Hồi 51: Tào nhân đại chiến quân Đông Ngô
Khổng Minh chọc tức Chu Công Cẩn
- Người thức giả xem chiến cuộc ở Nam Quận mà than rằng: "Sự thắng bại của nhà binh thật không thể nào lương trước được". Sau khi thua trận Xích Bích, Tào Tháo để mật kế lại cho Tào nhân, khiến cho Chu Du vừa đại thắng ở Xích Bích lại phải trúng tên nơi Nam Quận. Đầy đủ chư tướng với tám mươi ba vạn quân mà không thắng nổi Chu Du, thế rồi chỉ một Tào Nhân lại gây hại Chu Du như vậy. Còn Chu Du cầm binh cả Tam Giang không chỗ nào là không thắng, thế mà một nơi Nam Quận lại bị thua. Việc đã lạ lại làm cho chúng ta khó nghĩ.
Như trước kia, Hoàng Cái thắng lớn ở Tam Giang, bị trúng tên té xuống
sông, tức là trong cái thắng lớn có cái thua nhỏ, nay Chu Du bị trúng tên
nơi Nam Quận cũng là cái thắng lớn có cái thua nhỏ. Tào Tháo thua to ở
Xích Bích để lại mật kế lừa được Chu Du tức là Tào Tháo trong cái thua lớn
được cái thắng nhỏ. Tào Nhân bỏ mất Nam Quận tức là sau cái thắng nhỏ bị
cái thua lớn. Ôi, việc đời được, thua khó lường trước nổi. Thế thì con nhà
tướng khi dùng binh lẽ nào thắng lớn mà kiêu, thua lớn mà nản.
- Đọc hồi trước thấy hai nhà Tôn, Lưu hoà hợp, đọc hồi này thấy hai nhà Tôn, Lưu chia rẽ. Thì ra, cùng trong hoạn nạn thì thân nhau, cùng trong mối lợi thì tranh nhau. Nhân tình thế thái là vậy. Như có lúc Tào Tháo kéo quân xuống miềm Nam, khí thế hùng hổ lăm le nuốt chửng Ngô, thì Đông Ngô đánh trận Xích Bích thật không phải vì Lưu mà là vì mình vậy. Đến khi Tào Tháo bỏ chạy, Bắc quân tan rã, Lưu Bị muốn chiếm cả Kinh Châu, Chu Du cũng muốn chiếm lấy Kinh Châu. Chính quyền lợi đã làm cho hai nhà Lưu, Tôn chia rẽ, thật đáng tiếc vậy.
- Khổng Minh nhường cho Đông Ngô lấy Kinh Châu trước thì Huyền Đức lo ngại. Chu Du hứa để Huyền Đức lấy sau thì Lỗ Túc lại lo. Thì ra, Huyền Đức trước kia không muốn cướp đất Lưu Biểu tức là tỏ lòng nhân, nay Lỗ túc không muốn giết Huyền Đức cũng là lòng nhân. Cả hai đều muốn có được Kinh Châu, nhưng lại không muốn mâu thuẫn nhau. Chỉ có Khổng Minh tính toán trước, và Chu Du cũng đã sắp đặt trước.
Khổng Minh thiết kế lừa Chu Du, Chu Du nói để lấy lòng Huyền Đức, cả hai
đều có dự tính riêng về phần mình. Như vậy Huyền Đức, Lỗ Túc không bằng
cái trí của Gia Cát, Chu Du vậy.
- Lữ Bố mở cửa thành Bộc Dương để lừa Tào Tháo. Tào Nhân mở cửa thành Nam Quận để lừa Chu Du. Một bên lừa địch vào thành để đốt, một bên lừa vào thành để bắn. Lữ Bố sai người trá hàng để dụ Tào Tháo, Tào Nhân bỏ chạy để dụ Chu . Nhưng Lữ Bố sai người trá hàng thì rốt cuộc người ấy hàng thật, còn Tào Nhân giả vờ bỏ chạy rồi rốt cuộc cũng bỏ chạy luôn. Trong cái khác biệt lại có chỗ giống nhau, thật là kì sự kì văn vậy.
- Tào Nhân giả thua để lừa Chu Du, Chu Du giả té ngựa hộc máu để lừa tào Nhân, Trước giả sau thật, Chu Du sau này cũng uất khí té ngựa hộc máu thật.
- Chu Du lăn mình vào chỗ chém giết, vất vả cực nhọc, Khổng Minh ngồi không mà đoạt Nam Quận, như thế Chu Du làm sao không hộc máu? Tuy nhiên, Khổng Minh có chỗ biện bạch. Khổng Minh cướp Nam Quận trong tay Tào Tháo chứ không phải trong tay Đông Ngô. Khổng Minh cướp đất của Tào bỏ lại trong lúc ấy Đông Ngô cũng đang muốn cướp, thế thì ai cướp trước được là hơn Chu Du không nên oán trách Khổng Minh như vậy. Vả lại nếu Chu Du chín chắn hơn, trong lúc gạt được Tào Nhân ra ngoài thành để mai phục, sao không sai một đạo binh phục sẵn để chiếm thành, đã sở hở như vậy thì cũng không nên trách Khổng Minh.
- Trong lúc Chu Du lăn mình đánh với quân Tào chính là lúc Khổng Minh điều binh khiển tướng lấy các thành Nam Quận, Kinh Châu và Tương Dương, thế mà tác giả chỉ tả những trận đánh của Ngô, Tào, không nói đến mưu tính của Lưu, thật là lối tả bằng hư bút vậy.
Hồi 52: Gia cát Lượng khéo chối từ Lỗ Túc
Triệu Tử Long lừa mẹo lấy Quế Dương
Đất Kinh Châu là của nhà Hán đâu phải của riêng Lưu Biểu, mà dù của riêng Lưu Biểu thì Huyền Đức lại không có quyền chiếm đoạt sao? Khổng Minh đem việc giúp Lưu Kì giữ đất chẳng qua là một kế hoãn binh. Nếu không hoãn thì đông Ngô sẽ đánh gấp. Mà Đông Ngô giao tranh với Kinh Châu thì Tào Tháo sẽ lợi dụng diệt Lưu không khó gì. Khổng Minh đem việc Lưu Kì với Kinh Châu ra nói với Lỗ Túc chỉ là kế hoãn binh.
- Lúc Huyền Đức chỉ mới lấy được một nửa Kinh Châu, thế mà Chu Du nghe lời Lỗ Túc rút binh về. Sở dĩ như thế là vì Chu Du nghe theo lệnh của Tôn Quyền trở về đánh Hợp Phì. Nhiều người chỉ thấy Chu Du đem thân ra đánh Tào Nhân để cho Lưu bị đoạt ba quận Kinh Châu mà ít người thấy rằng chính Tôn Quyền đánh Hợp Phì cũng là giúp Lưu Bị đoạt Kinh Châu nữa.
- Mã Lương làm biểu tấu xin cho Lưu Kì làm quan mục Kinh Châu để nhân dân Kinh Châu an lòng. Xem thế thì lòng dân Kinh Châu còn mến Lưu Biểu lắm, và những ai theo Tào Tháo cũng chỉ vì thế bức bách vậy. Giả thử Lưu Biểu phó thác con côi mà Huyền Đức đoạt Kinh Châu thì chắc lòng người sẽ không phục Huyền Đức. Lòng người không phục thì sau này Tào Tháo đem binh đánh Kinh Châu chắc gì Huyền Đức giữ được. ấ y vậy Huyền Đức từ chối không lãnh Kinh Châu chưa hẳn đã là vụng tính.
- Có người hỏi: "Người Kinh Châu không quên Lưu Biểu thì người í ch Châu cũng không quên Lưu Chương, tại sao Huyền Đức không chiếm kinh Châu mà lại chiếm í ch Châu?"
Xét rằng: "Kinh Châu là đất Đông Ngô muốn tranh,nên Huyền Đức phải
đưa con bài Lưu Kì ra ăn nói với Đông Ngô, còn í ch Châu, Trương Lỗ không
giám tranh, nên không cần phải để Lưu Chương ngồi làm vì mà chặn Trương Lỗ.
Lúc Tào Tháo đào ao Huyền Võ luyện thuỷ Quân, lòng Tào Tháo đã nghĩ đến
Kinh Châu. Mối lo bên ngoài cấp bách thì Huyền Đức làm sao cho ổn lòng dân,
để kịp cứu nguy bên trong cho được? Còn như lúc Tào Tháo phá Trương Lỗ
chiếm Hán Trung, thì Tháo chưa thể rảnh tay dòm ngó í ch Châu được. Thế thì
mối lo bên ngoài còn xa, Huyền Đức có thể vỗ về, làm cho dân í ch Châu cảm
mến. Vì vậy việc lấy í ch Châu không giống như việc lấy Kinh Châu.
- Huyền Đức lấy dâu Lưu Yên, Triệu Vân không chịu lấy chị dâu Trệu Phạm, thế là Triệu Vân hơn ở Huyền Đức điểm này.
Trương Tú lấy việc Tào Tháo ái ân với thím mình làm điều sỉ nhục, còn
Triệu Phạm tình nguyện dâng chị dâu cho Triệu Vân, thì tư cách Tiệu Phạm
không bằng Trương Tú.
Triệu Phạm yêu mến Triệu Vân nên kết nghĩa, gả chị dâu là muốn cho thâm
tình mà lại hoá ra xa. Triệu Vân giận Triệu Phạm, có vẻ như muốn xa Triệu
Phạm, mà kì thật lại rất thân.
- Đọc truyện Triệu Vân vào Quế Dương không thể nhịn cười được. Giữa lúc quân hai bên đang hăm hở dánh nhau thì quan thái thú Triệu Phạm lại dẫn Triệu Vân vào chốn nhà hương tiệc ngọc, mời trang quốc sắc ra chào. Trong binh lửa lại nhen tình chăn gối. Tiếc thay, Triệu Vân quá khuôn phép, khiến cho giai nhân có một trên đời mà phải vén tay áo bỏ vào rèm trong.
Thì ra, Triệu Vân vẫn học đòi Quan Công cầm đuốc, chứ không phải bắt
chước khách đa tình Tào Thực. Câu chuyện thật thú vị.
Hồi 53: Quan Vân Trường tha Hoàng Trung không giết
Tôn Trọng Mưu đánh Trương Liêu bị thua
Khổng Minh chiếm bảy quận Kinh Tương, ba quận trước dùng mẹo đánh úp, bốn quận sau phải tấn công. Trong bốn quận sau có hai quan thái thú ra hàng, hai quan thái thú bị giết. Lối thuật chuyện rất khúc chiết và mạch lạc, rất kì thú.
- Quan Công không giết Hoàng Trung là vì hiếu thắng chứ không phải là vì lòng bác ái từ bi. Quan Công cho rằng tướng ngã ngựa mà còn chém không phải khí phách của một anh hùng.
