Kingdom ► Chiến Quốc đại chiến - Triệu Chinh

  • Thread starter Thread starter _TVL_
  • Ngày gửi Ngày gửi
Kỳ công với VN chứ không phải với kỹ thuật phương Tây đương thời.
1 con kênh dài 87 km mà đào mất 5 năm, huy động tổng cộng gần 100 000 người, chết bệnh chết dịch vô số. Với tiến độ đó, kỹ thuật đó thì thiết lập cơ sở hạ tầng giao thông và thủy lợi toàn quốc đến bao giờ mới xong, mà có khi làm chưa xong dân cả nước lăn ra chết hết rồi.

Về thương mại:


Vào thời Trịnh - Nguyễn, vì nhu cầu chiến tranh nên cả 2 miền đều rất tích cực mở mang thương nghiệp. Nhưng đến khi chiến tranh kết thúc thì cả 2 phía đều muốn đóng cửa. Đến cuối TK18 thì thương nghiệp toàn quốc đình đốn cả rồi. Tây Sơn loạn, nguyên nhân trực tiếp là do chúa Nguyễn tăng thuế lên dân thiểu số để bù thất thu thương nghiệp chứ đâu. Nếu nói Đàng Ngoài ko có truyền thống thương nghiệp thì cũng phải nói Đàng Trong đến nửa cuối TK18 đã chẳng còn lại chút di sản gì từ thời thương nghiệp 100 năm trước cả. J.Barrow và quân Anh cập cảng Hội An vào cuối TK18 mà ko còn thấy 1 dấu tích gì cho thấy trước đó đây là 1 trung tâm thương mại sầm uất luôn.

Nguyễn Ánh cũng thế thôi, khi cần kíp thì mở cửa thương mại để có tiền đánh nhau. Đánh xong thì bắt đầu tìm cách đóng cửa lại. KT miền Nam, ruộng đất thì ko khai khẩn được nhiều vì kỹ thuật lạc hậu, thương mại may còn giữ được dưới thời Lê Văn Duyệt. Đến khi ông này chết thì xong luôn. Hỏi sao không nghèo.

Mà giả có mở cửa đi nữa, tình hình KT khu vực TK19 nó đã khác hoàn toàn TK17 rồi. Thuộc địa phương Tây dày đặc trong vùng. Hàng ông bán nó cũng tự sx được thì nó mua của ông được bao nhiêu? Chưa kể là nhà Nguyễn với nền sx kỹ thuật như vậy thì có sx ra cái gì để bán ko nữa. Ông có biết gạo là mặt hàng bị cấm...xuất khẩu vào thời Nguyễn ko? Trong mắt tụi Anh, Pháp lúc đó, nó chỉ muốn chiếm VN làm... căn cứ điểm tiếp tế trên con đường vào thị trường TQ, chứ ko phải vì VN giàu có rừng vàng biển bạc ( cái đó nó nhìn chưa ra). Đám người Pháp làm quan cho Nguyễn Ánh khi viết thư về Pháp tư vấn phần buôn bán đã nói dân Việt nghèo lắm, tốt nhất sang đừng bán cái gì đắt quá, may có...gương với lược thì dân ta mua được. Từ đời Minh Mạng gần như chỉ còn Tàu đến VN mua bán mà thôi. Chính Minh Mạng còn ngơ ngác hỏi tại sao lâu rồi ko còn thấy Tây đến buôn bán gì nữa.

Đó là chưa kể, vào thời Nguyễn, muốn phát triển ngoại thương còn gắn liền với bảo đảm an ninh vùng biển ( đánh hải tặc). Mà hải quân Nguyễn từ đời MM thì... đánh trận được trận thua, ko xử lý được vấn đề này.

----------------------
Về khẩn hoang:
Mạc Cửu dâng Hà Tiên cho chúa từ hồi 1708, nghĩa là trước khi Pháp đánh nhà Nguyễn tận 150 năm. 150 năm chứ ko phải vài chục năm đâu mà bảo không có thời gian 8->. Vả tính từ khi nhà Nguyễn tái lập cũng đến nửa thế kỷ nắm trong tay nhân lực toàn quốc rồi.

Đó là chưa kể Minh Mạng là 1 tay rất đẩy mạnh việc khai hoang ( mục tiêu là củng cố nông nghiệp làm xương sống cho nền KT - 1 tư duy rất cổ truyền). Thành tựu của ông này là trong 20 năm đã tăng diện tích ruộng đất toàn quốc lên thêm 1 triệu mẫu. Vậy mà đến đời Tự Đức, ruộng mới ruộng cũ toàn Nam Kỳ chỉ có nửa triệu mẫu thì cũng có thể thấy nhà Nguyễn ko khai khẩn được gì nhiều ở Nam Bộ.

Mục tiêu khai hoang là để giải quyết vấn đề ruộng đất cho dân, vậy mà Nam Bộ bạt ngàn lại để trống không khai phá. Lý do chỉ có thể là với kỹ thuật lúc đó, nhà Nguyễn ko thể khai phá được hết Nam Bộ mà thôi, chứ chẳng phải vì thiếu nhân lực. Dân chết đói ầm ầm ngoài bắc kia mà bảo ko có nhân lực mới là lạ.

Nếu để ý, ông sẽ thấy Nguyễn Công Trứ thường được nhắc đến với Doanh Điền sứ và 2 huyện Kim Sơn, Tiền Hải ngoài...Bắc. Trong khi thực tế ổng từng được điều vào làm Doanh Điền trong Nam Bộ và...thất bại ;))( nên người ta lờ luôn, ko nhắc đến). Điều này cho thấy, nhà Nguyễn có khai hoang cũng chủ yếu khai hoang miền Bắc, vì với kỹ thuật của họ thì khai hoang vùng này dễ hơn, ko có ngập mặn, phèn chua như Nam Bộ8->.


Về quân sự:
Chuyện Minh Mạng đánh bại cuộc xâm lăng của Xiêm cũng ko nói lên gì nhiều, vì đó chỉ là 1 giai đoạn trong hơn 10 năm chiến tranh 2 nước mà thôi [-(. Cũng như nhà Trần 3 lần đánh bại Mông Cổ cũng có nghĩa là nhà Trần mạnh hơn MC đâu, hay gần nhất, quân đội Nguyễn Ánh ban đầu bị rượt chạy mất dép kia rốt cuộc là mạnh hay yếu hơn Tây Sơn :-t, mà đến nỗi Tây Sơn chỉ mất 1 Nguyễn Huệ đã đủ sập bàn cờ như vậy?

Tiếp sau đó, quân Việt nhiều lần giao chiến với Xiêm ở Cambuchia, thắng thua có đủ, cuối cùng phải rút về cũng đủ thấy tương quan hai bên thế nào ( Thực Lục phía VN thì lúc nào cũng chém gió ta đánh đâu thắng đó, chẳng qua do... khí hậu nóng nực nên chết nhiều. Làm như khí hậu VN lạnh hơn Cam vậy =)). Hồi Nguyễn Tri Phương dâng sớ đòi tái chiếm Trấn Tây, vậy mà đánh 1 hồi xong thì... nghị hòa và rút quân khải hoàn chiến thắng;)), nửa cái Trấn Tây cũng chẳng chiếm lại được =)).).
Con kênh như vậy bây giờ còn khó đáo nữa chứ nói thời đó chỉ dùng tay và cuốc xẻng, caí kênh ở Sài Gòn vài km thôi cũng đã mấy ngàn tỉ, tính ra giá trị kênh Vĩnh Tế rất lớn. Dù sao phải công nhận đó là một công trình lớn để lại cho hậu thế chứ.

Hội An chỉ là một trong những thương cảng của Đàng trong thôi, vì chiến tranh tàn phá và dòng chảy bị thay đổi nên lụi tàn chứ không phải vì bị cấm cản. Sau này vai trò của Hội An bị Đà Nẵng thay thế. Các thương cảng lớn ở miền Nam thời đó có Thanh Hà-Huế, Sài Gòn, Đà Nẵng. Sau này vì phương Tây chiếm thuộc địa nhiều quá nên nhà Nguyễn mới học theo Trung Quốc mở cửa cho Tàu. Các đội tàu buôn vẫn đi bán hàng cho Trung Quốc chung với với tàu hộ tống của triều đình, đây là thời kỳ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà chúng ta có đội tàu xuất khẩu ra nước ngoài, trước đây chỉ toàn sản xuất thủ công nghiệp, hàng thô bán cho thương nhân nước ngoài tại Việt Nam. Các mắt hàng có giá là lâm sản, đặc biệt là đường(tới thời Pháp thì đường có giá 1 quan= 1 cân, trước đó còn cao hơn nữa).
Vấn đề khai hoang, miền Tây là miền đất hoang vu hiểm trở, dân chỉ có thể trồng trọt ở ven sông. Bởi vậy nên người Chân Lạp chỉ bám trụ được một nhúm ở miền Tây không phát triển được dù họ có cả ngàn năm để khai phá. Sau khi tiếp quản vùng đất này thì nhà Nguyễn mới cho đào kênh, chiêu mộ dân tới khai phá, từ những vùng đất hoang vu mà khai phá được thêm 600 000 mẫu ruộng là một kỳ công so với dân số và kỹ thuật thời đó rồi. Trồng trọt ở miền Tây phải gắn liền với khu dân cư để cung cấp hậu cần, gắn liền với kênh rạch để làm thủy lợi chứ không phải theo suy nghĩ đơn giản của nhiều người là chỉ cần tới phạt cỏ trồng cây là xong. Ngay cái miền Bắc dân cư đông đúc mà còn nhiều vùng đất hoang cả ngàn năm chưa khai phá được phải nhờ nhà Nguyễn tổ chức khai phá mới được. Mọi chuyện đối với tiền nhân là không dễ dàng đừng đem con mắt thời hiện đại phán xét họ mà không hiểu hoàn cảnh khi đó.
Thời Nguyễn lúa gạo dư nhiều, nhà Nguyễn cho lập các kho cứu đói khắp nơi ở miền Bắc, ngoài ra còn giúp Thái Lan 8000 phương gạo , giúp Philippine 500 000 cân gạo cứu đói.
Thời Minh Mạng đánh bại Thái Lan để bảo hộ Chân Lạp thì xem như đó là chiến thắng, việc đô hộ dân tộc khác gặp nhiều khó khăn khi đó nên vua Thiệu Trị mới cho rút quân về, quan cai trị Chân Lạp là Trương Minh Giản thấy vẫn còn cai trị được mà đã cho rút về thì uất ức sinh bệnh mà chết. Việc co cụm lại của Thiệu Trị làm Xiêm và Chân Lạp lấn tới đem quân sang đánh miền Tây một lần nữa nhưng bị quân nhà Nguyễn đánh đuổi sang cả Nam Vang. Như Vậy khi này Xiêm chỉ giữ được phần đất Udong còn nhà Nguyễn giữ phần đất chính của Chân Lạp là từ Nam Vang về phía Đông. Chân Lạp bấy giờ công nhận cả quyền bảo hộ của Nhà Nguyễn và Thái Lan cho đến khi Pháp vào.
 
