Cái cụm từ “nhà hát của những giấc mơ” thường được sử dụng ngay để nhắc đến đội bóng Manchester United của Old Trafford. Nhưng đâu phải ai cũng biết rằng cũng có một “nhà hát” lẫy lừng trên bầu trời đầy sao của âm nhạc, một thiên hà hội tụ những ngôi sao - những nhân tài sáng chói và kiệt xuất nhất. Đó chính là Dream Theater, một trong những god-for-shaken progressive metal band sớm nhất và thành công nhất từ trước tới giờ.
Mọi sự bắt đầu vào tháng 9/1985, lúc này John Petrucci, John Myung và Mike Portnoy đều đang theo học tại ngôi trường danh tiếng Berklee School of Music ở Boston. Tình cờ gặp gỡ và nhanh chóng tìm được điểm tương đồng về cảm thụ âm nhạc, cả ba cái đầu sáng quyết định lập một ban nhạc để chơi cùng nhau. Một điều thú vị là cả ba đều đến từ Long Island, New York, Mỹ. Họ bắt đầu cover những bài hát của Rush và Iron Maiden trong các buổi tập cùng nhau và dĩ nhiên hai ban nhạc này trở thành cảm hứng chính cho Dream Theater sau này định hướng thể loại. Cảm thấy lúc này việc học âm nhạc tại trường không giúp được gì thêm, cả ba quyết định thôi học để đầu tư hơn vào ban nhạc.
(Từ trái qua phải: John Myung, James LaBrie, Kevin Moore, John Petrucci, Mike Portnoy)
Ban nhạc sớm được bổ sung lực lượng bởi hai người bạn cũ của John Petrucci là Kevin Moore (lúc này đang theo học ở SUNY Fredonia và chơi trong một band có tên là Centurion) vào vị trí keyboardist và Chris Collins vào vị trí vocalist. Lúc này cái tên Majesty được chọn làm tên ban nhạc. Tháng 11/1986, Chris Collins rời khỏi ban nhạc vì bất đồng ý kiến với những thành viên còn lại sau nhiều tháng viết nhạc và biểu diễn chung. Sớm sau đó, Charlie Dominici - một vocalist già dặn và đầy kinh nghiệm tham gia để thay thế. Kết quả thu được là demo đầu tiên của Dream Theater – The Majesty Demo được phát hành vào năm 1987 và bán được 1000 bản ngay 6 tháng sau. Đến lúc này cái tên Majesty đã được phổ biến trong giới prog metal khắp thế giới.
Bước ngoặt mới diễn ra khi cái tên Majesty bị một band khác cùng tên kiến nghị phải thay đổi. Một vài cái tên được gợi ý, nhưng rốt cuộc khi bố Mike gợi ý cái tên Dream Theater – tên một rạp chiếu phim đã bị phá dỡ ở Monterey, California, và cả năm đã chọn Dream Theater là tên ban nhạc. Với sự ổn định đầu tiên, Dream Theater bắt đầu viết nhạc cho album đầu tiên và nhanh chóng phát hành When Dream and Day Unite thông qua Mechanic Records vào tháng 3/1989 và đánh dấu một sự bất ngờ tới underground prog-scene. Nhưng sự hạn hẹp về tài chính đã hạn chế quy mô biểu diễn của band và nhóm quyết định rời label này. Charlie Dominici cũng sớm rời band vì khác biệt ý tưởng.
Album When Dream and Day Unite của Dream Theater đánh dấu một sự mở đầu đầy hứa hẹn. Lúc này thì chất nhạc của band đã thể hiện khá rõ nét. So với những album thành công sau này thì sự khác biệt duy nhất là vocal. Nếu so sánh Charlie Dominici và James LaBrie ta có thể thấy rõ ràng. Đa phần điểm yếu của album này nằm ở phần vocal, nếu như James LaBrie luôn đưa cung bậc cao nhất có thể, thì Dominici lại có phần hơi... pop khi chỉ hát đúng theo khả năng của mình một cách an toàn... Về phần cá nhân thì Dominici mang chất giọng khá giống Geddy Lee (Rush).
Trong album đầu tiên này, quá trình sản xuất và thu âm hơi tệ, guitar tone khá mờ nhạt trừ những đoạn solo, trống thì phần chung giống những ban nhạc underground năm 80s, điểm sáng duy nhất là Kevin Moore - tạo nên âm hưởng chung đặc trưng cho cả album mà định hướng cả Dream Theater’s style sau này.