ở đây Vân Trường đã lấy nghĩa tha Hoàng Trung, sau này lại có Trương Phi
lấy Nghĩa tha Nghiêm Nhan. Hồi này lại có chuyện Hoàng Trung bắn chỏm mũ,
không nỡ giết Quan Công, nhưng trước đây có chuyện Triệu Vân bắn đứt dây
buồm không nỡ giết Từ Thịnh.
Bốn viên đại tướng đều có một khí phách và hành động khác thường.
- Văn kí sự phải có mạch lạc, tương ứng để mắc mối dây. Như việc Ngụỵ Diên giết Hàn Huyền dâng Trường Sa cho Huyền Đức, hồi này đã ứng việc Ngụỵ Diên đánh nhau với Văn Sính trên thành Tương Dương trước kia. Việc Ngụỵ Diên làm phản sau này, khi Khổng Minh chết... Đã được việc Khổng Minh thét chém Ngụỵ Diên ở hồi này mắc sẵn mối dây. Trong truyện Tam Quốc chí diễn nghĩa có biết bao nhiêu người, bao nhiêu việc, mà khéo ở chỗ được chắp nối, đáp ứng rất khéo, trăm hồi như liền một câu vậy.
- Hoàng Trung là một vị đại tường của Lưu Bị sau này, thế mà sau hồi này mới xuất hiện, và được tác giả tả rất tỉ mỉ.
Quan Công đến mời Hoàng Trung ấy là người trọng nghĩa. Hoàng Trung xin
chôn Hàn Huyền cũng là người trọng nghĩa, và việc phong Lưu Bàn làm thái
thú ấy cũng chính là người không vong bản.
Hoàng Trung không những anh dũng hơn người mà còn có nhân cách rất cao,
cho nên người đời sau đặt Hoàng Trung ngang hàng với Quan, Trương, Triệu
cũng là phải lắm.
- Kể chuyện Huyền Đức lấy thêm bốn quận xong lại kể tiếp chuyện Tôn Quyền lấy Hợp Phì. Đó là thời gian Huyền Đức lấy Hán Thượng chính là thờ gian mà Tôn Quyền đánh Hợp Phì, kêu Trình Phổ về giúp sức. Nếu Trình Phổ không rút quân thì làm sao Huyền Đức lấy trọn bốn quận sau đó được. Cho nên kể việc Tôn Quyền đánh Hợp Phì cũng tức là làm tỏ rõ việc Huyền Đức thôn tính Kinh Châu vậy .
- Xem cái việc Trương Liêu đánh lui Đông Ngô giữ Hợp Phì đủ biết Trương Liêu có đủ tài làm tướng. Trước đây, Trương Liêu bắn Hoàng Cái chỉ mới là việc tỏ tài năng ở chiến trường. Hồi này mới chính là lúc Trương Liêu tỏ được tài làm tướng của mình.
Trương Liêu có ba đức: "Thận, định, mưu". Đã thắng trận mà còn lo đề
phòng ấy là thận trọng. Nghe có loạn mà không rối loạn trong lòng ấy là
bình tĩnh, quyết định. Thừa cơ tương kế tựu kế để dụ địch, ấy là mưu, cho
nên, Trương Liêu được nể vì, Quan Công kết giao làm bạn là phải. Vì chỉ có
tay tướng mới biết nổi đại tướng. Việc tha cho Hoàng Trung tỏ rõ thần võ
của Quan Công, việc giao tế với Trương Liêu tỏ rõ Quan Công có mắt tinh
đời.
- Chu Du phá nổi Tào Nhân mà Tôn Quyền không phá nổi Trương Liêu. Như thế không những kiến thức của Trương Liêu hơn Tào Nhân mà Tôn Quyền kiến thức còn kém Chu Du vậy. Thử hỏi một tên vô danh tiểu tốt như Qua Định làm sao đốt lửa mở cửa thành và giết nổi chủ tướng.
Chúa vì khinh suất mà suýt vong thân, bầy tôi lại khinh suất mà bỏ mạng.
Than ôi, Chu Lang có mặt ở trận chiến Hợp Phì thì dù không hạ nổi thành đi
nữa, Thái Sử Từ cũng không đến nỗi chết uổng vậy.
Hồi 54: Ngô Quốc Thái đến chùa xem rể hiền
Lưu Hoàng Thúc động phòng cưới vợ mới
- á ng văn chương kì diệu đến những chuyện khánh tiết, tang chế, hôn nhân cũng kì diệu. Những chuyện hung, cát giữa chốn binh đao không lấy gì lạ, những chỗ rừng gươm mà tả được cảnh hoa chúc mới là hay. Đọc hồi này ai cũng phải công nhận cái bất ngờ thú vị.
- Coi việc Tôn Quyền sai Lỗ Túc đi điếu tang mà than rằng: Nhân tình thế thái đời nay đều như thế cả. Lần trước, Tôn Quyền phúng điếu Lưu Biểu không phải vì Lưu Biểu mà phúng điếu đâu, chính là vì Lưu Bị vậy. Lần này Tôn Quyền lại điếu Lưu Kì, nhưng không phải vì Lưu kì mà chính vì Kinh Châu. Ôi, cái lễ điếu thường thường vì người chết mà ở đây lại hoàn toàn vì người sống. Điếu tang là việc vị tha mà té ra lại là việc vị kỉ. Nếu điếu tang mà không có lợi gì cho mình thì chắc gì Tôn Quyền đã làm? cái thói đời như thế há riêng gì Đông Ngô? Đời nay những kẻ thù tạc đáp lễ với nhau nên lấy chuyện Đông Ngô làm gương...
- Khi Lưu Kì còn sống, Khổng Minh lấy Lưu Kì từ khước Lỗ Túc, đến khi Lưu Kì chết, Khổng Minh lại lấy việc Tây Xuyên ra từ khước. Nhưng hai lần từ khước, Khổng Minh có hai thái độ khác nhau. Lần trước Khổng Minh mềm mỏng, lần sau cố dùng lí lẽ để cho hết lời cãi vã.
- Trước kia Khổng Minh đem bài phú Đổng Tước đài để khích Đông Ngô, nay Khổng Minh lại lập kế làm cho kế của con bị mẹ phá hỏng, kế của chàng rể bị bố vợ phá mất. Dùng ngay người nhà người ta để sai người ta thì Khổng Minh quả thật dã cao mưu lắm.
- Viên Thuật sai Hà Dận đi làm mai kết thân với Lữ Bố, Hà Dận đi làm mai thật mà việc không thành. Tôn Quyền sai Lã Phạm đi làm mai cho Lưu bị. Lã Phạm đi làm mai giả mà việc thành. Nhưng xét kĩ thì Lã Phạm không phải ông mai, Tôn Càn cũng không phải ông mai, chính Kiều Công mới thật là ông mai vậy. Mà Kiều Công lại do Khổng Minh sai khiến, thế thì cuộc hôn nhân này do Khổng Minh làm làm mối đó.
- Lưu Huyền Đức qua giang tả cầu hôn, chỉ đến nhà "Ngoại Thái Công" của nước Ngô thắp nén hương mà tránh được mọi cản trở. Nhờ uy thế của mẹ chàng rể được thẳng tay bắn sẻ, cửa thiền hoá ra cầu lam, khiến cho Tôn Quyền lòng độc ác thế kia, Chu Du kế sách dường ấy mà cũng đành phải bó tay. Thật là lí thú.
Hồi 55: Huyền Đức khéo léo, nói khích Tôn phu nhân
Khổng Minh hai phen trêu tức Chu Công Cẩn
- Vương Doãn dùng "mĩ nhân kế" lừa cả Đổng Trác và Lữ Bố, và chỉ lừa có một lần mà thành công. Còn Chu Du dùng "mĩ nhân kế" lừa một mình Lưu Bị, mà lừa đến hai lần vẫn thất bại. Vương Doãn dùng thật, Chu Du trước dùng giả để gạt Lưu bị, sau lại dùng thật để ru ngủ Lưu Bị. Hai lối dùng tuy giống mà khác nhau xa.
- Tôn phu nhân dồn binh khí trong phòng mà Lưu Bị sợ, không phải sợ binh khí mà chính là sợ cái bà vợ ham thích binh khí vậy. ở đời này có nhiều ông chồng vợ không thích binh khí mà cũng phải sợ, ấy bởi vì tuy người vợ không có dàn binh khí bên ngoài mà chính trong lòng chứa đầy khí giới vậy.
- Khổng Minh dùng kế tuyệt diệu, đã mượn bà mẹ Tôn Quyền và ông bố vợ của Chu Du tác thành việc hôn nhân cho Huyền Đức, mà còn dùng ngay em gái của Tôn Quyền giúp Huyền Đức trở về Kinh Châu nữa. Đã mượn được quốc thái, mượn được quốc lão, mượn được phu nhân thì còn khó gì mà không được Kinh Châu?
- Tôn phu nhân kết duyên với Huyền Đức cũng giống như Tề Khương kết duyên với Trùng Nhĩ. Hai vị nữ Lưu này đều thuộc vào hạng trượng phu. Trùng Nhĩ không muốn về thì Tề Khương khuyên về, Huyền Đức muốn về thì phu nhân đưa về. Vì sự nghiệp của chồng là lẽ phải.
- Huyền Đức đứng trước xe tỏ lời thống thiết để nhờ Tôn phu nhân che chở, chẳng khác hàng nữ lưu làm nũng với đức lang quân, Trái lại Tôn phu nhân tỏ vẻ khí khái trước nguy biến chẳng khác một trượng phu. Sự việc thật li kì, thú vị.
- Lữ Bố đưa con gái về nhà chồng không xong là vì bị Tào Tháo đón đường, Tôn Quyền đuổi bắt em gái không xong là tại vì Khổng Minh cao kế. Viên Thuật đem quân đi đánh đòi con dâu không xong mà thiệt mất ông mai, Tôn Quyền không giết được em rể mà còn biếu không một cô em, sự việc trước sau rất kì thú.
Hồi 56: Tào Tháo mở tiệc mừng đài Đồng Tước
Khổng Minh ba lần trêu tức Chu Du
- ở Xích Bích Tào Tháo làm thơ khi còn chưa thua, ấy là thích thú mua vui. ở Đồng Tước đài, Tào Tháo vừa thua trận Xích Bích lại mở đại yến, đó là để giải buồn. Khi chưa thua thì lời lẽ kiêu căng, khi thua rồi thì lời lẽ đâm ra khiêm tốn. ấ y vậy câu nói: " Chỉ mong được ghi chữ Tào hầu trêm mộ..." chính là lời nói gian dối của kẻ gian hùng sau khi lượng sức mình không làm được ước vọng. Tháo không muộn chỉ lừa người thường mà muốn che mắt cả người đời sau nữa. Tháo nổi tiếng là"Lão Man" cũng phải lắm.
