Thời Xuân Thu, kiếm do nước Việt rèn có độ cứng, dẻo và sắc nhọn… hơn hẳn các chư hầu. Nguyên nhân vì nước Việt chẳng những có quặng mỏ sắt thép tốt, mà còn có những nghệ nhân chuyên rèn kiếm. Trong số đó, nổi tiếng nhất là Can Tương.Can Tương và Âu Dã Tử cùng bái sư học rèn luyện kiếm và từng hợp tác rèn ba thanh kiếm: “Long Uyên”, “Thái A” và “Công Bố”.
Về sau, Can Tương đến nước Ngô kết hôn cùng nàng Mạc Da. Hai người rèn các nông cụ kiếm sống qua ngày, nhưng đôi khi cũng rèn kiếm. Ngày tháng trôi qua, người ta ngỡ ông là người nước Ngô. Chất lượng sắt thép không bằng nước Việt, các thiết bị rèn luyện cũng rất hạn chế, nên kiếm của Can Tương rèn ở đây, không tốt bằng những thanh kiếm mà ông với Âu Dã Tử rèn trước kia, nhưng dù sao vẫn tốt hơn nhiều so với những thanh kiếm của các thợ rèn ở nước Ngô. Do vậy, ông cũng có tiếng tăm không nhỏ.
Năm 514 trước công nguyên, Ngô Vương Hạp Lư lên tức vị. Vì muốn tăng cường thực lực quân sự, ông rất coi trọng binh khí. Kiếm – binh khí chủ yếu tác chiến đương thời, là loại vũ khí phổ thông của binh tướng, vua quan. Vả lại binh sĩ nước Ngô thường đi bộ nên nhu cầu về kiếm càng nhiều. Do đó, Hạp Lư lên ngôi chưa được bao lâu, bèn hạ lệnh thu dụng những thợ rèn giỏi và Can Tương cũng bị sung vào đội rèn kiếm. Hạp Lư nghe nói Can Tương là người giỏi nên hết sức vui mừng, muốn Can Tương rèn cho ông một cặp kiếm thật tốt.
Theo yêu cầu của Can Tương, Hạp Lư hạ lệnh mở một quảng trường rèn kiếm, điều động rất nhiều thợ, đặc biệt còn phái ba trăm đồng nam, đồng nữ chuyên lo thụt bể, sóc than… Can Tương rèn luôn mấy thanh kiếm tốt, nhưng sau khi dâng lên đều bị Hạp Lư trả về, vì chất kiếm còn thua thanh kiếm của Âu Dã Tử đã rèn cho ông đang dùng. Can Tương nhờ người bẩm lại: – Nhờ ông về bẩm báo với Đại Vương, kiếm muốn rèn tốt, nhất định phải có sắt thép tốt, hỏa hầu thích hợp và kỹ thuật cao, nếu thiếu một trong ba thứ đó thì không thể được. Kỹ thuật của tôi và sư huynh Âu Dã Tử không ai hơn kém, nhưng sắt thép và hỏa hầu ở đây không bằng ở nước Việt.
Nghe giải thích như thế, Hạp Lư đồng ý, nhưng vẫn ra thời hạn trong vòng ba tháng, Can Tương phải rèn được kiếm tốt, nếu không sẽ bị tội.
To be continue.....................
Về sau, Can Tương đến nước Ngô kết hôn cùng nàng Mạc Da. Hai người rèn các nông cụ kiếm sống qua ngày, nhưng đôi khi cũng rèn kiếm. Ngày tháng trôi qua, người ta ngỡ ông là người nước Ngô. Chất lượng sắt thép không bằng nước Việt, các thiết bị rèn luyện cũng rất hạn chế, nên kiếm của Can Tương rèn ở đây, không tốt bằng những thanh kiếm mà ông với Âu Dã Tử rèn trước kia, nhưng dù sao vẫn tốt hơn nhiều so với những thanh kiếm của các thợ rèn ở nước Ngô. Do vậy, ông cũng có tiếng tăm không nhỏ.
Năm 514 trước công nguyên, Ngô Vương Hạp Lư lên tức vị. Vì muốn tăng cường thực lực quân sự, ông rất coi trọng binh khí. Kiếm – binh khí chủ yếu tác chiến đương thời, là loại vũ khí phổ thông của binh tướng, vua quan. Vả lại binh sĩ nước Ngô thường đi bộ nên nhu cầu về kiếm càng nhiều. Do đó, Hạp Lư lên ngôi chưa được bao lâu, bèn hạ lệnh thu dụng những thợ rèn giỏi và Can Tương cũng bị sung vào đội rèn kiếm. Hạp Lư nghe nói Can Tương là người giỏi nên hết sức vui mừng, muốn Can Tương rèn cho ông một cặp kiếm thật tốt.
Theo yêu cầu của Can Tương, Hạp Lư hạ lệnh mở một quảng trường rèn kiếm, điều động rất nhiều thợ, đặc biệt còn phái ba trăm đồng nam, đồng nữ chuyên lo thụt bể, sóc than… Can Tương rèn luôn mấy thanh kiếm tốt, nhưng sau khi dâng lên đều bị Hạp Lư trả về, vì chất kiếm còn thua thanh kiếm của Âu Dã Tử đã rèn cho ông đang dùng. Can Tương nhờ người bẩm lại: – Nhờ ông về bẩm báo với Đại Vương, kiếm muốn rèn tốt, nhất định phải có sắt thép tốt, hỏa hầu thích hợp và kỹ thuật cao, nếu thiếu một trong ba thứ đó thì không thể được. Kỹ thuật của tôi và sư huynh Âu Dã Tử không ai hơn kém, nhưng sắt thép và hỏa hầu ở đây không bằng ở nước Việt.
Nghe giải thích như thế, Hạp Lư đồng ý, nhưng vẫn ra thời hạn trong vòng ba tháng, Can Tương phải rèn được kiếm tốt, nếu không sẽ bị tội.
To be continue.....................
.
pa kia làm như truyện dài tập 