Phải tới hai năm sau, sau một thời gian dài tuyển mộ vocalist và chơi toàn instrumental dưới cái tên YtseJam (viết ngược của Majesty) thì James LaBrie đến từ Canada (lúc này đang hát cho một glam metal band với cái tên Winter Rose) gia nhập nhóm. Sau đó cả nhóm ký hợp đồng với ATCO Records, cả hai sự kiện đánh dấu bước ngoặt lớn thứ hai trong sự nghiệp của Dream Theater. Album thứ hai – Images and Words được phát hành vào năm 1992 nhận được thành công lớn. Ban đầu ban nhạc dự định Another Day sẽ phù hợp để tuyển mộ album, nhưng không dưng mà được, Pull Me Under leo vòn vọt trên radio airplay và được quay video clip mà sau này được trình chiếu khá nhiều trên MTV.
Với sự xuất hiện của James LaBrie như thổi một luồng sinh khí mới cho Dream Theater. Tài năng của John Petrucci cũng được thể hiện rõ nét hơn qua album này với những câu solo điêu luyện. Có thể là những bản ballad nhẹ nhàng đầy ý nghĩa như Another Day hay Surrounded, cho tới hit Pull Me Under hay những track mang phong cách prog hơn như Take the Time, Learning to Live đều làm vừa đủ thỏa mãn người nghe.
Lyric được viết bởi Kevin Moore, John Petrucci, và John Myung. Trong khi lyric của John Petrucci thiên về khuynh hướng khích lệ cá nhân (Another Day) thì John Myung lại thường viết lyric về những vấn đề va vập với cuộc sống (Learning to Live). Kevin Moore có vẻ là main lyricist chinh phục người nghe với những lyric có ảnh hưởng từ bi kịch...
Sau một khoảng thời gian 92-93 dành cho tour diễn tại Mỹ và Nhật, cùng một live album đầu tiên – Live at the Marquee (1993). Với sự sung sức cùng nhiều ý tưởng mới, band cho ra đơi album thứ ba – Awake (1994) và tiếp nối thành công lớn từ Images and Words, thậm chí Awake còn nhận được review cao điểm nhất trên metal-archives (96%). Ngay sau khi album được phát hành, Kevin Moore thông báo rằng anh đã mệt mỏi với những buổi biểu diễn và cũng chán nản với phong cách nhạc của Dream Theater, điều đó đồng nghĩa Kevin Moore rời khỏi band để tập trung cho dự án âm nhạc riêng của mình. Tất nhiên, một cuộc tuyển chọn keyboardist diễn ra với những cái tên như Jen Johansson và Jordan Rudess (ứng cử viên số 1 nhưng từ chối để tham gia The Dixie Dregs). Derek Sherinian – cũng xuất thân từ lò Berklee, từng chơi cho Alice Cooper và Kiss được chọn để tham gia nốt Awake tour. Sau khi tour kết thúc, Derek chính thức gia nhập Dream Theater.
So với Images and Words, thì Awake có số lượng instrumental đáng nể. Trong sự xuất hiện cuối cùng này của mình, Kevin Moore thực sự là một con quái vật (hay một ngôi sao sáng) với phong cách chơi rất nhanh, kết hợp với những hiệu ứng syntherizer nhưng không có cảm giác thừa thãi như Jordan Rudess. Các thành viên khác đều thực hiện xuất sắc vai trò của mình. Album kết thúc bằng tuyệt phẩm Space-Dye Vest của Kevin Moore khiến một số fan phần nào nuối tiếc sự vắng bóng của Moore trong những album sau này của Dream Theater.
Đáng nổi bật là instrumental nổi tiếng Erotomania, cùng acoustic ballad The Silent Man. Điểm nhấn ở đây với Mike Portnoy đã tiến bộ rất nhiều từ hai album trước tạo nên nhịp điệu thay đổi không lường cho Dream Theater.
Với sự tham gia của Derek Sherinian, cùng sức ép từ phía các fan muốn Dream Theater phát hành ca khúc A Change of Seasons cho nên band quyết định vào studio BearTracks ở New York để thu âm. EP A Change of Seasons được phát hành vào năm 1995 với bonus là một số live được thu lại của band. Sự thay đổi nhân sự ở EastWest (tức ATCO đổi tên) khiến Dream Theater phải thực hiện album Falling into Infinity – mang màu sắc dễ nghe hơn và đến với công chúng vào năm 1997. Cover album được thực hiện bởi cover artist nổi tiếng Storm Thorgerson (Pink Floyd, David Gilmour). Sau đó thì Dream Theater cũng kịp cho ra mắt live album thứ hai Once in the LIVETime.