- Tháo coi Lưu Bị được Kinh Châu như rồng gặp nước. Ngay ở cái hồi uống rượu "thanh mai", Tháo đã ví Lưu Bị với rồng rồi. Trước kia, một con rồng gặp nước, một con rồng chưa gặp nước, con rồng chưa gặp nước thì bó tay khuất phục dưới con rồng gặp nước. Tháo lấy đất Duyện, đất Hứa làm nước, còn Lưu bị lấy Kinh Tương làm nước. Nhưng Lưu Bị được Kinh Châu còn là chuyện mượn, sau lấy được Tây Xuyên mới thật là gặp nước.
Khác với Tào Tháo, Lưu Bị không lấy việc được Kinh Châu hay Tây Xyên
làm gặp nước, mà lấy việc được Khổng Minh làm gặp nước. Nếu lấy Khổng Minh
làm "nước" thì lúc Huyền Đức chưa lấy Kinh Châu đã gặp nước rồi.
Hơn nữa, Khổng Minh có tên là "Ngoạ Long" (rồng nằm) thì Huyền Đức gặp
Khổng Minh là gặp nước rồi. Khổng Minh gặp Huyền Đức cũng như rồng gặp
nước nữa.
- Tôn Quyền xin cho Lưu Bị Làm Kinh Châu mục không phải là liên kết với Bị, chính là muốn cho Tào Tháo ghét Bị vậy. Nhường cái chỗ mình muốn cho kẻ khác để rồi lợi dụng mâu thuẫn thanh toán sau, đó là kế sâu độc lắm. Tào Tháo phong Chu Du làm thái thú Nam Quận không phải sợ Du mà chính là sợ Bị đó.
- Lỗ Túc đi đòi Kinh Châu ba lần, Khổng Minh khước từ Lỗ Túc ba bận.
Trước hết đem việc Lưu Kì ra khước từ, sau lấy việc Tây Xuyên ra từ chối,
cuối cùng lại đem việc không nỡ lấy Tây Xuyên ra thoái thác. Trước không
chịu lấy Tây Xuyên, sau lại lấy Tây Xuyên, đó là việc dối gạt.
Cũng như Tôn Quyền muốn chiếm lại Kinh Châu mà lại dâng biểu xin cho Lưu
Bị làm Kinh Châu mục. Tất cả đều là giả dối.
Bên này giở trò dối trá, bên kia giở trò dối gạt cũng chỉ vì muốn đấu chí
nhau mà thôi.
Hồi 57: Cửa Sài Tang, Ngoạ Long đến viếng tang
Huyện Lỗi Dương, Phượng Sồ quản công việc
- Lúc thiên hạ rối loạn, nhân tài đua nhau xuất hiện. Thời Tam Quốc không chỉ có một Khổng Minh mà có cả Chu Du, Lỗ Túc, Lữ Mông, Lục Tốn ở bên Tôn Quyền, lại có bọn Quách Gia, Trình Dục, Tuân Du giúp Tháo. Người Tài đối chọi với người tài thì mới thấy cái hay trong thế chiến. Cho nên Chu Du lúc chết than một câu: "Trời đã sinh Du sao còn sinh Lượng". Câu nói ấy ngẫm thật lí thú.
- Khổng Minh khóc Chu Du có câu: "Từ nay trên đời còn ai là tri kỉ".
Câu nói ấy Khổng Minh đã cho rằng trên đời không phải chỉ những người yêu
mình, sợ mình là tri kỉ, mà chính những kẻ ghét mình, nhưng biết được tài
mình là tri kỉ nữa.
- Việc Bàng Thống chạy tới Kinh Châu, Từ Thứ tìm đến Tân Dã để xin giúp Huyền Đức, so với việc Khổng Minh nằm khểnh tại nhà, chờ mời ba làn mới đến, thật khác nhau xa.
Từ Thứ tuy giúp Lưu, nhưng trước đã muốn giúp Tôn. Thế thì hai người này
không quý bằng Khổng Minh. Khổng Minh trước sau chỉ một lòng vậy.
Tuy nhiên, Bàng Thống được hai phong thư tiến cử, mà lúc đến yết kiến
Huyền Đức không chịu đưa, chứng tỏ Bàng Thống cũng biết tự trọng lắm.
- Tôn Quyền đã mất Chu Du lại mất cả Bàng thống, đó là điều thiệt thòi.
Huyền Đức đã được Khổng Minh lại được Bàng Thống nữa, đó là lợi thế.
Chu Du không tiến cử Bàng Thống, mà Lỗ Túc tiến cử Bàng Thống giúp Lưu Bị,
Thế thì không những tài biết người của Lỗ Túc hơn Chu Du mà tâm lí của Lỗ
Túc cũng khác Chu Du nhiều.
- Sau khi bọn Đổng Thừa vâng "Y đái chiếu" lập bản nghĩa trạng thì bẵng đi một thời gian. Đến lúc Mã Đằng dấy binh về kinh mới nhắc lại. Như vậy câu chuyện vẫn được mạch lạc trước sau.
- Đọc truyện ta có thể xem chuyện sau mà đoán được việc trước. Tào Tháo giết Miêu Trạch, khiến cho ta nghĩ rằng trước kia thế nào cũng giết Tần Khánh Đồng trong bóng tối, chứ không dung đâu. Tào Tháo giết cả nhà Hoàng Khuê không tha một mạng, lẽ đâu Tào Tháo lại tha một tên gia nô phản chủ như Tần Khánh Đồng.
Kẻ tiểu nhân dĩ nhiên không bao giờ tha kẻ quân tử, mà chính chúng cũng
không chịu tha nhau, mặc dù chúng kết bè kết cánh với nhau, nhưng rồi cũng
mưu hại nhau. Câu chuyện hồi này chính là tấm gương để răn bọn tiểu nhân
đó.
Hồi 58: Mã Mạnh Khởi cát quân báo thù
Tào A Man cắt râu, vứt áo
Chu Du còn sống thì Tôn, Lưu chia rẽ, Chu Du chết thì Tôn , Lưu hợp. Tào Tháo còn động binh thì Tôn, Lưu hợp nhau chống, Tào Tháo lui thì Tôn, Lưu chia rẽ. Đó là cái thế li hợp vì quyền lợi chung của hai nhà vậy.
Rồi đến lúc Tôn vừa mượn Lưu để chống Tào thì Lưu lại mượn Mã để chống
Tào. Sự việc thật là li kì.
Hàn không nghe lời chống Mã, mà Mã lại hợp với Hàn để chống Tào. Sự việc
còn li kì hơn.
Đến như Lưu không giúp Mã mà Hàn lại giúp Mã, Lưu không ước hẹn Hàn mà Táo
lại ước hẹn Hàn, Mã không phải cứu Tôn mà hoá cứu Tôn, mã không hưởng ứng
Lưu mà hoá ra Lưu dùng được sức Mã, việc lại không thể lường được.
- Tào Tháo, Tôn Quyền đánh báo thù cha, không phải vì vua, thế là việc tư, Mã Siêu tuy vì cha mà báo thù, những cũng lại vì vua nữa. Thế là Siêu vì việc công. Mã Đằng vì tờ "Y đái chiếu" mà chết là một trung thần. Mã Siêu vì thù cha khởi binh là hiếu tử, mà cũng là trung thần nữa, thế mà có những cuốn sử trước đây chép lầm Siêu là giặc, là kẻ phản thì thật ngoa vậy.
- Tào Tháo, Tôn Quyền, Mã Siêu đều báo thù cha, nhưng Tháo thì không giết nổi Đào Khiêm chỉ vì nghe tin Lữ Bố kéo quân đánh Duyện Châu mà phải lui về. Tôn Quyền báo thù cha đã không giết nổi Lưu Biểu mà còn phải sai Lỗ Túc đi điếu tang, chỉ có Mã Siêu, tuy không giết được Tháo nhưng đã đâm mũi giáo vào thân cây, bắn những phát tên như mưa găm vào yên ngựa, làm cho Tào Tháo phải vỡ mật kinh hồn, như vậy cũng thoả mãn phần nào vậy.
- Xem việc Tào Tháo cắt râu, cởi áo, kẻ hiểu việc đều cho rằng đó chính là cái uy của nhà Hán đó. Nếu không có tờ "Y đái chiếu" thì Mã Đằng không chết thì Mã Siêu không khởi binh. Vì có việc nhà vua cắt ngón tay lấy máu viết chiếu nên mới có việc Tháo Cắt râu, vì nhà vua cởi đai áo mà Tào Tháo phải vứt áo bào đi vậy.
- Tào Tháo làm trận có Tào Hồng, Hứa Chử cứu. nhưng Tào Hồng, Hứa Chử không bằng Đinh Phỉ. Tào Hồng, Hứa Chử chỉ dùng sức mạnh, đột pháo xông tên, không giải nguy nổi, còn Đinh Phỉ chỉ ngồi trên núi thả trâu ngựa ra mà quân giặc hỗn loạn phả rút đi. Thế thì sức mạnh của Tào Hồng và Hứa Chử thực không bằng Đinh Phỉ vậy.
- Trong lúc Mã Siêu đánh Đồng Quan,, nếu Tôn Quyền, Lưu Bị thừa cơ đánh úp Hứa Đô thì thóng khoái biết bao nhiêu, thế mà cả Tôn Quyền, Lưu Bị không ai dám làm việc ấy.
Sở dĩ Tôn Quyền không dám đánh Hứa Đô là vì lúc này Đông Ngô đang chủ tâm
dòm ngó Kinh Châu hơn là Trung Nguyên. Bởi vậy, một cái thành Hợp Phì nhỏ
hẹp mà Đông Ngô vẫn để yên cho Tào Tháo đóng quân, không động đến.
Còn Lưu Bị thì lúc này cái đích chính là chiếm Tây Xuyên, bành trướng thế
lực, vì vậy, không bên nào nghĩ cơ hội Mã Siêu đánh Tào.
- Hồi ở Xích Bích, Từ Thứ đã xin một đoàn quân về giữ Đồng Quan, phòng quân Tây Lương, nhưng đến hồi này lại thấy Trung Do giữ Trường An rồi giữ Đồng Quan, không nói đến Từ Thứ là tại làm sao?
Bởi vì, Từ Thứ đã thề trọn đời không thi nhất kế, nếu Từ Thứ có mặt nơi
Đồng Quan cũng chỉ mượn chốn an thân, không dính dự vào mưu lược nào. Và
sau trận Xích Bích chẳng ai còn biết Từ Thứ đâu nữa.
Hồi 59: Hứa Chử cởi trần đánh Mã Siêu
Tào Tháo xoá thư lừa Hàn Toại
- Mã Siêu là một trong năm vị hổ tướng của nớc Thục sau này. Hồi này tuy Mã Siêu chưa vào Thục, nhưng đã được tác giả diễn tả tài năng của Mã Siêu rất tỉ mỉ. Trước khi tả cái sức mạnh kinh thiên của Hứa Chử, sau này tác giả đem Hứa Chử đối với Mã Siêu để làm nổi bật sức mạnh của Mã Siêu vậy. Tuy nhiên, Mã Siêu, Hứa Chử chỉ có sức khoẻ mà thôi. Mã Đằng dấn thân vào hang cọp phài thiệt thân, trung nghĩa có thừa nhưng mưu lược còn kém. Mã Siêu chỉ biết cậy oai cọp của mình, cũng là hạng có sức khoẻ mà thiếu mưu.
