Tư liệu Campuchia và Lào khó kiếm lắm.
Giai đoạn từ 1530-1605 là giai đoạn legendary nhất trong lịch sử 2 nước Miến và Thái.
Miến:
từ sau khi Mông Cổ tấn công thất bại rồi rút lui, Pagan sụp đổ, Miến rơi vào thời kỳ chiến quốc. Đến TK16, 1 tiểu quốc mới thành lập là Toungoo nằm gần giữa trung tâm đất nước bắt đầu phát động chiến tranh thống nhất lãnh thổ. Toungoo không có lãnh thổ rộng lớn như Ava hay liên bang Shan phía Bắc, hay giàu có/ biết chiêu mộ quân đánh thuê Tây dùng súng như Hanthawaddy phía Nam. Nhưng Toungoo là vùng đất tiếp nhận dân tỵ nạn từ những nơi khác đến, nên có thể huy động quân số đông đảo. Đầu tiên, họ diệt Hanthawaddy phía Nam, tiếp thu ưu thế hoả khí và sự giàu có của nước này, lấy đó làm tiền đề thống nhất đất nước. Nhờ sự lãnh đạo của Bayinnaung, không chỉ chấm dứt thời chiến quốc, người Miến còn phát động xâm lược Thái, Lào và Bangladesh, tạo ra đế chế rộng lớn nhất trong lịch sử phần lục địa Đông Nam Á.
Về đặc điểm:
- hệ thống nhà nước Miến yếu và lỏng lẻo hơn TQ nhiều. Họ không có 1 biện pháp nào để cai trị những vùng đất chiếm được dưới 1 hệ thống chính quyền thống nhất ( còn TQ đánh đến đâu lập ra quận huyện, quan lại đến đó). Khi xâm lược được 1 vương quốc, người Miến chỉ có thể giết ông vua có xu hướng chống đối, rồi tìm trong hoàng tộc nước đó 1 ông khác thân thiện hơn để lập làm vua chư hầu. Các chư hầu này có nghĩa vụ thần phục nhà Toungoo, thực hiện nghĩa vụ quân sự khi cần ( khi vua Miến phát động tấn công 1 nước A thì các lộ chư hầu phải kéo quân hưởng ứng). Điều này được áp dụng cho cả các cựu vương quốc thời chiến quốc, lẫn các dân tộc thiểu số trên đất Miến chứ ko chỉ với Lào, Thái. Bởi vì thế, tuy là đế quốc rộng lớn nhất từng được biết, nhưng Miến rất không ổn định. Các nước sau khi bị biến thành chư hầu thường nổi dậy, Miến phải cất quân đánh dẹp quanh năm. Miến không có 1 biện pháp hiệu quả hơn để quản lý số lãnh thổ chiếm được. Họ chỉ có 1 cách chữa cháy là bắt các vua chư hầu giao nộp hoàng tử làm con tin. Tại thủ đô, Miến tổ chức dạy dỗ, giáo dục các hoàng tử này để làm vua tương lai ở các nước chư hầu, hy vọng có thể nhồi sọ khiến họ có tư tưởng thân Miến. ( vô dụng, cuối cùng đế quốc sụp đổ vào năm 1605).
- Về quân đội, tương ứng với hình thái cai trị trên, quân Miến là 1 đội quân hỗn hợp của nhiều dân tộc tự trị trên đất Miến. Mỗi dân tộc lại có sở trường khác nhau. Như người Môn với nước Hanthawaddy thì nổi tiếng về khả năng sử dụng hoả khí phương Tây. Người Shan thì là những chiến binh giỏi sử dụng kiếm,... Đến tận ngày nay, vấn đề thống nhất quân đội dưới 1 hệ thống chung vẫn là 1 khó khăn lớn với Miến. Vừa hô United Nation, United Army là các bác dựng cờ nổi dậy, đánh đến tận giờ ( đương nhiên đây chỉ là 1 lý do).
- Tư liệu về lần đầu tiên sử dụng hoả khí rất không thống nhất. Nhưng nói chung giai đoạn này thì cả Miến, Thái đều đã sử dụng đại bác và hoả mai cả rồi.
- Bên cạnh đó, Miến lẫn Thái cũng thích sử dụng quân đánh thuê. Như với Miến thì họ chú ý đến quân đánh thuê Tây ( Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha) vì những người này có khả năng sử dụng súng. Hồi bị cướp ngôi, Bayinnaung phải phái 1 ông Tây sang Thái chiêu mộ được vỏn vẹn vài chục ông đánh thuê Tây. Vậy mà gặp mấy ông này, Bayinnaung mừng rỡ và trọng đãi lắm. Nhưng tôi ko rõ Miến có nhờ Tây huấn luyện quân bản địa dùng súng hay không nữa.
- Về cơ cấu thì tôi chưa biết được nhiều, chỉ phỏng đoán là có nhiều cấp quân khác nhau với mức độ chuyên nghiệp khác nhau. Khi các lãnh chúa/ thủ lĩnh địa phương dẫn quân hướng ứng triều đình, trong quân họ luôn có những nhóm quân với tính chuyên nghiệp cao. Thay vì trả lương, người Miến cắt cho mỗi binh sĩ 1 miếng đất để tự cày cấy, lấy thu nhập đó thay cho lương bổng và tiền mua vũ khí, trang bị.
- 1 vị vua Miến ( không nhớ tên) từng tuyên bố về cách luyện quân như sau: " 1 người lính bộ binh kinh qua 10 trận thì đủ tư cách trở thành 1 kỵ binh. 1 kỵ binh kinh qua 1 trận thì có thể trở thành 1 tượng binh."