Do tác động từ nhiều phía, nên có lẽ Falling into Infinity giống như bước đi xuống của Dream Theater. Derek Sherinian là một keyboardist xuất sắc, nhưng cảm giác anh hơi lạc lõng so với những thành viên còn lại trong album này. John Petrucci vẫn thể hiện sự xuất sắc của mình qua những đoạn guitar riff dẫn dắt và solo hoàn ảo. Mặc dù có phần đi dần về phía công chúng nhưng Falling into Infinity nhìn chung vẫn là một album tốt của Dream Theater.
Giọng hát của James LaBrie có một chút thay đổi so với trước do sự kiện ngộ độc thức ăn, khiến thay đổi cao độ giọng của anh nhưng nhìn chung James vẫn hát khá tốt trong album Falling into Infinity.
Năm 1997 đánh dấu sự kiện Marna Carta Records mời hai thành viên của Dream Theater – Mike Portnoy và John Petrucci cùng với Jordan Rudess (keyboard) và Tony Levin (bass, King Crimson) thực hiện dự án side project Liquid Tension Experiment. Điều này dẫn tới việc Mike Portnoy và John Petrucci mời tay keyboardist mà họ ưng ý nhất – Jordan Rudess vào Dream Theater, tất nhiên điều này được đồng thuận và Derek Sherinian vui vẻ rời khỏi band.
Một lần nữa các fan lại muốn Dream Theater viết tiếp phần 2 của Metropolis Part 1. Thực ra thì nó đã được viết sẵn dưới một track 20 phút trong quá trình thu âm Falling into Infinity nhưng không được label chấp thuận. Và cả nhóm quyết định mở rộng track 20 phút đó thành một concept album. Năm 1999, Metropolis Pt. 2: Scenes from a Memory được phát hành và nhận được nhiều lời đánh giá khen ngợi từ các nhà phê bình nghệ thuật. Một tour diễn được Dream Theater tiến hành trên khắp nước Mỹ và châu Âu trong vòng hai năm.
Metropolis Pt. 2: Scenes from a Memory là một album xuất sắc cả về chiều sâu lẫn nội dung. Đan xen giữa hiện tại và quá khứ, về mối tình bi kịch cũng như những triết lý ẩn giấu đan xen qua từng lời, từng riff, từng track, từng instrumental. Những khoảnh khắc của Jordan Rudess trong The Dance of Eternity, John Petrucci solo trong The Spirit Carries On hay Mike Portnoy drum solo ở cuối track Finally Free đều là những giây phút tuyệt vời nhất của album.
John Petrucci đang gần đạt đến đỉnh của phong độ tại đây, nhưng đoạn riff khá lắt léo, thay đổi liên tục cùng những câu solo gọn gàng biểu cảm không kém phần kỹ thuật cũng khiến người nghe hài lòng.
DVD đầu tiên của Dream Theater – Live Scenes from New York cũng được phát hành vào năm 2001 với track list là toàn bộ album Metropolis Part 2 với sự hiện diện của cả diễn viên để đóng các nhân vật trong concept. Một điều trùng hợp bất ngờ khi live album được phát hành vào đúng ngày 11/9 và original cover là hình tượng quả táo Big Apple (biểu tượng New York) với tòa tháp đôi rực lửa (sau bị thay thế bằng dấu mộc Majesty).
Vô vàn ý tưởng mới, Dream Theater tiến hành thực hiện double album tiếp theo - Six Degrees of Inner Turbulence (6DoIT). Với cảm hứng từ khá nhiều ban nhạc như Metallica, Tool, Radiohead, Pantera, Megadeth hay U2... được Dream Theater truyền vào album với title track là một trong những track dài nhất mà Dream Theater từng viết - với thời lượng 42:04. Khả năng chơi nhạc và cover đến mức quái đản siêu phàm của Dream Theater qua hai album Master of Puppets (cover toàn bộ của Metallica) và The Number of the Beast (Iron Maiden).
6DoIT cũng là một album bước ngoặt thay đổi phong cách của Dream Theater cho tới bây giờ. Có thể nói đây là một thử nghiệm của Dream Theater. Chính lối viết nhạc của band vừa là ưu điểm cũng vừa là nhược điểm trong album này. Một khối lượng khổng lồ về riff cũng như thời lượng ca khúc. Ở hai album đầu, Mike Portnoy không hề viết một lyric nào, nhưng trong album này, anh trở thành một trong những best lyricist của band.