- Phép dùng binh khéo ở chỗ li gián. Thắng một người thì khó mà thắng hai người thì dễ, chỉ vì nhiều người chừng nào thì nghi kị nhau chừng ấy. Để hai người một chỗ thì khó phá, phân hai người ra mỗi người một nẻo thì dễ phá hơn. Mã, Hàn còn đống một chỗ thì không thể li gián, Mã Hàn chia ra hai nơi thì Tháo li gián được.
Tuy nhiên, nếu Tháo chỉ việc dùng nói bâng quơ trên ngựa thì cũng chưa
đạt được mục đích, chính bức thư xoá bỏ nhiều đoạn mới là cái cốt yếu,
tăng ý nghĩa câu chuyên đầu ngựa.
Trước khi chém sứ của Tháo, Hàn Toại đã cho Mã Siêu xem một lá thư. Có
lá thư hồi ấy thì lá thư hồi này mới đáng nghi.
Khi cắt đất giải hoà, Hàn Toại cũng viết một bức thư, có thư di thư lại
càng tăng vẻ nghi kị của Mã Siêu hơn.
Tháo sở dĩ làm cho Mã Siêu nghi Hàn Toại được là vì Tháo thông hiểu phép
phản gián trong binh pháp vậy.
- Chu Du lừa Tưởng Cán khéo ở lúc đêm tối, Tào Tháo li gián Hàn Toại lại khéo ở lúc ban ngày. Lá thư Tưởng Cán khéo ở chỗ rõ ràng minh bạch. Lá thư Hàn Toại khéo ở chỗ bôi xoá, vu vơ. Những tiếng thầm thì trong trướng của Chu Du có vẻ tối quan hệ và khẩn cấp, còn những lời Tào Tháo nói với Hàn Toại trên yên ngựa toàn là vu vơ không có ý nghĩa gì. Phép lừa dối hai bên đều kì diệu, nhưng mỗi bên có một tính chất khác nhau.
- Trong thiên hạ làm gì có chuyện hai bên dàn quân đấu chiến mà gặp nhau không nói đến chuyện binh cơ? Trong thiên hạ cũng không bao giờ có chuyện sai sứ đem thư lại gửi đi bản thảo. Rõ ràng là mưu li gián, thế mà Hàn Toại vẫn không biết, lại trả lời với Mã Siêu một cách vu vơ như thế thì bảo Mã Siêu không nghi làm sao được? Việc li gián tuy do Tháo gây nên, nhưng một phần do Hàn Toại u tối, nên mới hại đến Mã Siêu.
- Mã Siêu chặt tay Hàn Toại cũng như tự chặt mất một cánh tay của mình.
Mã Siêu đã nghi ngờ Hàn Toại thì Hàn Toại còn cách nào hơn là phải đầu
Tháo. Hai người hợp lực nhau, nếu đã lìa nhau thì Tào Tháo thủ thắng là
việc dĩ nhiên.
- Việc binh của Tôn Quyền do đại đô đốc quyết đoán, việc binh của Lưu Bị do quân sư quyết đoán, chỉ có Tào Tháo là tự mình cáng đáng việc binh cơ, tuy có mưu sĩ giúp sức, nhưng quyết định cuối cùng vẫn do Tháo. Tháo tỏ ra xuất sắc hơn bề tôi, thế thì Tôn Quyền và Lưu Bị không thể bì với Tháo nổi.
- Mỗi khi Tháo dự tính một âm mưu gì, các tướng đều không hiểu ra sao cả, cho đến lúc xong việc, Tháo mới đem giải thích cho các tướng hiểu, và ai cũng khâm phục. Vì vậy vua Đường có đề trên mộ Tháo một câu: "Nhất tướng chi trí hữu dư. Lương nhiên! Lương nhiên!" Thật cũng phải lắm.
- Cuốn Mạnh Đức tân thư không được truyền lại đời sau, có người thấy thế tiếc chăng? Nếu tiếc tức là không hiểu cái lẽ "Binh bất tại thư" (việc dùng binh không căn cứ ở sách vở).
Dù sách có truyền lại, nhưng cái ý trong sách ai mà truyền được. Nếu xem
sách mà biết chế biến thì sách cũ cũng thành mới, còn nếu cứ khư khư theo
sách, không biết áp dụng tuỳ thời thì sách mới cũng thành cũ. Hiểu được
cái mầu nhiệm trong sách thì không dùng sách cũng giỏi, không hiểu được
mầu nhiệm trong sách thì dùng sách có ích gì? Cho nên người giỏi dùng binh
không căn cứ vào những nguyên tắc cố định của sách vở. Tào Tháo làm sách,
Khổng Minh không làm sách, thế mà Khổng Minh dùng binh có thua Táo Tháo
đâu?
- Trương Tùng ngấm ngầm đem cả Tây Xuyên dâng cho Tào Tháo thế mà Tháo không nhận nổi. Huyền Đức vì khiêm tốn mà được. Trước kia Hứa Du cũng ăn nói ngạo nghễ với Tháo, mà Tháo nhịn được, chỉ vì lúc ấy Tháo chưa phá được Viên Thiệu, nên Tháo phải ép mình nhẫn nhục. Trương Tùng cũng ăn nói ngạo nghễ với Tháo, nhưng Tháo nổi giận, vì lúc này Tháo đã phá được Mã Siêu , uy thế đang lên. Con gười lúc tự mãn tâm ý khác hẳn lúc còn lận đận.
- Văn hay ẩn hiện một cách phi thường. Như việc Trương Tùng bước chân đến Kinh Châu, độc giả chỉ thấy Triệu Vân, Quan Công, Huyền Đức đón tiếp Trương Tùng, tác giả không nói đến Khổng Minh, nhưng độc giả ai cũng hiểu mọi kế hoạch đều do Khổng Minh bố Trí cả. Văn tự như thế mới thuần diệu.
- Khổng Minh trong lòng rất thèm muốn Tây Xuyên, nhưng lúc Trương Tùng đem Tây Xuyên đến bán, lại xui Huyền Đức giả cách không thiết. Ba ngày tiệc tùng không nói gì đến việc Tây Xuyên cả. Cho đến lúc tiễn biệt, Trương Tùng không chịu nổi phải thổ lộ tâm tư. Khổng Minh chẳng khác nào mậu dịch giỏi đời nay, muốn vậy ấy, nhưng làm ra cách thản nhiên, dợi người mời mọc mới mó đến.
- Cái bức địa dồ Tây Xuyên ngay lúc Khổng Minh ở lều tranh đã vạch ra rồi, sao lại còn cần đến bức địa đồ của Trương tùng? Xin thưa: bức địa đồ của Khổng Minh vạch ra chẳng qua là đại lược, còn bức dịa đồ Trương tùng mời là chi tiết, trong đó chẳng những rành về đường lối mà còn chỉ rõ các chỗ đóng quân, chứa lương nữa. Nếu không có bản đồ ấy không thể vào một nơi hiểm trở như Tây Thục được.
Vả lại, có bản đồ cũng chưa đủ, muốn vào Tây thục còn phải có người đón
rước, dẫn đường nữa mới được.
Cái mưu đón rước Trương Tùng là do Khổng Minh bàn ra, thế mà mưu kế lấy
Tây Xuyên lại do Bàng thống làm chủ, là ý thế nào?
Đó là Khổng Minh xem việc giữ Kinh Châu là trọng. Kinh Châu hai mặt bị
Tào tháo, Tôn Quyền dòm ngó, nên phải cố thủ kĩ càng, nếu để mất đi thì
Huyền Đức đánh chiếm Tây Xuyên không được sẽ biết về đường nào? Khổng Minh
đã giữ lấy chỗ căn bản để làm bàn đạp tiến vào Tây Xuyên đó.
___________________________
Hồi 61: Triệu Vân chặn sông giằng lại A Đẩu
Tôn Quyền đưa thư thoái được Tào Man
- Chủ tâm Huyền Đức muốn lấy Tây Xuyên, nhưng nếu thừa lúc Lưu Chương ra đón mà giết đi thì lòng dân Tây Xuyên không phục. Vì thế Huyền Đức không muốn làm.
Bàng Thống khuyên Huyền Đức không được nên muốn tự mình làm lấy, để tránh
tiếng ác cho Huyền Đức. Nhưng như thế vẫn không ổn. Mếu có Khổng Minh ở
đây tất Khổng Minh không làm như vậy. Cho nên, tuy mưu trí Bàng Thống
không kém Khổng Minh, mà xét về chủ trương thì Bàng Thống không bằng Khổng
Minh được.
- Trong đời người anh hùng chỉ làm được một việc xuất sắc thì đã nổi tiếng muôn đời rồi. Thế mà trong Tam Quốc có những bậc anh hùng làm được nhiều việc phi thường cùng một lúc. Xét như Quan công, người đời thường chỉ nhắc đến việc "đơn đao phó hội" mà quên rằng trước đó, Quan Công đã đi phó hội Giang Đông với Huyền Đức một lần rồi.
Mỗi khi ca tụng Triệu Tử Long thì người ta chỉ nói đến việc "lao động đường phố ấu chúa
nơi Đương Dương, Trường Bản" mà quên rằng sau đó Triệu Tử Long còn triệt
giang đoạt ấu chúa nữa.
Chúng ta đọc qua sử sách ngàn xưa, tìm những anh hùng xuất sắc, chỉ thấy
mỗi đời có một người, mỗi người làm dược một việc, chứ đời náo có những vị
anh hùng như nhân vật Tam Quốc.
- Tôn phu nhân khi ở Kinh Châu thì Tôn Quyền bị mẹ kiềm chế. Nếu A Đẩu sang Ngô, thì Huyền Đức sẽ bị Tôn Quyền kiềm chế.
Thông minh như Tôn phu nhân tại sao không biết được việc Đông Ngô lừa
phỉnh bồng A Đẩu về Ngô?
Dẫu quốc thái có đau thật thì việc đem A Đẩu về ngô cũng không phải do ý
quốc thái. Việc đem A Đẩu về Ngô đã không do ý quốc thái thì việc gọi phu
nhân về cũng phải giả dối.
Xét lại những hành động của phu nhân lúc theo Huyền Đức về Kinh Châu thì
quả là bậc nữ lưu, nhưng xét về sau này thì lại thấy kiến thức của phu
nhân không hơn gì hạng nữ nhi thường tình.
Tuân Húc tự tử, có người cho rằng: Húc sát thân để thành thân.
Nhận xét như thế e không đúng. trước kia Tuân Húc đã khuyên Tháo chiếm
Duyện Châu và đã ví Tháo với Hán Cao Tổ, Quan Vũ. Đến khi gửi thư khuyên
Tháo cố đánh trận Quan Độ, Húc lại ví trận ấy như trận Hán, Sở tranh hùng.
