Sau trận Xích Bích thì Tháo vẫn còn nhiều binh lực ở Hợp Phì, Giang Lăng, và Trường An. Cánh Hợp Phì là để mở mũi đột kích Kiến Nghiệp khi Xích Bích thắng trận. Cánh này để tiếp viện đã bị Lục Tốn, Thái Sử Từ chặn đường. Cánh Giang Lăng do Tào Nhân, Mãn Sủng chỉ huy nhằm kềm chế Lưu Bị không cho liên kết với Đông Ngô. Nhưng Lưu Bị vẫn đột phá vào đánh bộ trại, đốt Ô Lâm. Cánh Trường An để phòng ngừa Mã Đằng và yểm trợ cho Nam Dương, Hứa Đô khi thực nguy cấp.
Nói sau trận Xích Bích , Tào Tháo thế cùng thì chỉ là nói vui, trà đàm cho vui miệng mà thôi chứ còn các đại cao thủ ai cũng biết rồi. Chi tiết Hoa Dung Đạo thì La Quán Trung vẽ vời mà thôi chứ trong trận Xích Bích cái công của Gia Cát Lượng nói thật chả đáng bao nhiêu. Bởi thế là La Quán Trung đã mượn lời viên tướng của Lưu Độ mắng Gia Cát Lượng là: Hầm binh Xích Bích chỉ là mưu của Chu Du, chứ chả biết Gia Cát Lượng là thằng thôn dã nào? Lão La vụ này cũng rất tinh ý.
Cái hay của Lượng là kế mượn gió bẻ măng, ngư ông đắc lợi mà thôi.
Chí của Đông Ngô đâu phải nhỏ, sau trận Xích Bích, Đông Ngô cũng đã phân binh hai cánh. Đại binh của Đông Ngô do Tôn Quyền đích thân chỉ huy đánh phá Hợp Phì, Cánh thứ hai do chính Chu Du đánh Giang Lăng. Giang Hạ khi này đã rơi vào tay Đông Ngô. Đông Ngô vẫn coi việc đánh Hợp Phì là chính yếu còn mặt Giang Lăng chỉ là phụ trợ. Đánh Hợp Phì thì cả mặt Đông Nam của THáo đều rúng động, các châu Duyệt, Dự, Thanh đều bị uy hiếp. Còn Dương Châu Thọ Xuân là đất cũ của nhiều tướng Đông Ngô. Tháo cũng coi trọng mặt Hợp Phì hơn nên để Trương Liêu trấn giữ và đích thân dặn dò.
Cánh đánh Giang Lăng do Chu Du chỉ huy gọi là chính cũng không đúng mà phụ cũng không phải. Ông ta đường đường là đại đô đốc, lại đang lập công lớn nên Tôn Quyền không thể dùng uy lấn át đi được. Lỗ Túc thì không khéo hơn, muốn dùng bài đùn đẩy cho Lưu Bị công chiếm trước nhưng Du quá tin tưởng vào uy thế đang lên của binh sĩ nên cố sức đánh phá. Kết quả là bị Tào Nhân đánh cho đại bại, bản thân ông ta cũng thọ thương.
Chiến trận Xích Bích xét cho cùng thì Tháo thiệt hại đa phần là thủy quân và một bộ bộ quân. Binh lực của Tháo chủ yếu là binh sĩ miền Quan Đông và Bắc Hoàng Hà tuy có thiệt hại một số và sĩ khí suy giảm nhưng xét về toàn lực vẫn còn khá nguyên vẹn. Điều này khác khẳn với Phù Kiên sau trận Phì Thủy, đại quân hoàn toàn tan rã phân hóa.
Chủ ý của Tháo là sau trận Xích Bích chỉ muốn giữ nguyên phần đất đã chiếm (Kinh Châu) càng lâu càng tốt và khôi phục sĩ khí. Nhưng Tào Nhân, Hạ Hầu Đôn sau khi giao chiến với Chu Du binh lực cũng đã suy giảm. Gia Cát Lượng thừa cơ lấy lại Kinh Châu, gương con bài Lưu Kỳ khiến cho quan lại Kinh Tương đều theo về. Đám quan lại này thấy binh Tào liên tiếp bị hai nhà đánh phá cũng phải dao động dữ dội, huống hồ lòng dân Kinh Tương vẫn muốn theo Lưu hơn và theo Tào. Chính vì thế mà Tào Nhân, Hạ Hầu Đôn buộc phải triệt thoái binh về Tương Dương và Phàn Thành.
Lưu Bị đoạt lại Kinh Châu trong một cảnh tan nát, sĩ dân đều ly tán, lòng người bất định. Nội một chuyện nội trị đã đủ cho Lưu Bị và Gia Cát Lượng hết sức lo nghĩ, còn đâu sức mà nghĩ chuyện bắc chinh. Chính vì thế mà Bị chỉ phát quân thu phục bốn châu phía nam là đất Lưu Biểu cũ còn Tương Dương trước sự uy hiếp của Tào Nhân phải bỏ đi.
Phần Đông Ngô sau thất bại Giang Lăng tiếp đến thất bại Hợp Phì thì càng tức giận. Mọi hao tổn đều chẳng bù lại một tất đất, cũng không thể trở mặt ngay với Lưu Bị ngay được vì sức ép quân Tào vẫn còn ở phía trước.
Sai lầm của Đông Ngô là ở chổ sau Xích Bích đã phân tán binh lực làm hai cánh. Địa bàn tranh đoạt của Đông Ngô cũng là dự tính sai lầm của cả Tôn Quyền và Chu Du. Nếu Đông Ngô tung quân đánh một hướng hoặc chỉ chiếm phần đất Kinh Châu không thì sự việc cũng không đến nỗi quá bi đát cho họ. Về sách lược thì rõ ràng Chu Du và Tôn Quyền đều thua so với Tào Tháo, Lưu Bị và Gia Cát Lượng.
Phần sau sẽ trờ lại về đề tài Quan Độ