Nhầm rồi ông ạ, do ảnh hưởng của cách mạng Pháp nên việc chính phủ Pháp gửi quân sang VN ko được thực hiện được, nhưng tư bản Pháp ở Ấn Độ Dương vẫn ra sức ủng hộ Nguyễn Ánh và đã gửi rất nhiều súng đạn. tàu chiến, kỹ sư sang giúp Ánh xây dựng và tổ chức quân đội. Những đơn vị này lấy từ quân đội Pháp trấn đóng ở Ấn Độ, cho nên việc có những vũ khí hiện đại nhất của Pháp là ko có gì la. hơn nữa việc Nguyễn Ánh có tàu chiến bọc bọc đồng (loại chiến thiền hiện đại nhất thế giới thời đó) thì đã được ghi lại trong rất nhiều tài liệu, kể cả trong bài hịch của Quang Trung. Ngoài ra chi tiết mà ông nói "khi đánh Nguyễn Ánh ở Sài Gòn Quang Trung đã mang theo vài vạn lính súng rồi, tàu chiến thì vũ trang ngay cả tàu Pháp cũng không dám coi thường" thì thực ko rõ ông lấy tài liệu ở đâu. Vì ngay sau chiến dịch chống Lào và thất bại hoàn toàn của Nguyễn Nhạc tại Thị Nại đến lúc Quang Trung đã bắt tay ngay vào tính chuyện đánh Gia Định, khởi đầu là bài hịch thảo phạt Nguyễn Ánh. Từ đó cho đúng lúc ông chết chỉ có khoảng 20 ngày. Cho nên ko thể có chuyện Quang Trung kịp mang quân vào đánh Nguyễn Ánh. Bản thân Quang Trung có ý muốn nhờ người Anh giúp đỡ canh tân lại quân đội để tạo thế cân bằng về vũ khí với Nguyễn Ánh.
Nên nhớ vào giai đoạn này, kĩ thuật quân sự của Châu Âu phát triển từng ngày, quan đội của Nguyễn Ánh có thể thiện chiến vào thời điểm đó nhưng sau mấy chục năm bế quan tỏa cảnh, việc thất bại khi quân Pháp xâm lược với vũ khí hiện đại hơn rất nhiều là chuyện bình thường.
Để có thể đương cự với quân lực đông đảo gấp chục lần của đối phương, người Pháp cố vấn Nguyễn Ánh thay đổi toàn bộ tổ chức binh bị trên cả ba phương diện, nghệ thuật đồn trú theo mẫu Tây phương, cải tiến thuỷ quân, pháo binh và hoả lực.
Để làm căn cứ địa, chúa Nguyễn nhờ hai người Pháp là Theodore Lebrun và Victor
Olivier de Puymanel vẽ hoạ đồ theo lối Âu châu và sử dụng đến 3 vạn nhân công để
xây dựng Sài Gòn. Công việc nặng nề này đã khiến bộc phát một số nổi dậy. Thành Gia Định làm bằng đá, chu vi 4,176 mét hình bát giác có tám cửa, chung quanh có hào nước giúp Nguyễn Ánh chuyển từ thế thủ sang thế công theo mùa gió mà không còn sợ quân Tây Sơn vào đánh phá hàng năm như xưa.