Rồi bất cứ mưu mẹo gì do Húc bày ra cũng đều nhắm việc giúp Tháo quyền
nhiếp triều đình cả. Đỗ mục đã chê Húc, và cho việc húc giúp Tháo như dạy
kẻ trộm đào ngạch khoét vách. Luận như Đỗ Mục mới thật xác đáng.
Húc đã đem cái thuật trộm cướp dạy cho Tháo, rồi lại đem cái luận điệu
quân tử ra mà can là thế nào?
Thì ra Húc đã lỡ chân bước theo Tháo từ trước. nên muốn cứu vãn chút
tiết nghĩa, che đậy cái giả dối của mình. Như thế những bậc thức giả chê
trách là phải.
- Cha anh dựng nghiệp để lại cho con cá đã khó, mà con cái nối nghiệp cha anh cũng không dễ gì. Hồi Tào Tháo đánh Đổng Trác thì Tháo ngang hàng với Tôn Kiên, còn Tôn Quyền đối với Tháo là bậc hậu bối.
Bởi vậy, Tháo nói: "Sinh con mà sinh được người như Trọng Mưu kia...",
Tức là Tháo ám xưng mình là bậc tiền bối đó.
Tuy nhiên, Viên Thuật khinh Tôn Sách vì trẻ tuổi, thì Tào Tháo lại trọng
Tôn Quyền vì trẻ tuổi. Hai quan niệm nhận xét người thật khác nhau.
- Tôn Quyền đánh Hợp phì thì Tôn Khiêm, Thái sử từ thiệt mạng. Còn khi Tôn quyền đánh Nhu Tu thì thắng luôn mấy trận.
Thì ra Đông Ngô sở trường về thế thủ mà không giỏi về thế công. Trận Hợp
Phì là trận đánh chiếm đất địch, trận Nhu Tu là trận tự vệ! Tấn công thì
một thành không hạ nổi, còn tự vệ thì có thể đẩy lui bốn mươi vạn quân.
- Hồi này cũng như hồi trước, đều chuyên nói việc Tây Xuyên, thế mà hồi này bỗng nhiên gác bỏ chuyện Tây Xuyên để nói qua việc Kinh châu, Tôn Quyền bày mưu lừa Tôn phu nhân về nước, rồi nhân việc ấy bàn đến chyện Tào Tháo hưng binh.
Đến như việc Tôn Quyền dời đô ra Mạt Lăng, ứng theo vượng khí là đầu mối
của việc họ Tôn tiếm xưng đế vị. Và việc xưng Nguỵ Công gia cửu tích là
đầu mối của việc họ Tào tiếm xưng đế hiệu. Đến như việc Tào Tháo mơ thấy
mặt trời, Tôn Quyền gửi thư... hai bên tỏ ý nể sợ nhau, chính là điểm dại
quan của thế ba chân vạc vậy.
Ba diểm đại quan ấy viết vào khoảng giữa bộ truyện này lại phân rẽ việc
Tây Xuyên với Kinh Châu ra hai bên, Và tả Tào Tháo, Tôn Quyền gặp nhau lại
một chỗ... thật là văn tự sự có dụng bút tinh thục lắm.
Hồi 62 : Giữ Bồi Quan, Dương, Cao nộp mạng
Đánh Lạc Thành, Hoàng, Nguỵ tranh công
- Đọc hồi này thấy Tôn và Lưu chia rẽ, và cũng thấy Chương, Bị ghét nhau.
Tôn, Lưu chia rẽ vì lí do một bên đoạt con gái về, một bên đoạt con trai
lại. Chương và Bị ghét nhau vì một bên tiếc lương, một bên xé thư.
Tuy nhiên, Tôn, Lưu chia rẽ còn mong có ngày hoà hợp, còn Chương và Bị
chia rẽ thì khó mà làm lành. Bởi thế cuộc hai bên không giống nhau. Tôn,
Lưu chia rẽ chẳng qua bề ngoài, còn Chương và Lưu thì lại nằm trong gan
ruột. Chương rước Lưu vào Tây Xuyên không dễ đuổi đi được. Lưu đã vào Tây
Xuyên không thể bỏ Tây Xuyên. Vào đất người mà không cướp đất tức là tự
trói mình, rước người vào mà không dùng được tất phải tìm cách trừ khử.
Nằm trong cái thế ấy, nhất định Chương và Bị phải một còn một mất.
- Huyền Đức trước lấy từ Châu làm nhà, rồi để Lữ Bố cướp mất. Sau này lấy Kinh Châu làm nhà, tuy Tháo bỏ chạy nhưng Quyền lại tranh. Thế thì cái nhà của Huyền Đức từ trước đến nay cũng chỉ như ở đậu, chỉ khi lấy được Tây Xuyên mới thực là nhà.
Trước kia Lưu Biểu nhường Kinh Châu, Huyền Đức không nhận, nay lại cướp
í ch Châu của Lưu Chương, cả hai người này đều anh em họ. Xét lại thì
Huyền Đức không nhận Kinh Châu chỉ vì sợ mất đi như Từ Châu trước kia. Nay
vì quá muộn màng, cơ nghiệp không thể để bê trễ mãi, nên Huyền Đức phải
quyết định đoạt í ch Châu vậy. Cái cơ nhanh chậm trước sau khác nhau phải
tuỳ thời mà biến đổi.
- Bàng Thống đưa ra ba kế sách. Nhưng cái kế kéo binh trở về Kinh Châu không phải là kế đâu. Chính Bàng Thống định giết Lưu Chương trong lúc đãi tiệc mới là thượng kế, còn đánh thẳng vào Thành Đô là trung kế, đến như việc chiếm Phù Quan mới là hạ kế. Huyền Đức đã dùng hạ kế, nhưng như vậy lại hợp tình hơn. Vì lúc mới vào đất Thục đã giết Lưu Chương thì lòng dân không phục, khó ổn định được tình thế.
- Xem việc Trương Túc, Trương Tùng mà ngán cái cảnh anh em ruột thịt vậy.
Em thì bán chúa cầu vinh mà không cho anh biết, anh thì sợ mang vạ vào
thân mà không nghĩ đến em. Anh em ruột mà còn đối xử với nhau như vậy
huống hồ Lưu Bị và Lưu Chương chỉ là anh em họ. Đọc đến đây độc giả không
khỏi ngậm ngùi.
- Huyền Đức không dùng mưu "mạnh" mà dùng chước "già" cướp lấy Tây Xuyên, giết hẳn Lưu Chương ấy là dùng mưu mạnh, còn thong thả mà lấy là dùng chước già.
Nguỵ Diên trẻ mạnh mà thua Hoàng Trung lão tướng. Làm tướng mà còn phải
như thế thì việc điều khiển các tước mưu mô phải già dặn lắm mới được.
- Hồi này có một đoạn gián bút là: Đang lúc kể chuyện gươm đao lại cắt ngang để nói chuyện Tử Hư thượng nhân khác nào như cây cổ thụ có quạ đêm đông, non xanh điểm vào những viên đá lạ vậy.
Trong trận Phù Quan, Bàng Thống chưa chết, Khổng Minh chưa tới mà Tử Hư
đã đoán trước, tức là tác giả muốn chắp một mối dây nối liền với hồi sau.
Văn có chính bút, có kì bút. Như tả việc Huyền Đức giết hai tướng Dương,
Cao, Bàng Thống chiếm Phù Quan, Lưu Hội yết kiến Tử Hư... đều là chính bút.
Còn như việc Hoàng Trung cứu Nguỵ Diên, Huyền Đức vào trại địch, Nguỵ
Diên bắt Lãnh Bào, Pháp Chính gặp Bàng Rạng... đều là những việc đột ngột
xẩy ra và chính là những kì bút tạo nên. Văn tự như thế thật hay.
Hồi 63 : Gia Cát Lượng đau lòng khóc Bàng Thống
Trương Dực Đức vì nghĩa tha Nghiêm Nhan
- Trước đây đã có hai vụ khai nước: Tào Tháo khai nước sông Tứ, yểm bức Hạ Bì, và khai nước sông Chương, yểm bức Kí Châu. ở hồi này lại thấy một vụ khai nước nữa là vụ khai nước sông Phù, nhưng lại không xong. Trong truyện phải có việc thật, việc hư mới thú chứ nếu việc nào cũng thành công thì còn gì thú vị.
- Xem việc Bàng Thống bị tử trận mà biết rằng sau này Kinh Châu sẽ mất, và Vân Trường sẽ chết. Vì sao? Vì rằng Bàng Thống không chết thì Tây Xuyên hoàn toàn uỷ thác cho Bàng Thống, và Khổng Minh chẳng rời khỏi Kinh Châu. Giả sử trước kia việc thu Tây Xuyên được giao cho Khổng Minh, việc giữ Kinh Châu uỷ thác cho Bàng Thống thì dù Lữ Mông, Lục Tốn có mưu mô đến đâu đi nữa cũng không thể qua mặt Bàng Thống được. Cho nên, Kinh Châu mất, Quan Công chết không phải vì Lữ Mông giỏi mưu, Lục Tốn giỏi kế mà chính là vì Bàng Thống chết sớm vậy. Như thế có thể nói rằng: Khổng Minh khóc Bàng Thống cũng là khóc Kinh Châu và Vân Trường nữa.
- Do lòng ham tiến quá mạnh mà Bàng Thống lâm nguy. Lúc Bàng Thống chưa chết, tinh tú trên trời đã báo trước, rồi đến việc ngựa quỵ chân, thế mà Bàng Thống lại ngờ Khổng Minh ghen với mình muốn gấp rút lập công, để đến mỗi mang hại. Thật đáng tiếc. Than ôi! Tuy nói rằng số trời, nhưng cũng do người một phần lớn!
- Khổng Minh từ lúc ngồi trong lều tranh vạch kế đã nói câu: "Đông hoà Tôn Quyền...". Nay rời Kinh Châu, giao lại cho Vân Trường vẫn không từ bỏ ý định ấy. Xem thế thì câu nói đó là một quốc sách mà Khổng Minh lúc nào cũng theo đuổi.
Tuy nhiên, cái nguy lúc này là Tôn phu nhân đã trở về Ngô, Tôn Quyền có thể liên kết với Tào Tháo.
Cứ như trận Nhu Tu, Quyền không viết thư cầu cứu Bị mà chỉ đưa thư cho Tháo để cầu giải binh, thì Quyền đã có ý hiệp với Tháo rồi.
Tôn và Lưu lìa nhau thì chưa đủ no, nhưng Tôn với Tào hiệp nhau thật là mối nguy hại. Như thế, nếu chỉ biết Bắc cự Tào Tháo mà không biết Đông hoà Tôn Quyền thì làm sao chống nổi.