Đúng là vậy, nhưng thời Lê Sơ thì KT vẫn được phát triển, đủ đài thọ cho việc phát triển kỹ thuật quân sự nên ko đáng lo như đời Nguyễn. Quân sự thường phải đi kèm bộ máy quản lý và nền kinh tế. Nhà Lê Sơ yếu là yếu khâu quản lý, mỗi lần vua mới lên thế nào cũng có chuyện thanh trừng đấu đá nhau.

Ai nói Nho giáo giúp củng cố vương quyền chứ tôi thấy nó ko có tác dụng gì cả ( nhà Lê Sơ ứng dụng rất mạnh tay, kết quả nổi bật lên 1 tên Nho Lê Quảng Độ, gia nô 3 họ giết liền 2 đời vua.). Nhà Lý nhà Trần theo Phật mà còn dài 200 năm, nhà Lê Sơ độc tôn Nho giáo cao độ mà chưa đầy 100 năm đã sập, 300 năm còn lại chỉ là vua bù nhìn, mặc cho lộng thần thao túng. Cảm giác cứ như là Lê Lợi bị dụ mua hàng Tàu vậy =)). Mà đã thôi đâu, bọn nhà Nho còn cóp chuyện Lưu Bang rồi gán ghép bôi nhọ cả Lê Lợi, rồi nâng Nguyễn Trãi lên hàng quân sư như Gia Cát Lượng dù đọc cả Toàn Thư lẫn Lam Sơn Thực Lục thì chỉ thấy cụ nhà làm mỗi chuyện thư ký trong quân, kèm thêm việc viết thư chiêu hàng mấy thành bị vây từ lâu :-??. Quân mình đã đánh giặc xong hết, chỉ còn việc ngoại giao đòi Tàu nó công nhận triều đại mới thôi, anh Trãi được nổ là có tài " đánh vào lòng người", " không đánh mà người chịu khuất" mà thực tế thì lại đúc tượng người vàng Lê Lợi trong tư thế mặc áo tù, tay trói quặt quỳ gối thích chữ xin chịu tội để cống cho nó ~X(( Không phải đúc tượng Liễu Thăng, đã có bài nghiên cứu chỉ ra vụ này rồi).

Nhà Thanh thất bại 1 phần lớn vì khâu quản lý, đào tạo nhân sự thì đúng hơn. Đội ngũ quan lại, nhân lực kiểu cũ không đáp ứng được cho công cuộc cải cách. Nhiều tên chỉ ngồi đó tham nhũng, hoặc ngồi lĩnh lương, làm bộ máy cồng kềnh kém hiệu quả. Binh sĩ nhiều người chỉ " diễn" chứ ko hiểu những kỹ năng họ được đào tạo dùng để làm gì. Tiền để mua súng đạn và huấn luyện thì bị ăn bớt có hệ thống ( từ thượng tầng Từ Hy đã lấy tiền trang bị cho hạm đội đi xây vườn nghỉ mát). Chứ bảo nhà Thanh nghèo ko kham nổi nền quân sự thì ko đúng. Tàu nó ko mạt như nhà Nguyễn ta, đang lạc hậu thê lương mà nó đổ tiền ra mua 1 lúc 4 hạm đội Bắc Dương, Nam Dương, Quảng Đông, Phúc Kiến. Các hạm đội trang bị đủ từ tàu phóng lôi, thiết giáp hạm, đại bác kiểu mới, súng máy,... thì đâu thể bảo nó nghèo ( trong khi Tự Đức mua 4 chiếc tàu nhỏ vũ trang mà quan lại đã kêu hết tiền). Ngay giặc Cờ Đen, mang tiếng là thổ phỉ mà còn có cả dàn súng máy kiểu Pháp, trong khi nhà Nguyễn hiện đại nhất cũng chỉ mới có súng trường đá lửa thời Napoleon.
 
kỹ thuật quân sự tiên tiến nhất là thời Lê Sơ.

Ngay khi Lê Lợi vừa lên ngôi đã ban hành quy định mass equip hỏa khí cho quân đội rồi ( hand-cannon, thời đó chưa có súng trường, chỉ có mấy cái thần công cỡ lớn nhỏ, hoặc vác hoặc xách tay thôi). Gần như cả vùng Đông Nam Á lúc đó chưa có nước nào dùng hỏa khí sớm như VN.

Khổ cái vận nhà Lê chết sớm quá vì nội bộ lục đục mỗi lần thay vua. Mới 1504 đã loạn lớn rồi ( chương trình Nam Tiến đình lại đến 110 năm, tận chúa Nguyễn Hoàng năm 1611 mới tái khởi động, nhưng nhân lực ít ỏi nên mất 200 năm cũng chỉ đánh đến Nam Bộ mà thôi). Chứ nếu nhà Lê vững bền, dựa theo thành tựu kỹ thuật vũ khí tiên tiến và nền tảng Lê Thánh Tông gầy dựng thì có khi còn tiến xa hơn bây giờ.

Dù sao thì truyền thống súng đạn cũng được chúa Trịnh-Nguyễn tiếp tục phát huy, học từ cả phương Tây lẫn TQ, đến thời Nguyễn mới bắt đầu tụt hậu vì kỹ thuật chế tạo của phương Tây ngày càng tiên tiến trong khi nhà Nguyễn bắt đầu đi thụt lùi.
Nhà Nguyễn tụt hậu so với phương Tây chứ so với thời Lê Sơ thì tiến quá dài rồi. Đỉnh cao thời là thời Gia Long có tới 1200 chiến hạm, hàng chục chiến hạm kiểu tây tự đóng, đến thời Minh Mạng binh lính 4/10 người sử dụng súng.
 
^ ^chung quy vẫn là do con người thôi :v

thằng Ottoman hùng mạnh thế, quân lực hùng hậu, tài nguyên dồi dào, có vị trí chiến lược về giao thương cả đường bộ lẫn thủy, lại có lợi thế cực lớn là tiếp xúc cả hai nền văn hóa Đông tây. Muốn tiếp thu kiến thức, mua sắm gì rất dễ. Thế mà do thể chế lạc hậu, ko tự thay đổi mình nên về sau thua tan tác
 
Đúng là vậy, nhưng thời Lê Sơ thì KT vẫn được phát triển, đủ đài thọ cho việc phát triển kỹ thuật quân sự nên ko đáng lo như đời Nguyễn. Quân sự thường phải đi kèm bộ máy quản lý và nền kinh tế. Nhà Lê Sơ yếu là yếu khâu quản lý, mỗi lần vua mới lên thế nào cũng có chuyện thanh trừng đấu đá nhau.

Ai nói Nho giáo giúp củng cố vương quyền chứ tôi thấy nó ko có tác dụng gì cả ( nhà Lê Sơ ứng dụng rất mạnh tay, kết quả nổi bật lên 1 tên Nho Lê Quảng Độ, gia nô 3 họ giết liền 2 đời vua.). Nhà Lý nhà Trần theo Phật mà còn dài 200 năm, nhà Lê Sơ độc tôn Nho giáo cao độ mà chưa đầy 100 năm đã sập, 300 năm còn lại chỉ là vua bù nhìn, mặc cho lộng thần thao túng. Cảm giác cứ như là Lê Lợi bị dụ mua hàng Tàu vậy =)). Mà đã thôi đâu, bọn nhà Nho còn cóp chuyện Lưu Bang rồi gán ghép bôi nhọ cả Lê Lợi, rồi nâng Nguyễn Trãi lên hàng quân sư như Gia Cát Lượng dù đọc cả Toàn Thư lẫn Lam Sơn Thực Lục thì chỉ thấy cụ nhà làm mỗi chuyện thư ký trong quân, kèm thêm việc viết thư chiêu hàng mấy thành bị vây từ lâu :-??. Quân mình đã đánh giặc xong hết, chỉ còn việc ngoại giao đòi Tàu nó công nhận triều đại mới thôi, anh Trãi được nổ là có tài " đánh vào lòng người", " không đánh mà người chịu khuất" mà thực tế thì lại đúc tượng người vàng Lê Lợi trong tư thế mặc áo tù, tay trói quặt quỳ gối thích chữ xin chịu tội để cống cho nó ~X(( Không phải đúc tượng Liễu Thăng, đã có bài nghiên cứu chỉ ra vụ này rồi).