Cải cách mang trọng điểm chiến lược thứ hai là việc tổ chức hải quân và phương pháp xây dựng tàu chiến theo kiểu Tây phương. Trước thế kỷ thứ XVII, thuyền bè Việt Nam dù Đàng Trong hay Đàng Ngoài đều tương đối mỏng manh, thuận tiện cho việc cận duyên nhưng không thích hợp cho việc ra xa và đi Việt Nam cũng chưa phát triển về thương mại biển với bên ngoài mà chủ yếu chỉ mua hàng của người khác đem đến bán. Thuỷ quân Việt Nam tuy khá nổi tiếng trong chiến đấu nhưng cũng chỉ hữu hiệu ở trong sông ngòi và dọc theo bờ biển chứ không phải ngoài vùng nước sâu. Thuyền lớn nếu có xuất hiện ở nước ta thường là thuyền buôn chở hàng của người Trung Hoa. Đến thời Tây Sơn, lần đầu tiên Việt Nam có được những đội chiến thuyền lớn nhất là sau khi chiêu dụ được một số hải phỉ vốn dĩ hoạt động dọc theo vùng biển từ Nhật Bản xuống biển đông và mua hay lấy được một số thuyền buôn. Những đội chiến thuyền ấy ngoài nhiệm vụ tuần duyên còn theo gió mùa xuống cướp phá Gia Định để thu vét lương thực. Sự yếu thế về cả số lượng lẫn chất lượng khiến chúa Nguyễn không sao đương cự nổi với thuỷ quân Tây Sơn cho đến khi anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ có mâu thuẫn trầm trọng quay sang chống lẫn nhau thì ông mới rảnh tay củng cố thực lực. Từ năm 1789 trở về sau, ngoài những chiến thuyền mà Bá Đa Lộc mang về, chúa Nguyễn tiếp tục mua thêm một số chiến thuyền khác, chưa kể tự đóng lấy một số lớn theo mẫu Tây phương nên lực lượng càng lúc càng mạnh. Những thương nhân và thuỷ thủ nước ngoài khi ghé Gia Định đã trầm trồ thán phục những chiến thuyền được đóng ngay tại đây và cho rằng không kém gì những tàu đóng ở Âu Châu. Đích thân Nguyễn Ánh trông coi việc tân tạo một cách nhiệt tình nên công việc tiến triển rất nhanh khiến nhiều người cảm phục về năng lực của ông. Chúa Nguyễn cũng nỗ lực huấn luyện các võ quan bản xứ để thay thế những sĩ quan Pháp do Bá Đa Lộc tuyển mộ và sau này chỉ còn lại một số rất nhỏ người Tây phương, hầu hết đều do người Việt đảm trách.
Ngoài việc xây dựng thành luỹ và canh tân hải quân, chúa Nguyễn cũng đổi mới việc huấn luyện và trang bị bộ binh, pháo binh để đối phó với lượng quân đông đảo của đối phương, nhất là tượng binh vốn là ưu điểm của quân Tây Sơn. Theo nhiều tài liệu của người ngoại quốc có mặt ở nước ta thời đó, quân đội của Nguyễn Ánh được tổ chức và trang bị y hệt của Âu châu, có cả những trường pháo binh và tác xạ do người Tây phương huấn luyện. Giám mục Adran cũng dịch ra chữ Hán các loại binh thư để dùng trong quân đội và thuỷ quân của chúa Nguyễn đã dùng cờ hiệu để liên lạc và điều khiển đội hình.
Việc cải cách cũng không chỉ trong lãnh vực quân sự mà còn cả trong kinh tế, hành chánh. Các xưởng làm thuốc súng và chế tạo súng hoả mai (matchlock), mỏ sắt, phường đúc được thành lập. Để tiện lợi trong việc di chuyển và liên lạc, nhiều đường sá được tu bổ, hai bên đường trồng cây để lấy bóng mát. Cầu cống, cửa biển, cửa sông được xây dựng và những nơi quan yếu được trắc địa (surveys). Việc canh nông, nhất là trồng dâu nuôi tằm, trầu cau là những nguồn lợi được khuyến khích để phục hồi kinh tế. Không những luật lệ được cải tổ, bỏ một số cực hình, chúa Nguyễn cũng thiết lập một hệ thống “trường công” (public schools), trẻ em từ 4 tuổi trở lên phải đi học, nếu không sẽ bị phạt vạ.
Trích Từ chiến dịch Ai Lao đến trận thủy chiến Thị Nại - Nguyễn Duy Chính