- Trong đời Trương Phi được mấy chuyện thống khoái, như: trước đây Phi đánh đốc bưu, chửi mắng Lữ Bố, thét vang trên cầu Trường Bản, rồi chặn sông cướp A Đẩu. Tuy nhiên, những việc ấy chỉ có chứng tỏ cái dũng mà thôi. Đến như việc bắt sống Nghiêm Nhan ở hồi này mới tỏ được cái trí.
Bắt Nghiêm Nhan đã giỏi, mà thu phục Nghiêm Nhan lại còn giỏi hơn. Hồi chưa có Khổng Minh thì Trương Phi dũng có thừa, còn trí thì thiếu. Sau khi Khổng Minh điều binh khiển tướng thì Trương Phi lại có đủ cả trí, dũng.
Thế mới biết Khổng Minh là cái lò đào tạo nhân tài vậy. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.
- Đầu Nghiêm Nhan không bị chặt mà Nghiêm Nhan vẫn được đời sau tặng là "Đoạn đầu tướng quân". Bài "Chính khí ca" của Văn Thiên Tường có câu: "Vị Nghiêm tướng quân đâu...", và người đời Nguyên làm thơ có câu: "Trung như Thục tướng trảm Nhan thì...". Xem như thế thì cái trung nghĩa của Nghiêm Nhan đã được coi đời coi như đã mắng giặc mà chết. Tuy không huỷ mình, nhưng không phải là kẻ tham sống.
Hồi 64 : Khổng Minh dùng mẹo bắt Trương Nhiệm
Dương Phụ mượn quân phá Mã Siêu
- Trương Nhiệm gài bẫy hại Bàng Thống, Khổng Minh lại gài bẫy hại Trương Nhiệm. Cùng là lối phục binh, nhưng mỗi người một khác. Trương Nhiệm thì phục trên núi cao, hai bên có cây rậm, Khổng Minh chỉ phục nơi đường hẹp, hai bên có lau lách. Trương Nhiệm chỉ phục một nơi, còn Khổng Minh lại phục nhiều chỗ. Trương Nhiệm thì dùng tên bắn thác chủ soái, Khổng Minh thì dùng dao đâm chết các kị binh rồi mới bắt sống chủ tướng.
- Huyền Đức bắt được Trương Nhiệm đáng lẽ phải giết đi để báo thù cho Bàng Thống thế mà cứ một mặt dụ hàng là vì sao?
Vì Huyền Đức muốn dùng cái tài của Trương Nhiệm. Xưa, Chương
Hàm bắn chết Hạng Lương mà Hạng Vũ nói gièm giết Lưu Diễn mà Hán Quang Vũ
về sau trỏ tay xuống sông thề quên hết chuyện ấy. Cho hay lúc thiên hạ còn
loạn lạc, người anh hùng không dám khăng khăng giữ lấy oán cừu, phải có
lúc bỏ qua để đãi người và thu lòng người.
Tào Tháo không giữ mối thù Điển Vi bị giết mà thu nạp Trương Tú. Tôn
Quyền cũng bỏ qua mối thù giết Lăng Tháo mà nhận Cam Ninh. Những việc này
cũng cùng một chủ đích như trên.
- Dương Phụ báo thù cho Vi Khang ấy là có nghĩa, nhưng Phụ đánh Mã Siêu để giúp Tào Tháo thì lại phi nghĩa.
Như Mã Đằng hai lần vâng mật chiếu, hai lần đánh giặc thế là trung nghĩa
với nhà Hán.
Đến như con Mã Đằng báo thù cho cha thì người con ấy chí hiếu, thế mà
Dương Phụ lại trung thành với gian tướng, dối vua như Tào Tháo, vậy còn
xem hành động ấy chính nghĩa làm sao được? Dương Phụ coi Siêu là giặc, mà
không rõ chính Tháo mới là giặc. Cho nên, người quân tử không nhận cái
nghĩa của Dương Phụ.
Hoặc nói rằng: "Dương Phụ giúp Tháo trừ Mã Siêu cũng như Trần Đăng giúp
Tháo để trừ Lữ Bố chứ có khác gì?".
Nói thế không đúng. Diêu là một hiếu tử. Bố là một kẻ giết cha. Và Trần
Đăng qua giúp Tháo thì chưa xảy ra việc săn hưu ở Hứa Điền, bấy giờ tờ "Y
đái chiếu" chưa ban bố, Đổng Quý chưa bị giết, Tháo chưa xưng Nguỵ Công
đoạt cửu tích, nghĩa là lòng phản nghịch Tháo chưa biểu lộ rõ ràng. Thế
thì Tháo ngầm mượn Thiên tử để sai khiến chư hầu, và Trần Đăng phải giúp,
có gì là lạ.
Đằng này, khi Dương Phụ giúp Tháo thì tờ "Y đái chiếu" đã lộ, Đổng Phi đã
chết, Tháo đã xưng Nguỵ Công và đoạt cửu tích. Tháo đương nhiên là kẻ phản
quốc sờ sờ, thì giúp quốc tặc tức là mình thành giặc luôn. Dương Phụ chối
cãi làm sao được?
Trong số Ngũ hổ gồm Quan, Trương, Triệu, Hoàng đều là bốn đại tướng. Duy
Mã Siêu thì chỉ là một chiến tướng chứ không thể gọi là đại tướng.
Vì giết Vi Khang, làm cỏ Lịch Thành, Siêu đã không có lòng nhân. Không
biết nghi ngờ Dương Phụ thì Siêu không phải là bậc trí. Trước kia đã bị
Tháo lừa, Siêu quay lại đánh Hàn Toại, sau về hàng Trương Lỗ lại đòi đem
quân đi chống Huyền Đức, thế thì kiến thức của Mã Siêu làm sao bì với bốn
tướng kia được?
- Người đời cho rằng bà mẹ Khương Tự cũng như mẹ Thái Sử Từ. Mẹ Thái Sử Từ khuyên con báo ơn Khổng Dung, mẹ Khương Tự khuyên con báo ân cho Vi Khang, cả hai đều đáng khen vậy.
Tôi cho rằng mẹ Khương Tự kém hẳn mẹ Thái Sử Từ, vì mẹ Thái Sử Từ biết rõ
Tháo là giặc, còn mẹ Khương Tự không hiểu mình giúp Tháo là giúp giặc.
Người đời lại khen vợ Triệu Ngang và chê vợ Lữ Bố. Vì Nghiêm Thị (vợ Lữ
Bố) ngăn chồng không cho xuất chinh. Vương Thị (vợ Triệu Ngang) thúc giục
chồng khởi binh. Riêng tôi cho rằng vợ Triệu Ngang cũng một loại như vợ
Lưu Biểu. Vì Thái Thị mưu hại Lưu Bị để giúp Tháo, còn Vương Thị giúp Tháo
để đánh Mã Siêu, hai người đều như nhau.
Tuy nhiên đến những kẻ tu mi như Quách Gia, Trình Dục, nổi tiếng là mưu
trí trong thiên hạ, mà còn không rõ lẽ thuận nghịch, thì câu chuyện đàn bà
còn phải phê phán làm chi.
- Hồi này, sau khi Khổng Minh bắt Trương Nhiệm là đến chuyện Mã Siêu đánh Hà Manh quan. Nhưng Siêu đánh Hà Manh quan là do Trương Lỗ sai khiến. Lỗ sai khiến Siêu vì Siêu theo Lỗ, Siêu phải theo Lỗ vì Dương Phụ đánh Siêu.
Lưu Chương với Dương Phụ vốn chẳng liên lạc gì với nhau, thế mà một đoạn
nhắc lại Lũng Tây làm cho chúng ta thấy rõ căn cứ. Lối hành văn này giống
như đoạn văn ở hồi thứ năm mươi chín.
Hồi 65 : Mã Siêu đại chiến cửa Hà Manh
Huyền Đức chiếm được đất Tây Thục
- Tôn Quyền có mối thù với Lưu Biểu, Lưu Chương cũng có mối thù với Chương Lỗ. Việc Hoàng Quyền cầu cứu với Hán Trung cũng giống như việc Lỗ Túc qua Giang Hạ cầu Lưu Bị. Thế mà, Huyền Đức giúp Tôn Quyền để đánh Tào, còn Trương Lỗ không giúp được Lưu Chương đánh Huyền Đức. ấ y bởi Tào Tháo không li gián được Tôn, Lưu. Còn Khổng Minh thì li gián được Chương, Lỗ. ở Kinh Châu có Sái Mạo khiến Huyền Đức không ở được. ở Hán Trung có Dương Tùng khiến Mã Siêu không yên thân. Tình cảnh hai người giống nhau. Nhưng Lưu Bị ở nhờ Lưu Biểu là để cự Tào, còn Mã Siêu ở với Trương Lỗ lại muốn đem quân đánh Lưu Bị. Xem thế thì Mã Siêu thạt là bất trí. Tào Tháo là kẻ thù cha, thù chúa, mình muốn báo thù cha đền nợ chúa, tại sao lại đi đánh kẻ đồng minh của mình. Mã Siêu đã quên tờ nghĩa trạng rồi sao? Nếu không có Dương Tùng làm cho Trương Lỗ ghét Mã Siêu thì Mã Siêu cũng không thể đánh nổi Hà Manh quan.
Quan C ng muốn vào Tây Thục tỉ thí với Mã Siêu chỉ là việc nói chơi thế
thôi. Quan Công nghe tiếng Mã Siêu anh hùng, không muốn để Mã Siêu kiêu
căng, tự đắc với các tướng Thục. Xưa, Hán Cao Tổ tiếp Anh Bố mà cứ ngồi
thòng chân vào chậu nước cho người hầu rửa, ấy là tỏ ra ngạo nghễ để làm
nhục cái kiêu căng của Anh Bố. Mã Siêu mới về hàng Huyền Đức, xem các
tướng Thục không ai bằng mình, sao khỏi kiêu căng? Sau khi thấy Khổng Minh
viết lá thư gửi cho Vân Trường, Mã Siêu mới biết còn có một tướng võ nghệ
tuyệt luân, giỏi hơn Vân Trường là đã biết rõ dụng ý của Vân trường rồi.
H i Huyền Đức ở Tân dã còn long đong, không nỡ bỏ trăm họ chạy nạn một
mình, lòng thương dân tha thiết như thế, mà lúc lấy được Tây Xuyên lại
muốn lấy ruộng của dân thưởng cho các tướng.
Triệu Vân can gián là phải. Triệu Vân quả là kẻ yêu dân mến nước. yêu
nước thì không nghĩ đến nhà, không nghĩ đến bản thân. Trước kia đánh chiếm
Quế dườn, Triệu Vân đã không nghĩ đến vợ con, nay vào Tây Xuyên chiến
thắng, Triệu Vân cũng không nghị đến chiếm ruộng làm giàu, thật là một bậc
đại thần thời xưa, không phải chỉ là một danh tướng mà thôi.