Nhà Thanh thất bại 1 phần lớn vì khâu quản lý, đào tạo nhân sự thì đúng hơn. Đội ngũ quan lại, nhân lực kiểu cũ không đáp ứng được cho công cuộc cải cách. Nhiều tên chỉ ngồi đó tham nhũng, hoặc ngồi lĩnh lương, làm bộ máy cồng kềnh kém hiệu quả. Binh sĩ nhiều người chỉ " diễn" chứ ko hiểu những kỹ năng họ được đào tạo dùng để làm gì. Tiền để mua súng đạn và huấn luyện thì bị ăn bớt có hệ thống ( từ thượng tầng Từ Hy đã lấy tiền trang bị cho hạm đội đi xây vườn nghỉ mát). Chứ bảo nhà Thanh nghèo ko kham nổi nền quân sự thì ko đúng. Tàu nó ko mạt như nhà Nguyễn ta, đang lạc hậu thê lương mà nó đổ tiền ra mua 1 lúc 4 hạm đội Bắc Dương, Nam Dương, Quảng Đông, Phúc Kiến. Các hạm đội trang bị đủ từ tàu phóng lôi, thiết giáp hạm, đại bác kiểu mới, súng máy,... thì đâu thể bảo nó nghèo ( trong khi Tự Đức mua 4 chiếc tàu nhỏ vũ trang mà quan lại đã kêu hết tiền). Ngay giặc Cờ Đen, mang tiếng là thổ phỉ mà còn có cả dàn súng máy kiểu Pháp, trong khi nhà Nguyễn hiện đại nhất cũng chỉ mới có súng trường đá lửa thời Napoleon.
Nhà Lê vẫn thuần nông nếu đỉnh cao thì chỉ đủ ăn thôi chứ nói kinh tế phát triển thì không phải. Nhắc lại là miền Bắc vẫn chưa có truyền thống thương nghiệp cho đến khi người Pháp vào, trước đó chỉ là mang sản vật bán cho thương nhân nước ngoài đến mua thôi chứ không tự đi xuất khẩu. Đỉnh cao kinh tế là thời Gia Long chỉ chiếm miền Tây thôi mà nuôi được 14 vạn quân và 1200 tàu chiến. Xuất khẩu lâm thổ sản và đường.
Còn về nhà Thanh mà bảo nghèo là sai lầm. Một nước rộng và đông đúc như nước Tàu, dân cư có truyền thống thương nghiệp trên 2500 năm. Khi đó nhà Thanh vẫn là một trong nhưng nước giàu nhất thế giới so vềtổng GDP.
 
Nhà Nguyễn tụt hậu so với phương Tây chứ so với thời Lê Sơ thì tiến quá dài rồi. Đỉnh cao thời là thời Gia Long có tới 1200 chiến hạm, hàng chục chiến hạm kiểu tây tự đóng, đến thời Minh Mạng binh lính 4/10 người sử dụng súng.

Mỗi lần so sánh là ông phải so nước ta với mặt bằng thế giới/ khu vực đương thời. Chứ so đời nay với đời trước khác gì bảo VN bây giờ là thời đại giàu có lừng lẫy nhất lịch sử?:)) Hay là bảo đời Thanh mạt vẫn mạnh hơn thời Đường sơ?=))


- Về chiến hạm có lần tôi cũng research viết bài rồi. Đúng là từ Gia Long đã tiếp thu kỹ thuật đóng tàu Tây cuối TK18, nhưng 1 là cái kỹ thuật này đã sắp lạc hậu rồi. 2 là tàu nhà Nguyễn đúc ra hầu hết chỉ đáng là tàu unrate ( quá nhỏ yếu, ko đáng để xếp hạng) theo chuẩn tàu chiến Tây. Báo chí cứ ngồi nổ " tàu trang bị đến mười mấy, hai mươi mấy đại bác" mà ko biết tàu Tây nó xếp hạng theo cỡ đại bác và số đại bác từng tàu.
- Sau chiến tranh Napoleon, súng tàu Tây hầu như đều to ra gấp đôi ( dùng tới pháo 32 pounder, trong khi cái đống thần công nước ta trong bảo tàng thì cái to nhất cũng chỉ 12-24 pounder), xuất hiện cả pháo Paixhaus bắn đạn nổ, số súng cũng tăng lên. Trong 6 hạng tàu, hạng thấp nhất cũng phải 20-30 đại bác ( có cả đại bác 32pounder kể trên). Tàu trung bình của nó thì 50 pháo là bình thường. Trong khi tàu nhà mình mới 20 pháo ( toàn pháo nhỏ) đã khoe ầm ầm là hiện đại đạt chuẩn châu Âu. [-O<
- Đặc điểm thủy quân VN cho đến nhà Nguyễn là dùng rất nhiều tàu nhỏ, nghe 1400 chiến thuyền thì tưởng là mạnh chứ thực tế mỗi chiếc chỉ chất được 1-2 pháo, thậm chí gọi là pháo cho oai chứ nhiều khi chỉ là loại 6-8 pounder xách/ vác được.
- Cho nên năm 1858, Pháp nó làm cỏ cả cái quân cảng Đà Nẵng ( gồm cả tàu chiến, đồn bót) trong vòng 2 ngày. Mà trong mười mấy chiếc tàu Pháp năm đó, chỉ có đúng 1 chiếc nó xếp vào chuẩn ...tàu chiến. Còn lại toàn là gunboat unrate 4-6 pháo lớn, thậm chí là tàu đổ bộ không vũ trang. :-t
- 4/10 cầm súng thì ông còn phải coi là cầm súng gì nữa. Giai đoạn này là đại cách mạng công nghiệp, súng ống cải tiến từng năm. Bolt-action thần thánh đã chào đời vào 1840 rồi, trong khi nhà Nguyễn đến 1858 vẫn còn hồn nhiên mua musket thời CM Pháp và Napoleon, hỏi sao ko thua.
- Đó là chưa kể, nền KT yếu mà lại ko thể tự sx vũ khí, phải đi mua thì thâm hụt ngân sách càng nhanh.


* Lý do vì sao nhà Nguyễn thích đóng tàu nhỏ, tôi cho rằng vì nó rẻ, tiện di chuyển trên sông, trong khi kẻ thù của nhà Nguyễn lúc đó chủ yếu chỉ là hải tặc và Xiêm có thủy quân cũng tương tự.



Thời Minh Mạng đánh bại Thái Lan để bảo hộ Chân Lạp thì xem như đó là chiến thắng, việc đô hộ dân tộc khác gặp nhiều khó khăn khi đó nên vua Thiệu Trị mới cho rút quân về, quan cai trị Chân Lạp là Trương Minh Giản thấy vẫn còn cai trị được mà đã cho rút về thì uất ức sinh bệnh mà chết. Việc co cụm lại của Thiệu Trị làm Xiêm và Chân Lạp lấn tới đem quân sang đánh miền Tây một lần nữa nhưng bị quân nhà Nguyễn đánh đuổi sang cả Nam Vang. Như Vậy khi này Xiêm chỉ giữ được phần đất Udong còn nhà Nguyễn giữ phần đất chính của Chân Lạp là từ Nam Vang về phía Đông. Chân Lạp bấy giờ công nhận cả quyền bảo hộ của Nhà Nguyễn và Thái Lan cho đến khi Pháp vào.

Chuyện rút về thì ông phải tìm hiểu thế nước lúc đó thế nào nữa. Làm vua ai chẳng muốn mở mang bờ cõi, khùng điên đâu khơi khơi rút về.

Ngay thời Minh Mạng đã có những nạn dịch, nạn đói quy mô toàn quốc rồi. Tôi nhớ có 1 trận dịch chết đến nửa triệu người. Đê ngoài bắc thì vỡ liên miên nhưng ko có kỹ thuật tiên tiến lẫn người am hiểu nên đành bất lực ko xử lý được. Tôi đọc mới té ngửa vì sao cái vùng của Nguyễn Thiện Thuật đánh Pháp sau này được gọi là Bãi Sậy. Hóa ra là vì nó vỡ đê mười mấy năm liền, dân bỏ đi hết, nên ruộng đất biến thành 1 vùng lao sậy, giặc cướp tùm lum. [-(

Con kênh như vậy bây giờ còn khó đáo nữa chứ nói thời đó chỉ dùng tay và cuốc xẻng, caí kênh ở Sài Gòn vài km thôi cũng đã mấy ngàn tỉ, tính ra giá trị kênh Vĩnh Tế rất lớn. Dù sao phải công nhận đó là một công trình lớn để lại cho hậu thế chứ.

