không “phân minh”. Tôi tin rằng sau khi đọc hết chừng ấy tội trạng sẽ sản sinh nếu không đồng tình mà Gia Cát Lượng liệt ra, Lưu Thiền ắt hẳn không dám không thuận theo. Những lời này càng giống như một vị thượng cấp giáo huấn thuộc hạ chứ đâu còn là lời của quần thần với hoàng đế. Ấy thế mà những lời ấy lại khiến Gia Cát Lượng được hậu thế tung hô là thiên cổ đệ nhất thần, là bậc thần tử “nhất thân duy cẩn thận”, chẳng lẽ không phải là kỳ lạ hay sao? Chỉ có điều Gia Cát Lượng cảm thấy chừng ấy vẫn là chưa đủ, sau khi đòi Lưu Thiền chuyển tất cả những sự việc triều chính giao cho mạc phủ của ông ta để xử lý, Gia Cát Lượng còn tiến cử Hướng Sủng tướng quân “để đôn đốc”, nắm quyền cai quản Cận vệ quân của kinh sư, truyền lệnh chỉ cần “việc trong cung đều cần coi sóc giúp ắt có thể khiến đạo đời hoà hợp, ưu việt vạn phần”. Trước đó, nắm chức đầu lĩnh Cận vệ quân bảo vệ hoàng đế là Triệu Vân tâm phúc của Lưu Bị, Lưu Bị coi Triệu Vân là “nghiêm cẩn trọng yếu, tất có khả năng chỉnh trị, đặc trách nắm nội sự”. Sau khi vào Thành Đô thăng lên làm tướng quân Dực quân, Dực – cũng là Vệ, trước sau vẫn là thống lĩnh cai quản an nguy sát sườn Lưu Bị. Vậy mà lúc bấy giờ, Gia Cát Lượng lại điều Triệu Vân xuất chinh, đổi vị trí ấy cho Hướng Sủng là người mình đã tiến cử nâng đỡ. Tuy xét từ một khía cạnh nào đó, việc này cũng là để tận dụng hết sở dụng của Triệu Vân nhưng khi liên hệ với ngữ nghĩa và tình hình lúc bấy giờ trước và sau “xuất sư biểu” thì không thể nói việc này không tiềm ẩn những mục đích khác. “Nếu có kẻ gây tội hay người trung hiếu thì tuỳ nghi mà luận thưởng phạt theo lý xét phân minh của bệ hạ, không được nương tay làm cho hình pháp trong ngoài không giống nhau”, câu nói này rõ rằng có hàm ý, chỉ có điều rốt cuộc đang nói tới ai thì trong thời hiện tại này chúng ta tuy không thể nào biết được, có điều cũng nhân đó mà ta phải phục cái kế không lập sử quan của Gia Cát. Nhắc tới chuyện lập sử quan, chúng ta lại thấy có vấn đề. Tôi nghĩ với một người “làm chính trị thiện nghệ”, có tư duy cẩn toàn lại có tác phong cẩn trọng “đánh hơn 20 gậy là phải đích thân xét quyết” như Gia Cát Lượng không thể nào không biết đến những cái hại của việc không lập sử quan. Hậu quả trực tiếp nhất của việc “nước không có sử quan” ấy là sau khi Thục mất tuy Trần Thọ là đệ tử của Tiếu Chu sử gia nổi danh bậc nhất đời Thục Hán, trong bối cảnh người lúc bấy giờ sửa chữa sử sách, phụng mệnh biên sửa lại “Tam Quốc chí” thì trong đó chỉ có phần Thục thư do “sự vụ lắm mối, bỏ những sách coi là xa xỉ dị kiến”, những tư liệu các loại thiếu hụt trầm trọng khiến cho rất nhiều nhân vật nổi tiếng và quan trọng không thể dựng thành liệt truyện riêng, cuối cùng chỉ mới sửa được một cuốn thì đã hết cách (5). Lại giả dụ khi còn trong tay Lưu Bị, do Thục Hán mới được lập nên, không tính xét được đến việc ấy thì trong một khoảng thời gian dài đương chính của Lưu Thiền, chính quyền ổn định vững chắc thì việc ấy càng cần phải được đề cao. Thêm vào bối cảnh có trong tay vô số nhân tài văn sử kiệt xuất như Lưu Ba, Tần Mật, Tiếu Chu, Hứa Tĩnh…, tự xưng là triều truyền thừa chính tông của nhà Hán mà triều Thục Hán lại vẫn “nước không có sử quan”. Ngần ấy việc làm sao có thể giải thích thông lọt bằng sai sót giản đơn “cũng còn có chỗ chưa chu toàn”, mà nếu từ khía cảnh “sự vụ lắm mối” xét ra thì càng làm người ta nghi hoặc mục đích thực sự của việc “nước không có sử quan” này. Gia Cát Lượng ngoài việc đưa ra những “kiến nghị” mà Lưu Thiền không thể không đồng thuận theo như vậy tất nhiên cũng không quên thu xếp nhân sự chuẩn bị cho việc ông ta rời khỏi Thành Đô bắc phạt. “Thị trung, thị lang Quách Tu Chi, Phí Vĩ, Đổng Duẫn thảy đều dùng được, chí khí trung thuận, được tiên vương di chiếu lại phụng sự bệ hạ. Ngu thần đem những việc trong cung không phân lớn nhỏ đều nghe xét ý quần thần rồi đem thi hành tất có thể bổ khuyết chỗ bất túc, có ích lắm lắm... Thân hiền thần, xa tiểu nhân, ấy là cách Tiên Hán hưng vượng; thân tiểu nhân, xa hiền thần, ấy là cách Hậu Hán khuynh đảo. Ngày Tiên vương còn, mỗi lần cùng thần luận bàn tới việc này đều không đừng được căm hận Hằng Đế, Linh Đế. Thị trung, Thượng thư, Trưởng sử, Tham quân, những đại thần tiết tháo trung trinh này xin bệ hạ gần với họ tin lấy họ thì nhà Hán hưng vượng chỉ còn tính theo ngày mà thôi”.
 