- Xưa, thầy Tử Sản có nói: "Nước mát, dịu dàng, người ta coi thường đùa với nước, nên nhiều kẻ chết đuối. Lửa nóng bỏng, ai thấy cũng sợ, cho nên ít người bị chết cháy".
Khổng Minh dùng chính sách khắc khổ ở nước Thục, phải chăng đã nghĩ đến
quan niệm ấy? Hình pháp mà không nghiêm minh, bê tha khiến dân chúng không
còn ai sợ nữa, đó chính là đã đưa dân chúng vào đường nguy hiểm. Còn hình
pháp tuy khắt khe, nhưng thi hành đúng đắn, để cho dân chúng tìm lành lánh
dữ, đó chính là giúp dân chúng tránh khỏi tội.
Tào Tháo chiếm Kinh Châu, đuổi Lưu Tông đi Thanh Châu, rồi nửa đường cho
người theo giết. Lưu Bị đưa Lưu Chương sang Công An trú ngụ cho cả gia
quyến của cải theo. Thế thì Lưu Bị khác hẳn. Lưu Bị khoan nhân, Tào Tháo
độc ác.
Hồi 66 : Quan Vân trường một đao tới hội
Phục hàng hậu vì nước bỏ mình
- Quan Công không lấy cá nhân mình đối xử với Đông Ngô, mà lấy danh nghĩa Đại Hán ra áp đảo Đông Ngô thì quả là người tường tận về Nghĩa Xuân Thu vậy. Trước mặt Tào Tháo, Lữ Bố nói: "Đất đai nhà Hán ai cũng có quyền giữ lấy một ít", thế thì Lữ Bố là kẻ vô phụ vô quân. Trước mặt Gia Cát Cẩn, Quan Công nói: "Đất đai nhà Đại Hán, há đem cắt đất giao cho ai?" thì Quan Công là bậc nhân thần.
Huy n Đức đi lấy vợ, cái hay ở chỗ biết người bày mưu mà cứ đi. Quan Công
đi phó yến hay ở chỗ không biết mưu lừa. Huyền Đức cưới vợ rồi ra về, khéo
ở chỗ không từ biệt mà đi. Quan Công phó hội ra về, khéo ở chỗ công nhiên
từ biệt.
Lỗ Túc mời Quan Công thì Quan Công nhận lời ngay, còn Trường Liêu dụ Quan
Công phải nhiều lần mới được. Quan Công từ giã Tháo không muốn cho Tháo
tiễn đưa, còn từ giã Lỗ Túc lại bắt buộc Túc phải tiễn chân ra bến.
Ngày trước Quan Công qua năm ải phải giết sáu tướng là vì có sáu tướng
cản ngăn, nay ra bến thuyền không bị ai chận lại, nên lưỡi đao không nhúng
máu. Ngày trước ruổi dong ngàn dặm cũng minh bạch đường đường, ngày nay
cắp đao phó hội cũng uy dũng hiên ngang.
Đọc truyện đến đây ai cũng khen rằng Quan Công bao giờ cũng thung dung tự
tại, coi dưới mắt chẳng có ai, thật là một kẻ anh hùng dưới thế.
- Việc Tào Tháo dùng gậy đánh chết Phục Hậu, thật là một hành động tàn ác chưa từng thấy trong lịch sử. Thân danh sĩ như Hoa Hâm mà đi giúp Tháo làm ác thì cái bụng tham danh lợi lúc đầu vẫn chưa gột rửa được. Thấy vàng nhặt lên xem, ấy là chưa quên lợi. Thấy quan sang ngồi xe chạy ra xem, ấy là cầu vinh. Chỉ vì tham danh lợi mà thành ra một đảng ác tặc bạo tàn. Quản Ninh rạch chiếu ngồi riêng thật cũng xứng đáng.
- Có người bảo rằng: Quản Ninh nằm ngồi trên một cái lầu, không bước chân xuống đất, có lẽ Ninh nghĩ đất ấy là đất của Nguỵ, không muốn đặt chân xuống. Tuy nhiên Ninh đã quên rằng cái lầu dựng trên đất Nguỵ cũng là lầu của nhà Nguỵ.
Xét như thế không đúng. Hiền nhân quân tử chỉ lấy một việc đại để nêu rõ
cái cao thượng của mình mà thôi.
- Tuân Húc chết vì ngăn việc Tào Tháo lên ngôi Nguỵ Vương. Kể ra Tào Tháo xưng Nguỵ Công tức là cái mầm muốn chiếm đế vị rồi. Việc giết Phụ Hậu tức cái cớ cướp nước. Dù sao, Tuân Húc, Tuân Du biết can ngăn Tào Tháo cũng còn tư cách làm người hơn là bọn Đổng Chiêu, Tưởng Cán, Hoa Hâm.
Hồi 67 : Bình Hán Trung, Tào Tháo thành công
Bến Tiêu Diêu, Trương Liêu khét tiếng
- Tháo coi Hứa Chử là trung thần. ấ y là kẻ tặc thần mà yêu trung thần.
Tháo coi Dương Tùng là tặc thần. ấ y là kẻ tặc thần ghét tặc thần.
ô i, mình là tặc thần mà cũng thích trung và ghét nịnh, mâu thuẫn thay!
- Bàng Đức bỏ Mã Siêu để Tào Tháo thì còn kém hơn Dương Phụ là kẻ đánh Mã Siêu để hả dạ, chẳng qua vì mối thù Vi Khang. Còn Bàng Đức là kẻ một gia tướng của Mã Đằng sao lại cam tâm đi thờ kẻ giết Mã Đằng là Tào Tháo?
- Tào Tháo đã chiếm được cả Đông Xuyên mà không dám tiến binh đánh Tây Xuyên là vì Tào Tháo có ba điều sợ sệt. Trước kia vừa phá xong đại quân Viên Thiệu đã vội vượt sông Hà, kéo đến sông Giang đánh Đông Ngô đến nỗi bị thua trận Xích Bích đó là một kinh nghiệm. Lăn vào đất Thục hiểm trở, không thể rút chân ra được, rủi Đông Ngô hợp binh với Kinh Châu Bắc phạt, đánh thẳng đến Tràng An thì sao? Đó là hai điều lo. Khổng Minh hiện đang lao động đường phố Lưu Bị, trước kia còn nép mình trong toà Bác Vọng, Tân Dã mà đã phá tan nhuệ khí của Tào, huống hồ nay đã đã được cả một vùng Tây Xuyên rộng lớn. Đó là ba điều ngại. Có ba điều áy náy trong lòng như vậy thì Tào Tháo làm gì dám tiến binh vào Tây Thục. Cái cơ "tự mãn" chỉ là tâm trạng của kẻ gian hùng che giấu lòng sợ sệt của mình trước ba quân tướng sĩ mà thôi, không phải Tháo không tham vọng lấy Tây Xuyên đâu.
- Hai nhà Lưu, Tôn chia cắt Kinh Châu, nhưng sự thực chính là Tào Tháo đã cắt Kinh Châu đấy. Nếu Tháo không tiến binh đánh lấy Hán Trung thì Kinh Châu vẫn không bị cắt.
Trước kia Huyền Đức hứa cắt mà vẫn không cắt, không phải là do Vân Trường
ngăn trở đâu. Nếu do Vân Trường ngăn trở thì tại sao lúc này Y Tịch vừa
đến Vân Trường đã chịu cắt ngay?
- Việc binh có lúc chậm thì được, có lúc chậm thì hỏng. Lúc dẹp Liêu Đông không theo kế sách đánh chợp nhoáng của Quách Gia thì hỏng. Việc lấy Hoãn Thành không theo kế hoạch chợp nhoáng của Lữ Mông thì không cong. Việc giữ thành, có lúc nên mở cửa ra đánh thì thắng, có lúc cần cố thủ thì mới nên việc. Cho nên, trong Tam Quốc chí kế sách về binh lược muôn màu muôn sắc, chẳng kém gì trong binh thư Tôn tử.
- Khổng Minh chặt cầu Kim Nhạn bắt được Trương Nhiệm, Trương Liêu chặt cầu Tiểu Sư mà không bắt được Tôn Quyền, đó không phải Trương Liêu kém mưu mà chính là Trời đã giúp Tôn Quyền đó.
Kẻ sáng suốt xem việc Huyền Đức vượt ngữa Đàn Khê đã đoán biết ngôi báu
Thành Đô dành sữn cho ai rồi. Cũng như xem việc Tôn Quyền vượt bến Tiêu
Diêu đã thấy vượng khí đất Mạt Lăng như thế nào rồi.
Hồi 68 : Cam Ninh trăm kị cướp Nguỵ doanh
Tả từ quảng chén đùa Tào Tháo
- Cam Ninh bắn một phát tên mà giải oán được cho mình. Xưa, Liêm Pha giận Lạn Tương Như, Lạn Tương Như cứ nhường nhịn mà Liêm Pha phải hết giận. Giả Phục giận Khấu Tuân, Khấu Tuân cứ nhịn rồi cơn giận Giả Phục phải tan. Như Lăng Thống đối với Cam Ninh có thù giết cha, Cam Ninh không thể một lần nhường nhịn mà Lăng Thống quên được thù. Ninh nhịn Thống không khó, mà cứu Thống để giải thù mới khó. Nhường nhịn kẻ thù mình không lấy gì làm lạ, cứu kẻ thù mình mới là cao cả. Lăng Thống cảm xúc sâu xa, không thù với Cam Ninh nữa cũng là phải.
- Tuân Du ngăn cản việc Tháo xưng vương mà phải chết, Thôi Diệm cũng ngăn cản việc Tháo xưng vương mà bỏ mình, cả hai chết vì một việc, nhưng người đời sau cho Du không bằng Diệm, vì Du trước kia đã theo Tháo, bày kế cho Tháo, sau mới thấy đến nhà Hán, cố buộc Tháo vào khuông phép. Còn Diệm thì từ trước vẫn không giúp Tháo, đến khi can không được, chửi Tháo cho đến lúc chết mới thôi. Cho nên các nhà bình luận coi Du là một mưu sĩ nhà Nguỵ, mà coi Diệm là bậc trung thần nhà Hán vậy.
- Viên Đàm, Viên Thượng là hai anh em khác mẹ. Lưu Kì, Lưu Tông cũng là anh em khác mẹ. Cho nên Viên Thiệu, Lưu Biểu mà yêu con thức tức là yêu vợ lẽ hơn vợ chính đó. Còn trường hợp Tháo không phải thế. Tào Phi, Tào Thực đều là con của Biện Thị sinh ra cả, Tháo yêu Tào Thực hơn Tào Phi chỉ vì yêu tài, chứ không phải với ý thức như Viên Thiệu hoặc Lưu Biểu. Khi một người nặng lòng đắm đuối đàn bà thì không ai còn can ngăn nổi. Giả Hủ sở dĩ can Tháo được vì Tháo không ở trong trường hợp Viên Thiệu và Lưu Biểu.