Vấn đề khai hoang, miền Tây là miền đất hoang vu hiểm trở, dân chỉ có thể trồng trọt ở ven sông. Bởi vậy nên người Chân Lạp chỉ bám trụ được một nhúm ở miền Tây không phát triển được dù họ có cả ngàn năm để khai phá. Sau khi tiếp quản vùng đất này thì nhà Nguyễn mới cho đào kênh, chiêu mộ dân tới khai phá, từ những vùng đất hoang vu mà khai phá được thêm 600 000 mẫu ruộng là một kỳ công so với dân số và kỹ thuật thời đó rồi. Trồng trọt ở miền Tây phải gắn liền với khu dân cư để cung cấp hậu cần, gắn liền với kênh rạch để làm thủy lợi chứ không phải theo suy nghĩ đơn giản của nhiều người là chỉ cần tới phạt cỏ trồng cây là xong. Ngay cái miền Bắc dân cư đông đúc mà còn nhiều vùng đất hoang cả ngàn năm chưa khai phá được phải nhờ nhà Nguyễn tổ chức khai phá mới được. Mọi chuyện đối với tiền nhân là không dễ dàng đừng đem con mắt thời hiện đại phán xét họ mà không hiểu hoàn cảnh khi đó.
Thời Nguyễn lúa gạo dư nhiều, nhà Nguyễn cho lập các kho cứu đói khắp nơi ở miền Bắc, ngoài ra còn giúp Thái Lan 8000 phương gạo , giúp Philippine 500 000 cân gạo cứu đói.
Thời Minh Mạng đánh bại Thái Lan để bảo hộ Chân Lạp thì xem như đó

Nhấn mạnh với bác là phải viết " với kỹ thuật của nhà Nguyễn", chứ nói " kỹ thuật thời đó" lại gây ngộ nhận rằng Anh, Pháp, Tàu, Ấn, Ottoman gì kỹ thuật cũng chỉ như vậy. ;)

Tôi ko nói kênh Vĩnh Tế ko có giá trị, nhưng so với sức người sức của bỏ ra thì công hao phí quá nhiều, và đào xong con kênh đó cũng chưa đủ để biến Tây Nam Bộ thành 1 vùng cày cấy được ( đến Tự Đức mà Hà Tiên cũng chỉ mới có 1600 mẫu ruộng).
Tôi làm 1 phép so sánh cho bác thấy:
- Kênh Vĩnh Tế: 87 km - đào 5 năm - 90 000 nhân công 2 nước gộp lại - Ko rõ chết bao nhiêu, chỉ biết là rất nhiều. Đến độ thằng Cam truyền nhau rằng dân mình giết người Cam ở đây dữ lắm ( chắc là cách giải thích nặng mùi tuyên truyền từ phía Cam).
- Đường sắt Vân Nam - Hải Phòng: 855 km =)) - xây 9 năm - 60 000 nhân công - phải đào hầm, bắc cầu vượt núi, khổ không nói hết. Chết 12 000 người.

Ông thấy 1 bên có kỹ thuật, 1 bên ko có kỹ thuật nó khác nhau như vậy đấy.

Đó là tôi chưa nói đến chuyện khai phá xong lại bỏ hoang vì ko giải quyết được vấn đề lũ lụt vỡ đê ( thời Nguyễn, ngoài Bắc bị rất trầm trọng).

Chuyện phát chẩn nó mang màu sắc ngoại giao, chính trị và chẳng đặng đừng nhiều hơn. Lập kho cứu đói thì khác gì tự thừa nhận VN thời đó thường có nạn đói =)) ( mà quả là nạn đói nhiều thật). Nó khác 1 trời 1 vực thời Lê sơ no đủ nên mới dư dả đúc súng đi đánh nước ngoài.
 
Nhà Lê vẫn thuần nông nếu đỉnh cao thì chỉ đủ ăn thôi chứ nói kinh tế phát triển thì không phải. Nhắc lại là miền Bắc vẫn chưa có truyền thống thương nghiệp cho đến khi người Pháp vào, trước đó chỉ là mang sản vật bán cho thương nhân nước ngoài đến mua thôi chứ không tự đi xuất khẩu. Đỉnh cao kinh tế là thời Gia Long chỉ chiếm miền Tây thôi mà nuôi được 14 vạn quân và 1200 tàu chiến. Xuất khẩu lâm thổ sản và đường.

Các thương cảng lớn ở miền Nam thời đó có Thanh Hà-Huế, Sài Gòn, Đà Nẵng. Sau này vì phương Tây chiếm thuộc địa nhiều quá nên nhà Nguyễn mới học theo Trung Quốc mở cửa cho Tàu. Các đội tàu buôn vẫn đi bán hàng cho Trung Quốc chung với với tàu hộ tống của triều đình, đây là thời kỳ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà chúng ta có đội tàu xuất khẩu ra nước ngoài, trước đây chỉ toàn sản xuất thủ công nghiệp, hàng thô bán cho thương nhân nước ngoài tại Việt Nam. Các mắt hàng có giá là lâm sản, đặc biệt là đường(tới thời Pháp thì đường có giá 1 quan= 1 cân, trước đó còn cao hơn nữa).

Như tôi đã nói, vào thời Lê, thuần nông cũng đủ mạnh và đài thọ các khoản, nên vấn đề thương mại ko quan trọng như sau này. Ko thể coi đó là 1 lạc hậu của nhà Lê sơ được.

Còn cái lối ngồi trên cảng chờ người tới mua thì thật sự thời Trịnh-Nguyễn nó là vậy chứ ko chỉ thời Lê. Nguyễn Hoàng hơn người ở chỗ ổng ko chỉ ngồi dọn hàng, mà còn gửi thư quảng cáo, năn nỉ bà con đến mua hàng ( vẫn còn lưu được thư Nguyễn Hoàng gửi Mạc Phủ xin đến buôn bán). Lần đầu tiên dân mình xuất ngoại buôn bán là thời Nguyễn với đội tàu buôn nhà nước như ông vừa nói.

Nhưng ông phải chú ý 1 điều: 1 hạm đội thương thuyền của riêng nhà nước thì ko bao giờ hình thành được 1 nền thương mại để kích thích sx trong nước cả. Nó chỉ là 1 dạng bao cấp đóng cửa mà thôi.

Hỏi mỗi năm, nhà Nguyễn có bao nhiêu chiếc tàu đi buôn? Nguyễn Thế Anh tra thực lục cho biết trong 5 năm từ 1835-1840, thực tế chỉ có 20 chuyến tàu đi buôn. 20 chuyến trong 5 năm trời thì hỏi có gọi đó là nền thương mại không?

Tôi không biết thông tin 1 cân đường = 1 quan ông lấy ở đâu ra ( mà " quan" đây là tiền VN hay ám chỉ đồng franc Pháp, hay đồng piastre?). Nhưng bảng giá hàng của Nguyễn Thế Anh thì ghi 100 cân đường cát giá có 5,5-6 đồng bạc Giang Lưu Ba ( Indonesia). Trong khi 1 cây súng máy đá mới lúc đó đã có giá 2,5-3 đồng bạc/ khẩu.

= > Ông bán 100 cân đường mà chỉ đủ mua chừng 2 khẩu. Đã thế, trong 5 năm chỉ có chừng 20 chuyến hàng đi buôn, thì hỏi đây là nền thương mại gì?

Những mặt hàng được giá, theo Nguyễn Thế Anh là
+ngà voi ( 100 cân = 115-120 đồng);
+ đồng ( 100 cân = 40 đồng)


Nhưng mấy thứ lâm thổ sản này vốn ko phải là loại có nhiều để bán, mà nó cũng chỉ là dạng " đào - bán" chứ ko có tác dụng kích thích phát triển hạ tầng sx trong nước.
 
trong đây chắc có GV môn LS :5cool_sweat:
 
Nói thiệt là mềnh được mở rộng tầm mắt, nếu mấy bác có hứng thì cứ tiếp tục cũng hay, đằng nào truyện cũng đang break, chả có gì để chém :1onion75: Mềnh nói chung cũng thích lịch sử các kiểu nhưng không có thời gian ngồi lục tài liệu, được đợt có mấy bác hiểu biết tìm hiểu sâu thế này hay phết :cuteonion37: Như cái khoản tàu pháo trước giờ mềnh cũng chỉ mù mờ kiểu nhà Nguyễn đóng tàu kiểu tây, còn cụ thể các loại như này thì giờ mới biết :cuteonion37:
 
^^ giáo viên ls sợ trình độ đéo có bằng đâu :))

nói thiệt là xem chém gió về sử còn biết nhiều hơn 12 năm học sử chứ đùa àh =))
 
VN ngày xưa vốn truyền thống thủy quân ( chứ ko phải du kích, du kích là do các cụ thành công quá nên giờ thế giới lẫn VN ai ai cũng hiểu nhầm). Vậy nên muốn tìm hiểu quân đội VN xưa thì buộc phải tìm hiểu về tàu bè.

Nếu đọc sử bác sẽ thường nghe đến tàu bọc đồng đời Nguyễn. Thật ra cái tàu này cũng ko phải phát minh gì mới mẻ của ta lẫn Tây, mà nó cũng ko phải tàu thiết giáp. Tàu ngày xưa, thời age of sail ( cướp biển Caribe), do thân bằng gỗ nên thường bị bọn sinh vật biển ăn đục thân ( google con móng tay để biết thêm chi tiết). Vì vậy, sau mỗi chuyến đi người ta lại phải lật tàu ra vệ sinh, sửa lại. Cuối cùng có người nghĩ ra 1 cách đỡ nhọc hơn là bọc 1 lớp kim loại chống mọt. Và tác dụng của tàu bọc đồng chỉ có thế. =))

https://en.wikipedia.org/wiki/Copper_sheathing

thiết giáp hạm chỉ thực sự được áp dụng vào 185X, nguyên chính là do xuất hiện pháo bắn đạn nổ Paixhaus nên các tàu gỗ kiểu cũ bị nã chìm như ruồi ( khác với ngày xưa, 2 tàu chạy // nã hàng loạt đạn đặc vào nhau, rất lâu chết).