tóm gọn 1 câu cho nó ngắn thế này
GC Lượng vợ xấu nhưng vì thế mới thành tài
thằng dệt chiếu biết tài Lượng vì nhờ người khác "hết lòng" tiến cử=))
 
cái đó cũng không chắc lắm ,gia cát theo lưu bị chẳng qua vì chung đường lối mà thôi ..>>>như nói ở trên ,Đông ngô thuộc dạng "chẳng dám làm to ,đàn bà chỉ rúc ở nhà giữ mả tổ " còn tào tháo thì đa nghi mà gian trá ,với lại cũng có nhiều nhân tài ,gia cát sợ về đó sẽ không thể thể hiện khả năng >>>lưu bị là :one:=))
 
nói chung thế nào thì thế tui thấy Lượng về Bị là 1 sai lầm[-(
nói chung tui chỉ thấy phục Tào Tháo nhất;)) còn Bị thì hồi còn nhỏ đọc truyện ngu ngơ không biết giờ đọc lại lẩm bẩm chửi nó thộn=))
 
lưu bị từ 1 anh bán dép mà trở thành 1 ông chúa toàn cõi thục ,hắn mà thộn thì trên đời này không ai thông hết =)) ,ít nhất về khoản đểu giả ,...CAoCAo phải gọi hắn = thầy:))
 
được thế không phải vì giỏi mà vì bởi danh tiếng của bố với chú nhà nó chứ cái gì, đểu giả thì nhất rồi, ngu ngốc cũng nhất luôn
Cao cao tướng dưới quyền nên nghe thì sẵn sàn nghe, Liu bey thì mù quáng tướng dưới quyền nói gì cũng bỏ ngoài tai nên chết vì nhục=))
 
Status
Không mở trả lời sau này.
Back
Top