Một số ít người nghe Dream Theater không thích album này vì độ dài của nó, nhưng cũng sẽ thật thú vị nếu bỏ công sức ra để nghe một lần, chắc hẳn với Dream Theater thì người nghe sẽ không bao giờ phải thất vọng.
Dream Theater sau một thời gian dài tour diễn với Queensryche thì lại một lần nữa bắt tay vào thực hiện Train of Thought và sau đó album được phát hành vào năm 2003. Mang âm hưởng mới mẻ của metal và nặng nề hơn so với những album trước khiến có hai luồng fan đối nghịch nhận xét về album, một bên là những fan ủng hộ phong cách có phần metal Dream Theater, một bên là những fan truyền thống của prog rock có vẻ không đồng tình với album này. Nhưng xét cho cùng thì Train of Thought vẫn là một album thành công, và tất nhiên một CD/DVD Live at Budokan cũng được phát hành vào năm 2004.
Tiếp tục trải nghiệm của mình, Dream Theater cho ra mắt album Train of Thought tới các fan. Nặng nề hơn những album trước, nhiều người nghe đánh gía Dream Theater đã trở thành một robot trong album này - sản xuất nhạc một cách liên tục nhưng thiếu một chút cảm xúc từ Images and Words hay Metropolis Part 2. Mặc dù vậy, John Petrucci cũng thể hiện một góc tâm hồn yêu vợ con của mình trong Endless Sacrifice.
Mặc dù vậy, điều khá thất vọng là trong album xuất hiện một số đoạn rapping của James LaBrie (!?) khá kệch cỡm. Guitar tone trong album này không còn trong trẻo như trước mà thay vào đó là distortion theo kiểu nu metal khiến dễ nghe đối với những người mới nhưng khó chấp nhận với những fan gạo cội.
Ngày một sung mãn, sau một tour diễn giới thiệu Train of Thought thì Dream Theater lại lao vào thu âm album Octavarium để tới tay thính giả vào năm 2005. Trong đó nổi bật là tiếp tục dự án “twelve-step” của sâu rượu Mike Portnoy nhằm cai nghiện rượu bia. Và đây cũng đánh dấu là album cuối cùng của Dream Theater thông qua EastWest. Năm 05-06 cũng là khoảng thời gian sôi động nhất của band khi tham gia Gigantour cùng Megadeth. Năm 2006, để kỷ niệm 20 năm thành lập ban nhạc, Dream Theater phát hành Score, một CD/DVD live hoành tráng nhất từ trước tới giờ với sự tham gia của dàn giao hưởng Octavarium Orchestra.
Album Octavarium thể hiện sự ảnh hưởng sâu đậm... của những ban nhạc khác tới Dream Theater. Ngoài title track Octavarium với 24 phút nổi bật nhất, các track còn lại khá dễ nghe. I Walk Beside You với lyric khá tình cảm nhưng có chút gì đó dập khuôn của U2. Bên cạnh đó là gần như Dream Theater trở thành một khối thống nhất hoàn chỉnh, ít khi có sự nổi bật hẳn lên của một thành viên.
Lyric cũng là một điểm yếu của Octavarium với một chút sến như pop. Tuy vậy cũng có một số track gợi lại những album trước như These Walls hay Sacrificed Sons.
Roadrunner Records vốn được mệnh danh là cái lò sát sinh khi những ban nhạc nổi tiếng ký hợp đồng với hãng thu âm danh giá này đều cho ra đời những album cho chất lượng đi xuống hoặc thị trường hơn. Nhưng Dream Theater thì không, không những tránh “dớp” mà thậm chí Dream Theater còn thể hiện phong độ vô cùng sung sức hoan hỉ của mình với album mới Systematic Chaos (2007), tiếp nối là album Greatest Hits và DVD set Chaos in Motion 2007 – 2008. Cả hai đều được phát hành trong năm 2008 sau một khối lượng tour diễn kinh khủng khắp thế giới. Bên cạnh đó side-project Liquid Trio Experiment cũng ít nhiều gặt hái thành công.