Muốn tìm hiểu về sức mạnh hải quân giai đoạn TK18-đầu TK19 thì phải so qua bảng xếp hạng tàu ~^o^~:
+ tàu có bao nhiêu pháo
+ pháo trên tàu lớn cỡ nào
Về sau còn thêm vài mục:
+ có pháo Paixhaus không

Cái link dưới đây trình bày cả 2 bảng xếp hạng tàu thời trước Napoleon và Napoleon. Nói chung, hải quân nước mình thời chúa Nguyễn tuy ko bằng Tây nhưng đấu nhau cũng ko đến độ thua. Nhưng từ Napoleon trở đi, kỹ thuật phát triển ngày càng thần tốc nên ko còn cứu vãn gì được nữa^:)^:
https://en.wikipedia.org/wiki/Rating_system_of_the_Royal_Navy

Từ đời cụ Hồ Nguyên Trừng và Lê Lợi trở đi, VN rành súng đạn lắm, phải nó là hàng top khu vực về súng ống, nên cũng phải tìm hiểu về hỏa khí nữa ( đến đời Nguyễn mới tụt hậu). Tôi đồ cái giai thoại " muốn bắn phải thắp nhang, đổ thuốc" có lẽ là tay nào thời Pháp thuộc chém gió ra (:|. Chứ 1 dân tộc xài thuốc súng hơn nửa thiên niên kỷ có phải ngu dốt gì đâu mà làm chuyện tào lao đó[-(.
---------------------------------------------


Lạc đề quá rồi.

Quay lại với đời Tần. Theo các bác, làm thế nào mà bác Chính có thể đập chết cả 7 nước chỉ trong 10 năm? @-)

Không lẽ 7 nước kia đều đã quá suy thoái đến mức gió thổi cũng bay? Đành rằng nhà Tần mạnh nhất lúc ấy, nhưng cũng ko đến độ cách biệt thực lực quá xa như kiểu Việt Nam đánh với Mỹ được. Nếu không thì vì cái gì?

10 năm đập chết 7 nước, thật là chuyện chấn động ko khác gì giả định đời Nguyễn trong 10 năm làm thịt cả Cam, Vientiane, Luong Phrabang, Champasak, Xiêm, Lanna, Miến vậy.:-t ( Dù 3 nước Champasak, Vientiane, Luong Phrabang cũng chỉ là 3 phần của Lào bây giờ).
 
Chỉnh sửa cuối:
^
- tinh thần anh dũng và yêu nước nồng nàn của quân và dân Tần
- sự lãnh đạo sáng suốt tài tình của đ.. àh nhầm của vua quan nhà Tần
- sự hủ bại phản cách mạng của các tập đoàn phong kiến 6 nước
 
không phải 10 năm đâu mà quá trình đó là cả trăm năm đó

đánh dần đánh mòn, nhưng đến đời Tần Thủy Hoàng thì dọn sạch thôi
 
thê thời nguyễn ngoai cai côn`g khai khẩn thi` không co gi nổi trội vê thủ công mỹ nghệ hay kỹ thuật gi a ( Minh mạng lam` nerf vn thảm qua khi tôn sung Nho giáo k cả cách mở cửa như Nguyễn ánh)
 
Nguyễn Ánh nào mở cửa, lúc đó chẳng qua mới nhờ vả mấy thằng Pháp, không tiện trở mặt ngay sợ nó vác súng tới tận Đại Nội đòi nợ nên nhả ra tí lợi lộc cá nhân cho bọn giúp sức chứ về căn bản đối ngoại với Pháp nói riêng và bọn tây nói chung vẫn là 2 chữ "đóng cửa" :1onion75: Còn Minh Mạng thì, cứ theo mềnh thấy, đối nội quá giỏi khiến cho hết quan đến dân nổi lên làm loạn như rươi, về đối ngoại lại chính là người đầu tiên tạo cớ cho bọn Pháp kiếm chuyện sau này :1onion75: Nói về công lao của Minh Mạng thì mềnh thấy có mỗi cái Minh Mạng Thang là đáng giá :2onion2:
 
thê thời nguyễn ngoai cai côn`g khai khẩn thi` không co gi nổi trội vê thủ công mỹ nghệ hay kỹ thuật gi a ( Minh mạng lam` nerf vn thảm qua khi tôn sung Nho giáo k cả cách mở cửa như Nguyễn ánh)

tinh thần thời đại nửa đầu TK19 nó khác thời chúa Nguyễn TK17 rồi.

- Thời chúa Nguyễn chỉ cần mở cảng, gửi thư chào hàng thì người ta sẽ đến buôn bán, sẽ có tiền. Bật quảng cáo tuyển người là sẽ có Tây đến tư vấn mở xưởng đúc súng kiểu Tây liền. Kỹ thuật 2 bên ko xa nhau nhiều nên học tập sử dụng cũng dễ. Tây Mua hàng mà thiếu tiền thì có thể lấy ngay đại bác trên tàu bán thay tiền. Quân Tây ở viễn đông cũng không quá mạnh để phải lo âu ( đến Campuchia còn có 1 lần rượt quân Hà Lan chạy như vịt).
- Đến thời cuối TK18-đầu TK19, nhân loại bắt đầu sang thời cách mạng công nghiệp. Kỹ thuật sx ngày càng phức tạp, đắt tiền, đòi hỏi nhân lực có đào tạo, tay nghề theo kiểu mới chứ không còn như trước nữa. Giá thành để mua và huấn luyện sử dụng những kỹ thuật này cũng cao hơn nhiều. ( Nội cái tuyến đường sắt Mỹ Tho - Chợ Lớn ngắn ngủn đã 11 triệu piastre, gấp hơn 5 lần ngân sách 1 năm của nhà Nguyễn rồi). Đã vậy, trong thời đại bùng nổ này, kỹ thuật mới thay thế kỹ thuật cũ theo từng thập niên chứ ko phải từng thế kỷ nữa ( từ CM Pháp đến khi Pháp đánh VN 1858, chỉ riêng kỹ thuật hải quân tính ra phải 3 lần nhảy vọt với sự phát minh ra pháo bắn đạn nổ, cỡ pháo lớn hơn, tàu hơi nước và tàu thiết giáp).

Cùng lúc đó, việc dọn hàng ngồi ngoài cảng chờ khách đến mua cũng đã hết thời rồi. Các khu thuộc địa phương Tây xuất hiện ngày càng nhiều trong khu vực. Từ giữa TK18, người Tây đến bán ngày càng ít đi trong khi chúa Nguyễn tăng thuế nhập cảng ngày càng cao. Trình độ kỹ thuật VN vẫn y xì như trước trong khi phương Tây phát triển như vũ bão, mức sống dân chúng cũng ngày càng xa nhau khi người VN quá nghèo, ko mua nổi những mặt hàng phương Tây sx theo kỹ thuật mới. Nền sx với kỹ thuật kiểu cũ cũng khủng hoảng khi đụng phải tình hình mới ( đồng bằng sông Hồng vỡ đê liên miên, Minh Mạng bất lực không biết làm sao để xử lý) trong khi triều đình ko có tư duy/ ý thức thay đổi hạ tầng kỹ thuật VN tận gốc rễ.

Trong tư duy của Minh Mạng vẫn là tư duy như thời chúa Nguyễn ( thật ra tới giờ vẫn còn rất nhiều tay có suy nghĩ như vậy). Đó là giữ nguyên cơ sở xã hội, bộ máy nhà nước, trình độ nhân lực như cũ, chỉ cần...mua vũ khí phương Tây là đủ. Đa phần dân châu Á lúc đó đinh ninh mình ko thua kém gì phương Tây trừ vũ khí, nhưng đó thực ra chỉ là bề nổi tảng băng. Cho nên Minh Mạng thật ra cũng rất tích cực mua sắm súng đạn, la bàn cho quân. Đến cuối đời cũng có thử nghiệm đóng được 3-4 tàu hơi nước ( sớm hơn cả Xiêm). Nhưng 1 - 2 cái tàu máy, vài trăm vài nghìn cây súng mua ko thể nào thay đổi được bộ mặt 1 nền quân sự kiểu cũ. Ngược lại, nền KT kiểu cũ với thu nhập ít ỏi sẽ dần dần quá tải nếu triều đình cứ tiếp tục " cày ruộng bằng trâu, bán gạo để mua hàng nhà máy" ( nhập siêu). Như hồi nãy tôi có nói là theo Nguyễn Thế Anh: 100 cân đường cát VN chỉ đủ mua tối đa 2 cây...súng trường Tây. Đến đầu thời Tự Đức, nước ta đã khủng hoảng KT trầm trọng rồi.

Nói ngắn gọn, sai lầm của Minh Mạng nằm ở các điểm:
- Thay vì tiếp thu học tập hàng loạt kỹ thuật mới, ông ta cho rằng mua + " upgrade bản patch vá lỗi" ( rất nhỏ giọt) là đủ.
- Thay vì phát triển kỹ thuật cả 2 mặt quân sự và Kinh tế để cái sau đài thọ cho cái trước, ông ta cho rằng chỉ cần phát triển kỹ thuật quân sự là đủ ( mà là bằng cách mua vũ khí).
- Dùng " hoa lơi" của nền KT với kỹ thuật sx thời phong kiến để mua sắm những thứ hàng hóa, vũ khí của thời công nghiệp. - > dần dần hết tiền.
- Tiến độ học tập và ứng dụng kỹ thuật rề rề kiểu chắp vá trong khi thế giới nhảy vọt và mass equip theo từng thập niên. Nhanh ngoài sức tưởng tượng của dân ta.