- Miến, Thái, Lào dùng nhiều voi chiến trong chiến trận, nhưng số lượng trung bình ở các trận chiến thông thường thật ra khoảng chừng vài con đến 20-30 con voi. Những trận chiến có số voi đến 50-100 hoặc hơn là những trận đại chiến quy mô lớn.
- Miến đánh giá chiến binh qua việc điều khiển voi. Điển hình là Nanda Bayin được truyền tụng là có thể điều khiển voi thuần thục từ hồi... mới 9 tuổi ( dân Đông Á như Tàu, VN, Nhật thì thường đánh giá bằng việc sử dụng kiếm hoặc xạ kỵ).
- Về thuỷ quân thì chưa tìm được nhiều tư liệu, tôi chỉ nhớ Bayinnaung thời thống nhất từng đánh với tàu Tây 1 lần, rất chật vật. Nên có thể thuỷ quân Miến khá yếu.
-----------------------------------------------
Thái:
Ở giai đoạn sau thời Mông Cổ xâm lược, khu vực ngày nay là Thái Lan xuất hiện làn sóng người Thái di cư ( thật ra đã có từ lâu, đến đó rầm rộ hơn thôi). Người Thái tiêu diệt các quốc gia bản địa, lập nên các bang người Thái. Sau cùng chỉ còn 3 nước chính là Lanna ở Bắc, Sukhothai ở miền Trung và Ayuthaya ở miền Nam ( sau gọi là Siam hoặc Xiêm). Đến giai đoạn trong timeline thì Sukhothai cơ bản đã trở thành 1 phần của Ayuthaya, vậy chỉ còn lại 2 nước.
Từ khi còn đang thống nhất thời chiến quốc, Bayinnaung đã bắt đầu tấn công các nước Thái. Sự kiện hoàng hậu Suriyothai ra trận chiến đấu rồi hy sinh là vào lúc này. Quân Miến cuối cùng chinh phục hết các nước Thái rồi bắt đầu tiến sang Lào. Người Thái bị biến thành chư hầu, vua nước Ayuthaya phải gửi con là Naresuan sang Miến làm con tin ( đã đề cập ở phần Miến), lại phải gửi con gái là Suphakanlaya sang làm phi tử của Bayinnaung. Dưới nhà trường Miến, Naresuan được học đầy đủ các kiến thức quân sự, thậm chí cả công nghệ phương Tây. Kết quả là sau khi trở về nước, Ayuthaya dưới sự lãnh đạo của cha con Naresuan là nước đầu tiên nổi dậy ngay sau khi Bayinnaung qua đời. Con trai của Bayinnaung là Nanda Bayin, tuy là 1 tướng lĩnh nhiều kinh nghiệm/ 1 ông vua trên mức trung bình, nhưng ông đành bất lực khi cố cứu vãn 1 cơ đồ/ đế chế đầy lỏng lẻo mà cha để lại. Trong vòng gần 10 năm, Nanda liên tiếp phát động chiến tranh trừng trị Ayuthaya nhưng đều bị đánh bại, kết quả là sức mạnh của Miến suy giảm đáng kể. Thấy tình hình đó, toàn bộ các chư hầu khác đều lục tục nổi dậy. Đế quốc Toungoo tan rã. Quân Thái liên minh với nước Arakan, đánh Miến từ 2 hướng, đốt rụi thủ đô Taungoo cùng lăng mộ của Bayinnaung.
- về cơ cấu nhà nước Thái thì tôi không rõ.
- Về quân đội, Thái cũng sử dụng lính đánh thuê. Ít nhất, em trai của Naresuan khi lên làm vua đã chiêu mộ người Môn, người Champa, người Tây ( Hà Lan và Bồ Đào Nha) và cả người Nhật làm lính đánh thuê, gọi là Krom Asa Mon, Krom Asa Cham, Krom Asa Yipun và Krom Asa Mae Puen ( " người sử dụng arquebus" - lính Tây).
- Thái có mối quan hệ thân thiện, bạn hàng của Mạc Phủ Tokugawa sớm hơn cả Đàng Trong của chúa Nguyễn. Ban đầu Châu Ấn Thuyền của Nhật phần nhiều là đến đây buôn bán, về sau mới có Đàng Trong nổi lên cạnh tranh với Thái trong việc buôn bán với Nhật.
- quân đội Thái có nhiều cấp độ từ dân bị bắt lính đến quân chuyên nghiệp. Dân chúng thường phải tự trang bị lấy. Trong khi các cấp quân cao hơn thì tiếp thu sử dụng giáp trụ Bồ Đào Nha.
- Cũng như Miến, Thái đánh giá 1 chiến binh qua việc điều khiển voi. Như Naresuan nổi tiếng với chiến công đấu voi tay đôi/ chém chết con trai của Nanda Bayin ngay trận tiền. Các tướng lĩnh cũng thường ngồi voi ra trận hơn là ngựa.
- Thái dùng hoả khí sớm nhất là vào TK 15, có 1 bài ca xuất hiện vào những năm 14XX có nhắc đến hoả khí. Đến giai đoạn này thì cả Miến, Thái đều dùng hoả mai và đại bác cả rồi.
- không hiểu sao, thuỷ quân Thái cũng có vẻ tà tà. Đa phần họ dùng loại thuyền chèo tay, nhỏ, hẹp nhưng dài ( coi trailer Naresuan 3). Bên cạnh đó, Thái cũng có loại thuyền buồm với quy mô lớn hơn nhiều, trang bị tổng cộng khoảng chừng hơn 10 khẩu đại bác. Có lẽ vì Thái cũng không có nhiều nhu cầu thuỷ chiến.