Systematic Chaos là sự trở lại xuất sắc của Dream Theater dưới triều đại Roadrunner Records. So với ba album trước bị chê là dài không cần thiết với nhiều trường đoạn nhàm chán, lần này Systematic Chaos đã tiến bộ hơn với bộ hai In the Presence of Enemies Part 1 & 2. Ngoài ra, Constant Motion mang một chút phong cách của thrash ẩn trong prog, hay Forsaken & The Ministry of Lost Souls qua giọng hát khi tình cảm khi mạnh mẽ của James LaBrie.
Jordan Rudess cũng thể hiện khả năng chơi instrumental qua A Dark Eternal Night với một khúc continuum solo. Còn Repentence lại có sự tham gia của khá nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như David Ellefson (Megadeth), Mikael Akerfeldt (Opeth) hay Steven Wilson (Porcupine Tree)...
Đầu năm 2009, Mike Portnoy thay mặt Dream Theater đã thông báo lịch phát hành album mới nhất của mình – Black Clouds & Silver Linings. Theo như lời mô tả của Mike thì album sẽ là một album Dream Theater với tất cả “A Change of Seasons”, Octavarium”, “Learning to Live”, “Pull Me Under” và “The Glass Prison” trong một. Dự án “twelve-step” của Mike Portnoy cũng sẽ kết thúc trong phần cuối cùng – The Shattered Fortress. Cover album sẽ được Hugh Syme thực hiện, tái hiện lại một chút dư âm của Dream Theater thời Kevin Moore.
Tiếp tục duy trì phong độ của mình, album mới của Dream Theater - Black Clouds and Silver Linings đã được phát hành vào 23 tháng 6, 2009. Album đã bị leak khá sớm cùng với single A Rite of Passite. Trong album này, các track khá ổn định với sự góp mặt của một số track có độ dài đáng kể chỉ sau 6DoIT và A Change of Seasons. Phần cuối của twelve-step sagas - The Shattered Fortress xuất hiện cùng với một track The Best of Times, được Mike Portnoy viết tưởng niệm người cha Howard Portnoy (1941-2009) mất vì căn bệnh ung thư. Chính cái tên Dream Theater được Howard Portnoy gợi ý cho ban nhạc khi mà ban nhạc vẫn còn mang cái tên Majesty.
Ngoài ra, bản retail còn có một số cover track và instrumental của các ca khúc trong album. Cải thiện từ Systematic Chaos, điều đầu tiên cần phàn nàn là sự xuất hiện của giọng ca mới - Mike Portnoy không phù hợp lắm. Nhưng nhìn chung, khả năng của những thành viên Dream Theater không hề giảm sút mà ngược lại ngày càng sung mãn hơn - một trong những big name có phong độ ổn định nhất.
8/9/2010, sau một thời gian tham gia Avenged Sevenfold với vai trò session/touring drummer, Mike Portnoy đã quyết định rời Dream Theater. Mặc dù rời DT không phải để tham gia A7X, nhưng xem ra mục đích âm nhạc của Mike đã thay đổi phần nào khi anh đang dần hướng đến một nhu cầu thị trường hơn. Những thành viên còn lại của Dream Theater chúc cho Mike gặp nhiều may mắn cho sự nghiệp sắp tới, và vẫn trung thành với thể loại nhạc của mình để thu âm album thứ 11 trong tương lai.
Đến 29/4/2011, sau một cuộc tuyển chọn công phu thì Dream Theater đã công bố thành viên mới của nhóm - tay trống Mike Mangini (Annihilator, Steve Vai). Mike Mangini đã vượt qua hàng loạt những ứng cử viên nặng kí như Virgil Donati, Marco Minnemann, Peter Wildoer, Thomas Lang, Derek Roddy và Aquiles Priester để trở thành tay trống thứ hai của nhóm. Ngay sau đó thì Mike đã tham gia cùng với ban nhạc để thu âm album tiếp theo - A Dramatic Turn of Events. Một số cho rằng tựa đề album nhằm ám chỉ sự ra đi của Mike Portnoy, khi mà mọi ca khúc và chất liệu nhạc của album đã được hoàn thành sau thời gian Mike Portnoy rời nhóm và trước khi Mike Mangini ra nhập. Album đã được phát hành vào 13/9/2011.
Album đầu tiên của Dream Theater không có sự góp mặt của Mike Portnoy và cũng là album đầu tiên của Dream Theater với tay trống Mike Mangini. Tuy vậy người nghe không nhận thấy sự thay đổi lớn trong album này bởi vì Mike Mangini đã rất tròn vai. Có lẽ sự thay đổi mới mẻ trong album này chính là cách các thành viên hòa nhập trong ca khúc, Dream Theater là tập thể của những cá nhân tài năng, và mỗi thành viên đều thể hiện tài năng của mình qua những trường đoạn instrumental đặc trưng trong mỗi bài hát, nhưng trong A Dramatic Turn of Events các ca khúc là một bức tranh toàn thể hơn về sự phối hợp ăn ý giữa ban nhạc.