Tôi nói 1 cái vd về sự phát triển kỹ thuật của nền hải quân phương Tây lúc đó và nhà Nguyễn:
- Phương Tây:
+ vào thời Napoleon ( 1800-1820, tương đương đời Gia Long), tàu chiến có súng ngày càng lớn so với trước.
+ Cùng thời gian này, người ta đã tiến hành thử nghiệm tàu hơi nước.
+ Suốt 1820-1840 (tương đương đời Minh Mạng), phương Tây dần hoàn thiện ko chỉ 1 mà là 4 kỹ thuật mới cho hải quân là pháo bắn đạn nổ Paixhaus, nòng súng có khương tuyến, phát minh hạt nổ và động cơ hơi nước.
+ Giai đoạn 1840-1850, tức là chỉ 10 năm, phương Tây mass equip cả 4 kỹ thuật trên vào quân sự, bao gồm cả hải quân.
+ Đến chiến tranh Crimea ( 1853-1856) và Nội Chiến Mỹ, các kỹ thuật mới này lần đầu tiên ra chiến trường, phát huy ưu thế vượt trội so với kỹ thuật thời Napoleon lẫn thời TK18. Cùng thập niên 1850, bắt đầu hoàn thiện kỹ thuật chế tạo tàu thiết giáp, súng máy và súng trường bolt-action.

- nhà Nguyễn:
+ Giai đoạn 1790, Nguyễn Ánh khi đánh Tây Sơn đã được lĩnh hội 1 số kỹ thuật đóng tàu kiểu Tây ( tàu bọc đồng). Nhà Nguyễn học và áp dụng kỹ thuật này vào lúc nó đang dần biến thành...lỗi thời ( xem mục về phương Tây ở trên).
+ Các tàu chiến nhà Nguyễn vẫn giữ nguyên số pháo và cỡ pháo như thời chúa Nguyễn - nghĩa là yếu so với cả chuẩn Tây TK18, chỉ áp dụng thêm mỗi kỹ thuật bọc đồng. Chưa nói đến không phải tàu chiến nào cũng được bọc đồng.
* Nhà Nguyễn đóng với cả nghìn tàu chiến, nhưng rất nhiều " tàu chiến" nhà NGuyễn kỳ thực chỉ có 2-3 thần công cỡ 6-8 pounder/ chiếc, trong khi Tây đương thời dùng loại 32 pounder.8-}
+ 1838-1841, Minh Mạng mới nhận ra và cho thử nghiệm đóng tàu hơi nước. Người Việt lúc đó đóng được 3 tàu hơi nước cỡ nhỏ( sớm hơn Xiêm 20 năm).
+ Đóng tàu chạy được, nhưng ko có khả năng mass product hàng loạt do công nghệ lạc hậu. Đến thập niên 1840 đời Thiệu Trị, việc học tập kỹ thuật này vẫn tiếp tục nhưng rất chậm, mấy năm trời cũng chỉ rị mọ đóng thêm được 2-3 tàu nữa. Trong khi Tây cùng lúc nó mass upgrade cả rồi.
+ Cùng lúc đó, ko có 1 dự án nào học tập và chế tạo các kỹ thuật quân sự khác ( tăng cỡ nòng pháo, pháo bắn đạn nổ, khương tuyến, ...). Súng đạn của nhà Nguyễn vẫn là thần công kích cỡ thời TK18, súng trường mua sắm vẫn là musket thời Napoleon và CM Pháp.

= > Đến đời Tự Đức, sau hàng thập niên upgrade quân sự kiểu mua hàng này, triều đình đã khủng hoảng. Ko còn đủ tiền để tiến hành huấn luyện bắn súng cho quân đội ( dù là súng thời Napoleon lạc hậu). Xuất hiện huyền thoại " binh sĩ tập bắn 6 phát/ năm, bắn thêm tự trả tiền.". Kết quả là ở trận Đồn Chí Hòa, quân Pháp do gặp trục trặc, phải hành quân và vận đại bác đến gần sát chân đồn để bắn, vậy mà lính ta bắn ra cả buổi chỉ chết có...12 ông Tây ( nếu tôi nhớ đúng). :-bd

+ tư duy kiểu cũ còn cho thấy ở cách cầm quân của Nguyễn Tri Phương. Ông này rất thích tỏ máu yên hùng bằng cách chạy lên tuyến đầu chỉ huy. Từ thời đánh Xiêm 184X ổng đã được ca ngợi vì vụ giương lọng to đi tuyến đầu ko sợ đạn giặc bắn =)). Nhưng vào 1858, súng trường Pháp đều đã có khương tuyến, đạn bắn ra xa và chính xác ( súng musket Napoleon tỉ lệ bắn trúng 1 mục tiêu cách 100 met chỉ là 1/33 =))). Kết quả là lần nào ổng cầm lọng lên tuyến đầu cũng bị bắn gục trong vài nốt nhạc, quân ta mất tướng vỡ trận có khi chỉ trong 1 giờ :)) ( vụ Hà Nội 1873).


cho nên tinh thần thời đại nửa đầu TK19 tổng kết là: tốc độ, hàng loạt, thay đổi liên tục, lấy KT và thương mại vững mạnh để đài thọ quân sự và kỹ thuật. Kiểu nghèo nghèo rề rề từ từ không sống nổi đâu.[-(
 
Chỉnh sửa cuối:
1 trong những thành tựu học tập nhỏ giọt của nhà Nguyễn:

Dưới đây là bản đồ thành Gia Định do họa sĩ Việt Nam là Trần Văn Học phụng mệnh vẽ theo lệnh triều đình. Kỹ thuật vẽ bản đồ hoàn toàn theo chuẩn phương Tây lúc đó, xem rất rõ ràng, dễ hiểu, gần với bản đồ hiện đại.:-bd

B%E1%BA%A3n-%C4%91%E1%BB%93-S%C3%A0i-G%C3%B2n-Gia-%C4%90%E1%BB%8Bnh-do-Tr%E1%BA%A7n-V%C4%83n-H%E1%BB%8Dc-v%E1%BA%BD-n%C4%83m-1815.jpg


Trận đại Đồn Chí Hòa. Ngay cả khi Pháp mất lợi thế tầm xa ( phải kéo pháo và đưa quân đến gần đồn) thì thiệt hại mà quân Nguyễn có thể gây ra vẫn rất thấp: 12 người chết, 255 người bị thương.8-}

https://fr.wikipedia.org/wiki/Bataille_de_Ky_Hoa

Cái này đến gần đây tui chơi Battlefield 1 mới hiểu. Cầm súng snipe cả chục tên địch đang chạy ngang qua mà bắn mãi vẫn ko trúng tên nào:((. Quân ko luyện súng thường xuyên thì nó vậy đó.
 
Chỉnh sửa cuối:
Như tôi đã nói, vào thời Lê, thuần nông cũng đủ mạnh và đài thọ các khoản, nên vấn đề thương mại ko quan trọng như sau này. Ko thể coi đó là 1 lạc hậu của nhà Lê sơ được.

Còn cái lối ngồi trên cảng chờ người tới mua thì thật sự thời Trịnh-Nguyễn nó là vậy chứ ko chỉ thời Lê. Nguyễn Hoàng hơn người ở chỗ ổng ko chỉ ngồi dọn hàng, mà còn gửi thư quảng cáo, năn nỉ bà con đến mua hàng ( vẫn còn lưu được thư Nguyễn Hoàng gửi Mạc Phủ xin đến buôn bán). Lần đầu tiên dân mình xuất ngoại buôn bán là thời Nguyễn với đội tàu buôn nhà nước như ông vừa nói.

Nhưng ông phải chú ý 1 điều: 1 hạm đội thương thuyền của riêng nhà nước thì ko bao giờ hình thành được 1 nền thương mại để kích thích sx trong nước cả. Nó chỉ là 1 dạng bao cấp đóng cửa mà thôi.

Hỏi mỗi năm, nhà Nguyễn có bao nhiêu chiếc tàu đi buôn? Nguyễn Thế Anh tra thực lục cho biết trong 5 năm từ 1835-1840, thực tế chỉ có 20 chuyến tàu đi buôn. 20 chuyến trong 5 năm trời thì hỏi có gọi đó là nền thương mại không?

Tôi không biết thông tin 1 cân đường = 1 quan ông lấy ở đâu ra ( mà " quan" đây là tiền VN hay ám chỉ đồng franc Pháp, hay đồng piastre?). Nhưng bảng giá hàng của Nguyễn Thế Anh thì ghi 100 cân đường cát giá có 5,5-6 đồng bạc Giang Lưu Ba ( Indonesia). Trong khi 1 cây súng máy đá mới lúc đó đã có giá 2,5-3 đồng bạc/ khẩu.

= > Ông bán 100 cân đường mà chỉ đủ mua chừng 2 khẩu. Đã thế, trong 5 năm chỉ có chừng 20 chuyến hàng đi buôn, thì hỏi đây là nền thương mại gì?

Những mặt hàng được giá, theo Nguyễn Thế Anh là
+ngà voi ( 100 cân = 115-120 đồng);
+ đồng ( 100 cân = 40 đồng)


Nhưng mấy thứ lâm thổ sản này vốn ko phải là loại có nhiều để bán, mà nó cũng chỉ là dạng " đào - bán" chứ ko có tác dụng kích thích phát triển hạ tầng sx trong nước.