- Cái lúc Tháo xưng Nguỵ Vương, lập thế tử Giang Đông lại xin hoà, Tôn Quyền chịu thuận, đó chính là lúc Tháo đắc ý nhất, sẵn sàng ra uy, muốn làm gì thì làm, muốn giết ai thì giết. Thế mà bỗng gặp phải một tay quá quắt như tả từ khiến Tào Tháo phải bó tay. Gia hình không xong, làm nhục không nổi, mổ xẻ không nổi, tru diệt không xong! Thế là cái uy của kẻ gian thần bị mất, cái quyền bị phạm, cái thế phải quẩn, cái lực của kẻ gian hùng phải tận! Lại thêm một câu: "Chuột đất theo cọp vàng, ngày ấy gian hùng hết kiếp". Thế là giữa lúc Tháo cực kì hưng thịnh, Từ đã sớm cười cợt sự tiêu diệt của Tháo, chẳng khác việc Trần Tường Cước gặp Phong Mị, khiến độc giả thích thú lạ lùng.
- Tào Tháo gặp Tả Từ, Tôn Sách gặp Vu Cát, hai chuyện tuy phảng phất giống nhau, mà có nhiều việc khác xa. Vu cát không tới yết kiến Sách. Tả Từ thì đến tìm gặp Tháo. Thế là Cát vô ý mà từ thì chủ tâm. Cát không dám xúc phậm đến Sách. từ dám chọc tức làm nhục Tháo. Thế thì Cát tầm thường, Từ gan dạ. Vu Cát đòi mạng, tả Từ không đòi mạng. Thế là Vu Cát bị giết thật, mà tả từ bất tử. Tôn Sách giết có một Vu Cát, rồi đi đâu, ở đâu cũng thấy Vu Cát. Tào Tháo giết vo số Tả từ một lúc, mà rồi chẳng thấy một tả từ nào nữa. Thế là Cát không biết phép "không thân". Tả từ biết phép "không thân". Vu Cát không phải là tiên, tả từ mới là chân tiên vậy. Vả lại, nên coi cáo có làm không, chẳng nên coi những cái không làm có. Tả Từ có lẽ đã mượn một "hình án không" để đùa cợt răn dạy Tào Tháo chăng? Kìa, trống chuông lầu hán, cung điện nhà Tào... Vừa chớp mắt chỉ còn thấy chiều tàn nước cuốn! Hoa cỏ cung Ngô, áo xiêm triều Tấn... mới thoáng đó đã biến thành rừng rậm gò hoang! Thế thì dù hán, dù Nguỵ, dù Ngô, dù Tấn chưa chắc đã chẳng là "không" hết thảy. Biết quá khứ đã "không", ắt rừng hiện tại chỉ là không. Không đợi đến lúc buông tay lìa đời mới thành "không", mà ngay cả cái lúc đang bắt tay vào đời biết đâu cũng chỉ là "không" đó thôi.
Nếu Tháo hiểu được cái tư tưởng này, ắt Tháo đã không đến nỗi tham ngôi
Nguỵ Vương, không tiếm đoạt xe loan, và không đến nỗi cướp ngôi nhà Hán
vậy.
Hồi 69 : Bói Chu Dịch, Quản Lộ biết cơ
Đánh Tào Man, năm người tử tiết
- Hồi trước vừa kể chuyện Tả Từ, hồi này lại kể tiếp chuyện Quản Lộ.
Thuật pháp của Tả Từ là ảo, lí số của Quản Lộ là thực. Thuật pháp ảo ảnh
khiến người không thể lường, còn lí số cũng cao diệu khiến người không thể
hiểu được.
Đã biết số trời không thể đổi mà còn yêu cầu người ta dốc hết tài năng
chỉ rõ cho mình để mình củng cố địa vị riêng của mình thì có ích gì. Cho
nên, chẳng những thuật pháp của tả từ mới răn dạy, cảnh cáo tên giặc mà
đến như lí số của Quản Lộ cũng để thức tỉnh kẻ gian hùng nữa.
- Đang cái lúc Bàng Thống chưa chết, Khổng Minh chưa vào Tây Thục mà tám câu đoán của tử Hư thượng nhận đã báo điềm trước. Nay Hạ Hầu Uyên chưa chết, Tào Phi chưa cướp được ngôi Hán mà cũng đã có tám câu đoán của Quản Lộ. Đó đều là lối dùng "gián văn" để đặt phục bút vậy.
- Nếu Kim Vi ước hẹn với Lưu Bị trước, đợi Tháo kéo binh đi lấy Hán Trung, rồi mới khởi sự, ắt Bị từ ngoài đánh vào, Vi từ trong đánh ra, thì chưa chắc cuộc khởi nghĩa đã thất bại. Tiếc rằng việc làm quá táo bạ vội vàng. Tuy nhiên việc thành bại nay chẳng đủ luận, mà cái trung can nghĩa khí mới là điều đáng nói. Nghĩa khí ba vị hiền này có kém gì ba hào kiệt nọ. Quan chép sử Nguỵ trước kia chép việc "bọn cảnh kỉ, Vi Hoảng mưu phản, bị tru lục..." thật là lầm lạc. Đến bộ sử Cương Mục, mới cải chính lại rằng:
"Cảnh Kỉ, Vi Hoảng đánh Tào Tháo không xong tự tử". Như thế mới rặng nghĩa
Xuân Thu đến muôn đời vậy.
- Hoặc nói rằng: Trận hoả tai ở Hứa Xương, nếu Quản Lộ không nói trước thì Tào Tháo không đề phòng. Tháo không dự phòng thì Tháo đi Hán Trung, và việc nghĩa của năm vị trung thần chưa chắc đã thất bại.
Cát Bình, Quản Lộ, một thầy thuốc, một thầy bói mà họ Cát trung nghĩa một
nhà, Quản Lộ lại đi đề phòng lửa giúp Tháo, chẳng hoa ra khoa bói của Quản
Lộ kém hơn khoa thuốc của Cát Bình sao?
Tuy nhiên, đây không phải là lỗi của Quản Lộ, việc ngũ thần phóng hoả là
do số định. Những lời Quản Lộ nói ra cũng là do số định như thế. Số đã
định thì không thể tránh được, chỉ có điều là: kẻ gian hùng khi nghĩ đến
định số thì đem lòng mưu việc sang đoạt, còn kẻ trung nghĩa không vì định
số mà giảm ý đền ơn báo vua.
- Xem việc các tôi tớ gian đình năm nhà khởi nghĩa mà tha rằng: Đổng Thừa còn kém năm vị trung thần này. Việc của Đổng Thừa chỉ vì một đứa đầy tớ Tần Khánh Đồng mà tiết lộ. Năm nhà sau này thì có đến gần ngàn tôi tớ dự mưu mà không một người nào phản chủ. Nếu năm vị trung thần không biết dùng người thì đâu có giữ được kín đáo như thế? Điền Hoành tử tiết thì năm trăm người theo Hoành và cũng nhờ đó mà lưu danh. Đối lại cũng nhờ năm trăm người chịu chết theo mà tên tuổi Điền Hoành càng vang dội hậu thế.
Cái trung nghĩa của cả ngàn gia binh năm nhà, chúng ta càng thấy năm vị
trung thần hiền lương không ai bì kịp.
Hồi 70 : Trương Phi khoẻ, dùng mưu lấy Ngoã Khẩu ải
Hoàng Trung già, bày kế đoạt Thiên Đãng sơn
- Mấy hồi trước tả việc Quan Công uống rượu, ở hồi này lại tả Trương Phi uống rượu. Chén rượu uống vào lúc "đơn đao phó hội" là chén rượu của người. Chén rượu uống nơi Ngoã Khẩu là chén rượu của mình. Quan Công uống rượu vì gan dạ, Trương Phi uống rượu vì mưu kế. Quan Công uống rượu thì thật hào hùng, Trương Phi uống rượu thì thật mưu kế.
Gan dạ mà uống rượu thì làm cho gạn dạ thêm to, hào hùng mà uống rượu thì làm cho hào hùng thêm mạnh. Còn dùng chén rượu mà tăng thêm trí xảo thì khó lắm. Vì gan dạ và hào hùng có thể đi đôi với rượu, còn trí thì không thể đi đôi với rượu được... Việc làm không thể gần rượu, mà Trương Phi lại cứ gần nó để lợi dụng nó mà thành công. Như thế không phải cơ xảo sao?
Trương Cáp dùng binh coi mạng quân như cỏ rác, nên lầm tưởng Trương Phi cũng dụng binh như mình. Cáp kiêu ngạo coi người như cỏ, còn Trương Phi thì khôn ngoan lấy cỏ làm người. Trương Phi say nhưng say tỉnh, còn Trương Cáp thì lại tỉnh say. Cái say của Trương Phi nơi Ngoã Khẩu ngày hôm nay khác với cái say của Trương Phi để mất Từ Châu thuở trước. Có thể nói rằng: "Trước sau hai ông Trương Phi khác hẳn nhau vậy!".
Ông Trương Phi ngày hôm nay với ông Trương Phi lừa Nghiêm Nhan ngày trước là một. Lúc lừa Nghiêm Nhan có hai Trương Phi một đi trước, một đi sau, nay vụ lừa Trương Cáp cũng có hai Trương Phi, một bằng rơm, một bằng xương thịt. Mưu việc mà phảng phất như quỷ thần như vậy chẳng khác Tả từ, thì quả Trương Phi đã có cái mưu ít kẻ sánh bằng.
- Trong Kinh Thi có câu: "Phương Thúc nguyên lão, khắc tráng kì do..." để ca ngợi vị lão tướng của Chu Tuyên Vương. Trong Kinh Dịch, phần Hệ từ cũng có câu: "Văn nhân tướng chi quý..." ý nói: việc dùng binh, lập kế có người lão thành thì mới tốt.
Tuy nhiên, dùng người già mà cho người trẻ theo giúp, thì không bằng cho
người già theo giúp người già. Tuân Yển giỏi, nhưng lúc nào cũng có anh
chàng Loan yểm nóng nẩy theo bên mình, thì Tuân yển không thể thực hành
được chuyện gì. Kiển Thúc giỏi, nhưng bên mình lúc nào cũng có "Tam suý"
vũ dũng, hung hăng, thì Kiển Thúc cũng không thể dùng được mưu. Hoàng
Trung nhờ có Nghiêm Nhan làm phó tướng mà hai lão già tâm đầu ý hiệp, làm
được việc.
- Việc binh cần dụ địch, địch cho ta là kẻ lỗ mãng thì nên tỏ ra thô bạo để địch lầm. Địch cho ta già nua thì ta cần phải làm bộ khiếp nhược để cho địch khinh. Tuy nhiên, có binh dụ trước phải có kì binh đánh sau thì mới thắng. Trương Phi, Hoàng Trung đều dùng đường nhỏ đánh vào sau ải, đó tức là đã dùng kì binh vậy. Không dụ địch thì không thể dùng kì binh, mà đã dùng kì binh thì phải dụ địch.