A Dramatic Turn of Events cũng thiên về tính giai điệu, giống với Falling into Infinity (album thực hiện với keyboardist Derek Sherinian), piano được sử dụng nhiều. Phần lớn lyrics trong album do John Petrucci viết. Với những người nghe Dream Theater lâu năm, album A Dramatic Turn of Events không hẳn là một cuộc cách mạng trong phong cách nhạc, mà đơn thuần chỉ là cái cách Dream Theater làm mới mình.
Đề cập về những thành viên của Dream Theater, người đầu tiên ta phải nhắc đến là guitarist John Petrucci. Với một kiến thức đồ sộ về âm nhạc cùng trình độ chơi guitar đến mức virtuoso (từng 6 lần tham gia G3 Tour). Anh biết cách làm thế nào để những câu solo vừa tuân thủ theo quy luật nhạc lí, cũng như mang tính eargarmness (dễ nghe) và truyền đạt cảm xúc của mình. Phong cách chơi của John thường mang một chút ưu tư và suy ngẫm sâu sắc, cùng với đó là những đoạn lead với riff mang tốc độ nhanh và biến tấu theo ảnh hưởng từ prog rock hay blues. Một điều đáng nể là John Petrucci có thể chơi được những đoạn accord tưởng chừng phức tạp chỉ với alternate picking (như trong Master of Puppets).
(Hàng trên: John Myung, John Petrucci, James LaBrie; Hàng dưới: Mike Portnoy, Derek Sherinian)
Nhân tố tiếp theo là Kevin Moore/Derek Sherinian và nay là Jordan Rudess. Một phần âm nhạc của Dream Theater đặc biệt ở những hiệu ứng keyboard/syntherizer. Hầu hết cả ba đời keyboardist của Dream Theater đều là những shred keyboardist đáng nể tạo nên những khoảnh khắc khá độc đáo cho âm nhạc của band. Tiếp theo mà James LaBrie – ca sĩ chính của band từ 1991 tới giờ, với cao độ từ D2 tới A5, sau sự cố ngộ độc thì ít nhiều đã ảnh hưởng tới giọng ca của anh, nhưng James vẫn thuyết phục người nghe với chất giọng khi cao vút (đáng nể nhất là thực hiện ending high note của Cemetery Gates), khi trầm ấm của mình. Mặc dù nhiều người cho rằng James LaBrie là hát dở, nhưng chỉ có anh mới phù hợp nhất cho Dream Theater.
Hai người anh hùng thầm lặng là Mike Portnoy và John Myung tham gia Dream Theater từ đầu tới giờ. Ảnh hưởng từ Neil Peart và Frank Zappa, lối chơi trống biến hóa và linh hoạt về nhịp cũng như cấu trúc time signature của Mike Portnoy góp một phần vào thành công với thể loại prog metal của Dream Theater. Ngoài ra anh còn đạt nhiều giải thưởng và là người trẻ nhất được giới thiệu vào Modern Drummer’s Hall of Fame (37 tuổi). Góp một phần không nhỏ là John Myung, khá trầm lặng và ít nổi bất ban nhạc nhưng cũng là một số ít những hảo thủ gốc châu Á thành công trên metal-scene.
(Từ trái qua phải: Jordan Rudess, John Myung, Mike Portnoy, John Petrucci, James LaBrie)
Phong cách biểu diễn live của band cũng là một yếu tố nổi bật với khả năng improvisation các ca khúc một cách xuất sắc (như Surrounded 15 phút, hay The Spirit Carries On opening solo). Kèm theo đó là khả năng cover mọi band, như trọn bộ album Master of Puppets của Metallica, The Number of the Beast của Iron Maiden hay Dark Side of the Moon của Pink Floyd. Sự sung mãn đến mức kinh hãi và nguồn cảm xúc vô tận của Dream Theater khiến rất nhiều người phải thán phục qua hơn 20 năm hoạt động. Đến nay Dream Theater vẫn không ngừng lưu diễn và cho ra đời các tuyệt phẩm mới.
Nguồn: Lược dịch từ nhiều nguồn + nhận xét cá nhân.
Chỉnh sửa cuối:
.
.