Giá cả : 1 quan 1 cân đường,60 quan một tạ cau khô, 60 quan 1 tạ dầu, dầu dừa 8 quan 10 lít.....
Số thương thuyền ở Gia Định 1865: 20000 thuyền.
Một quan tiền Việt=600 đồng kẽm=một quan Pháp (Lịch sử khẩn hoang miền Nam).
Một nén bạc 100 quan ( 374g).
Một nén vàng 1500 quan (336g).


Mỗi lần so sánh là ông phải so nước ta với mặt bằng thế giới/ khu vực đương thời. Chứ so đời nay với đời trước khác gì bảo VN bây giờ là thời đại giàu có lừng lẫy nhất lịch sử?:)) Hay là bảo đời Thanh mạt vẫn mạnh hơn thời Đường sơ?=))


- Về chiến hạm có lần tôi cũng research viết bài rồi. Đúng là từ Gia Long đã tiếp thu kỹ thuật đóng tàu Tây cuối TK18, nhưng 1 là cái kỹ thuật này đã sắp lạc hậu rồi. 2 là tàu nhà Nguyễn đúc ra hầu hết chỉ đáng là tàu unrate ( quá nhỏ yếu, ko đáng để xếp hạng) theo chuẩn tàu chiến Tây. Báo chí cứ ngồi nổ " tàu trang bị đến mười mấy, hai mươi mấy đại bác" mà ko biết tàu Tây nó xếp hạng theo cỡ đại bác và số đại bác từng tàu.
- Sau chiến tranh Napoleon, súng tàu Tây hầu như đều to ra gấp đôi ( dùng tới pháo 32 pounder, trong khi cái đống thần công nước ta trong bảo tàng thì cái to nhất cũng chỉ 12-24 pounder), xuất hiện cả pháo Paixhaus bắn đạn nổ, số súng cũng tăng lên. Trong 6 hạng tàu, hạng thấp nhất cũng phải 20-30 đại bác ( có cả đại bác 32pounder kể trên). Tàu trung bình của nó thì 50 pháo là bình thường. Trong khi tàu nhà mình mới 20 pháo ( toàn pháo nhỏ) đã khoe ầm ầm là hiện đại đạt chuẩn châu Âu. [-O<
- Đặc điểm thủy quân VN cho đến nhà Nguyễn là dùng rất nhiều tàu nhỏ, nghe 1400 chiến thuyền thì tưởng là mạnh chứ thực tế mỗi chiếc chỉ chất được 1-2 pháo, thậm chí gọi là pháo cho oai chứ nhiều khi chỉ là loại 6-8 pounder xách/ vác được.
- Cho nên năm 1858, Pháp nó làm cỏ cả cái quân cảng Đà Nẵng ( gồm cả tàu chiến, đồn bót) trong vòng 2 ngày. Mà trong mười mấy chiếc tàu Pháp năm đó, chỉ có đúng 1 chiếc nó xếp vào chuẩn ...tàu chiến. Còn lại toàn là gunboat unrate 4-6 pháo lớn, thậm chí là tàu đổ bộ không vũ trang. :-t
- 4/10 cầm súng thì ông còn phải coi là cầm súng gì nữa. Giai đoạn này là đại cách mạng công nghiệp, súng ống cải tiến từng năm. Bolt-action thần thánh đã chào đời vào 1840 rồi, trong khi nhà Nguyễn đến 1858 vẫn còn hồn nhiên mua musket thời CM Pháp và Napoleon, hỏi sao ko thua.
- Đó là chưa kể, nền KT yếu mà lại ko thể tự sx vũ khí, phải đi mua thì thâm hụt ngân sách càng nhanh.


* Lý do vì sao nhà Nguyễn thích đóng tàu nhỏ, tôi cho rằng vì nó rẻ, tiện di chuyển trên sông, trong khi kẻ thù của nhà Nguyễn lúc đó chủ yếu chỉ là hải tặc và Xiêm có thủy quân cũng tương tự.





.

Đầu tiên Nguyễn Ánh đóng tàu theo kiểu Frigate của Pháp, loại 26 đại bác bắn đạn 12 pounder,3 chiếc nâng cấp lên 32 đại bác(gắn thêm 6 cái 6 pounder). Loại tàu này xuất hiện nữa cuối thế kỷ 18 sau chiến tranh Napoleon, được sử dụng trong chiến tranh độc lập Hoa Kỳ, cách mang Pháp cuối TK 18.
Năm Nguyễn Ánh mua tàu để tháo ra copy từng chi tiết rồi đóng một loạt tàu giống vậy là 1793, năm mà chiếc frigate 26 súng x 12 ponunder của Pháp đầu tiên hạ thủy là 1748. Năm cuối cùng Pháp đóng một tàu 12 pounder là 1768. Như vậy Nguyễn Ánh chậm so với công nghệ đóng tàu của Pháp là 21 năm, loại tàu này vẫn được sử dụng đến 1800. Hải quân Anh sử dụng đến 1818.
Nhờ những tàu chiến kiểu Âu này mà thủy quân nhà Nguyễn mới đánhbại được 2 tàu Định Quốc mang 50-60 khẩu địa bác và 40 tàu lớn cùng hàng trăm thuyền chiến nhỏ của Tây Sơn áng ngữ đầm Thị Nại.
Số tàu Nguyễn Ánh đóng đợt đầu là 3 chiếc 32 súng và 6 chiếc 12 súng. Đến 1896 đóng thêm 15 chiếc, 1800 15 chiếc....Tính cả só thuyền nhỏ đi theo là cả 1200 thuyền. Tuổi thọ của tàu chiến gỗ khoang 20-30 năm là cùng.
Đến thời Tự Đức bế quan tỏa cảng, kinh tế eo hẹp, quân lực giảm sút,không có tiền đóng hạm đội như 50 năm trước đó. 10 người lính chỉ có một người có súng, tập bắn 6 phát/năm. Nên khi Tây vào thì không chống nổi.
Ngay cả nhà Thanh cũng bị Pháp bắn nát hải cảng Phúc Châu , đánh chìm hạm đội Nam Dương, mất quyền bảo hộ Việt Nam năm 1884, 1885. Nhà Thanh là nước GDP cao nhất thế giới cuối TK 18.
 
-Đầu tiên Nguyễn Ánh đóng tàu theo kiểu Frigate của Pháp:
+ loại 26 đại bác bắn đạn 12 pounder,
+ 3 chiếc nâng cấp lên 32 đại bác(gắn thêm 6 cái 6 pounder).
Loại tàu này xuất hiện nữa cuối thế kỷ 18 sau chiến tranh Napoleon, được sử dụng trong chiến tranh độc lập Hoa Kỳ, cách mang Pháp cuối TK 18.

Năm Nguyễn Ánh mua tàu để tháo ra copy từng chi tiết rồi đóng một loạt tàu giống vậy là 1793,
năm mà chiếc frigate 26 súng x 12 ponunder của Pháp đầu tiên hạ thủy là 1748.
Năm cuối cùng Pháp đóng một tàu 12 pounder là 1768. Như vậy Nguyễn Ánh chậm so với công nghệ đóng tàu của Pháp là 21 năm, loại tàu này vẫn được sử dụng đến 1800. Hải quân Anh sử dụng đến 1818.

Nhờ những tàu chiến kiểu Âu này mà thủy quân nhà Nguyễn mới đánh bại được 2 tàu Định Quốc mang 50-60 khẩu địa bác và 40 tàu lớn cùng hàng trăm thuyền chiến nhỏ của Tây Sơn áng ngữ đầm Thị Nại.

Số tàu Nguyễn Ánh đóng đợt đầu là 3 chiếc 32 súng6 chiếc 12 súng. Đến 1896 đóng thêm 15 chiếc, 1800 15 chiếc....Tính cả só thuyền nhỏ đi theo là cả 1200 thuyền. Tuổi thọ của tàu chiến gỗ khoang 20-30 năm là cùng.
Đến thời Tự Đức bế quan tỏa cảng, kinh tế eo hẹp, quân lực giảm sút,không có tiền đóng hạm đội như 50 năm trước đó. 10 người lính chỉ có một người có súng, tập bắn 6 phát/năm. Nên khi Tây vào thì không chống nổi.
Ngay cả nhà Thanh cũng bị Pháp bắn nát hải cảng Phúc Châu , đánh chìm hạm đội Nam Dương, mất quyền bảo hộ Việt Nam năm 1884, 1885. Nhà Thanh là nước GDP cao nhất thế giới cuối TK 18.

Không biết bác kiếm đâu ra thông tin " năm mà chiếc frigate 26 súng x 12 ponunder của Pháp đầu tiên hạ thủy là 1748", link dưới đây cho thấy chỉ riêng Pháp đã đóng những chiếc tàu trên 40 pháo từ tận giữa TK17, trước thời Tây Sơn đến 150 năm rồi:

https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_ships_of_the_line_of_France#Louis_XV_.281715_to_1774.29

Và những gì bác cung cấp về thủy quân Nguyễn Ánh cũng không khác gì những điều tôi đã nói ở các bài trước:
- Nguyễn Ánh đã tiếp thu kỹ thuật đóng tàu phương Tây vào cuối TK18.
- Tàu do Nguyễn Ánh đóng tuy vậy thường nhỏ hơn tàu theo chuẩn Tây. Cứ tạm so theo số súng ( ko tính cỡ súng) thì chiếc vũ trang mạnh nhất là 32 pháo kia cũng chỉ tương đương tàu hạng 5 hạng 6 ( hạng bét) theo bảng xếp hạng tàu Tây chuẩn cuối TK18.
- Cỡ pháo mà Nguyễn Ánh trang bị cho hải quân ngay thời Tây Sơn cũng đã lạc hậu so với chuẩn Tây cùng thời rồi ( pháo nhỏ hơn).
- Hầu hết trong số 1200 tàu thời Nguyễn Ánh không vào được bảng xếp hạng tàu ( theo bác thông tin thì tối đa chỉ có chừng 33 chiếc đủ chuẩn).

https://en.wikipedia.org/wiki/Ratin...econd_and_third_rates_.28ships_of_the_line.29

Nên nhớ là giai đoạn CM Pháp, tàu hạng 6 của Tây tuy cũng 20-30 súng, nhưng súng nó phần nhiều to hơn súng của tàu Nguyễn hết rồi:

For instance, Bonne Citoyenne was a 20-gun corvette of the French Navy that the British captured and recommissioned in the Royal navy as the 20-gun sloop and post ship HMS Bonne Citoyenne. She carried two 9-pounder cannon and eighteen 32-pounder carronades.

= > chiếc hạng 6 này đóng năm 1796, trang bị đến 18 khẩu 32 pounder trong khi chỉ có 9 khẩu 9 pounder.

Như tôi đã nói lần trước, đến thời Napoleon, ko chỉ số pháo mà cả cỡ pháo đều tăng lên. Thời Napoleon, tàu nhỏ mang pháo 32 pounder là chuyện bình thường. Vậy thì cái đống tàu chất pháo 6-12 pounder của Nguyễn Ánh đánh làm sao với nó?

Đây là link danh sách tàu ship of the line ( tàu hạng 1 - 4 theo bảng xếp hạng, thường 40-50 pháo trở lên, chưa tính đến cỡ pháo) mà Pháp đóng. Chỉ riêng thời Louis XVI mang tiếng nợ nần chồng chất mà cũng đóng mới hơn 150 chiếc.
https://en.wikipedia.org/wiki/List_...cquired_from_foreign_navies_1805.E2.80.931810

Còn đây là link danh sách frigate của Pháp ( tương đương tàu hạng 5-6 tức hạng bét):
https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_French_sail_frigates#8-pounder_armed_frigates

Theo thông tin trong link:
- Pháp đã ngừng đóng loại tàu dùng súng 8 pounder từ mười mấy năm trước khi Nguyễn Ánh tập đóng tàu ( 177X so với 1793).
- Loại tàu dùng pháo 12 pounder đã ngừng đóng thêm từ 1799, tức 3 năm trước khi Nguyễn Ánh diệt Tây Sơn ở Thị Nại.
- Chỉ có tàu dùng súng 18 poundercòn được đóng suốt thời Napoleon - tương đương đời Gia Long. Loại này cũng ngừng đóng luôn khi chiến tranh chấm dứt

Vấn đề là sau thời Napoleon thì chuẩn tàu hoàn toàn thay đổi, nhiều pháo và pháo to hơn trước. Dưới đây là 1 số tàu được đóng vào giai đoạn tương đương thời Minh Mạng:

Héliopolis class (46-gun type, 1830 design by Jean-Baptiste Hubert, with 26 x 18-pounder guns, 16 x 30-pounder carronades and 4 x 30-pounder shell guns):
  • Erigone, (launched 27 September 1836 at Saint-Servan) – deleted 31 December 1864.
  • Africaine, (launched 9 August 1839 at Saint-Servan) – deleted 7 March 1867.
  • Chartre, (launched 6 August 1842 at Brest) – renamed Constitution 28 February 1849; deleted 31 December 187
  • Jeanne d'Arc class (58-gun type, 1819 design by Charles-Michel Simon, with 30 x 24-pounder and 2 x 18-pounder guns, and 26 x 36-pounder carronades):
    • Jeanne d'Arc, (launched 5 August 1820 at Brest) – deleted 26 October 1833.
    • Amazone, (launched 1 May 1821 at Brest) – deleted 13 March 1841.
  • Clorinde class (58-gun type, 1819 design by Louis-Jean-Baptiste Bretocq, with 30 x 24-pounder and 2 x 18-pounder guns, and 26 x 36-pounder carronades):
    • Clorinde, (launched 5 February 1821 at Cherbourg) – deleted 26 October 1833.
  • Vestale class (58-gun type, 1820 design by Paul Filhon, comprising 30 x 24-pounder and 2 x 18-pounder guns, and 26 x 36-pounder carronades):
    • Vestale, (launched 6 May 1822 at Rochefort) – deleted 26 May 1831.
    • Vénus, (launched 11 March 1823 at Lorient) – deleted 1847.
    • Atalante, (launched 2 April 1825 at Lorient) – deleted 28 December 1850.
  • Marie Thérèse class (58-gun type, 1820 design by Gustave-Benoît Garnier, comprising 30 x 24-pounder and 2 x 18-pounder guns, and 26 x 36-pounder carronades):
    • Marie Therese, (launched 17 May 1823 at Toulon) – renamed Calypso 9 August 1830; deleted 23 April 1856.
    • Syrène, (launched 25 July 1823 at Toulon) – deleted 20 July 1861.
  • Artémise class (52-gun type, 1826 design by Jean-Baptiste Hubert):
    • Artémise, (launched 1828 at Lorient) – deleted 3 October 1840.
    • Andromède, (launched 5 April 1833 at Lorient) – deleted 24 October 1860.
    • Néréide, (launched 17 February 1836 at Lorient) – deleted 30 December 1887.
    • Gloire, (launched 1837 at Rochefort) – wrecked 10 August 1847 off Korea.
    • Cléopâtre, (launched 23 April 1838 at Saint-Servan) – deleted 31 December 1864.
    • Danaé, (launched 23 May 1838 at Saint-Servan) – fitted as steam frigate 1857 – deleted 18 January 1878.
  • Surveillante class, (60-gun first rate type, 1823 design by Mathurin-François Boucher, with 30 x 30-pounder guns, 28 x 30-pounder carronades and 2 x 18-pounder guns – later units had altered 60-gun armament):
    • Surveillante, (launched 29 September 1825 at Lorient) – deleted 22 August 1844.
    • Belle Gabrielle, (launched 28 June 1828 at Cherbourg) – renamed Indépendante 9 August 1830, deleted 24 October 1860.
    • Melpomène, (launched 28 July 1828 at Cherbourg) – deleted 20 March 1845.
    • Herminie, (launched 25 August 1828 at Lorient) – wrecked off Bermuda 3 December 1838.
    • Belle Poule, (launched 26 March 1834 at Cherbourg) – deleted 19 March 1861.
    • Sémillante, (launched 6 February 1841 at Lorient) – wrecked 16 February 1855 off Bonifacio.
    • Andromaque, (launched 8 March 1841 at Lorient) – deleted 17 August 1869.
    • Forte, (launched 16 September 1841 at Cherbourg) – deleted 23 October 1883.
    • Pallas, (launched 15 August 1860 at Lorient as a steam frigate) – deleted 23 October 1883.
  • Iphigénie class (60-gun first rate type, 1823 design by Jean-François-Henry De la Morinière, with 30 x 30-pounder guns, 28 x 30-pounder carronades and 2 x 18-pounder guns):
    • Iphigénie, (launched 3 May 1827 at Toulon) – deleted 1 July 1872.
  • Terpsichore class (60-gun first rate type, 1823 design by Philippe-Jacques Moreau, with 30 x 30-pounder guns, 28 x 30-pounder carronades and 2 x 18-pounder guns):
    • Terpsichore, (launched 12 May 1827 at Brest) – deleted 6 February 1839.
  • Dryade class, (60-gun first rate type, 1823 design by Paul-Marie Leroux, with 30 x 30-pounder guns, 28 x 30-pounder carronades and 2 x 18-pounder guns):
    • Dryade, (launched 12 July 1827 at Rochefort) – renamed Caroline 12 July 1828 but reverted to Dryade 9 August 1830 – deleted 9 May 1838.
    • Didon, (launched 15 July 1828 at Toulon) – deleted 28 March 1867.
    • Renommée, (launched 28 July 1847 at Rochefort) – fitted as steam-assisted frigate 1858 – deleted 15 November 1878.
    • Guerrière, (launched 3 May 1860 at Brest as a steam frigate) – deleted 28 May 1888.
    • Sémiramis, (launched 8 August 1861 at Rochefort as a steam frigate) – deleted 3 May 1877.
  • Uranie class (60-gun first rate type, 1826 design by Louis-Charles Barrallier, with 30 x 30-pounder guns, 28 x 30-pounder carronades and 2 x 18-pounder guns):
    • Uranie, (launched 28 July 1832 at Toulon) – deleted 31 December 1864.
= > sau thời Napoleon ( 1815) tàu cấp bét của Pháp thôi súng 40-50 cây mỗi thuyền là bình thường, còn pháo thì là loại 24 - 36 pounder, số pháo 12 pounder trở xuống ko còn sử dụng nữa.

Cho nên cứ giả sử đống tàu của Nguyễn Ánh vẫn còn trong tình trạng tốt thì cũng bị Pháp nướng hết vào năm 1858 mà thôi ( chưa nói Pháp 1858 ngoài đống pháo to này còn có pháo bắn đạn nổ là thứ nhà Nguyễn chưa từng thấy).
 
Back
Top