[Fiction] Alan Wake - A Psychological Thriller

  • Thread starter Thread starter duegia
  • Ngày gửi Ngày gửi

duegia

Mr & Ms Pac-Man
Lão Làng GVN
Tham gia ngày
7/8/07
Bài viết
221
Reaction score
82
ALAN WAKE
A Psychological Thriller
Waterfall_and_Mossy_Rock_Wall_by_Enchantedgal_Stock1.jpg



Dẫn truyện
Stephen King từng viết: "Ác mộng tồn tại bên ngoài khái niệm của logic, và sẽ không còn hay ho gì lắm khi đã được giải thích, nó giống như những tác nhân phá hỏng sự nên thơ của một bài thơ kinh dị."

Trong những câu truyện kinh dị ta thường được nghe, nạn nhân của chúng luôn tự hỏi bản thân: "Tại sao?", nhưng đó có thể không có lời giải thích, không nên có lời giải thích nào cả. Những bí ẩn không câu trả lời có lẽ là thứ tồn tại với chúng ta lâu nhất, và là thứ chúng ta sẽ nhớ cho đến cuối cùng.

Tên tôi là Alan Wake. Tôi là một nhà văn.

Là nhà văn có tay nghề, tôi luôn giữ cho mình một trí tưởng tượng riêng thật sinh động, nhưng giấc mơ này khiến tôi hỗn loạn. Nó thật dữ dội, thật đen tối và kì cục ngay cả khi so sánh với những thứ tôi tưởng tượng ra trong những tác phẩm trinh thám viễn tưởng của mình.

Vâng, đúng vậy, mọi thứ đã bắt đầu với một giấc mơ.

Dọc theo khuôn mẫu điển hình của một cơn ác mộng, tôi đã muộn giờ, cố gắng tuyệt vọng lái chiếc Buick lái bạt mạng trong đêm để đến được điểm đích - Ngọn hải đăng - bởi một số lí do tôi cố gắng hết sức mới mờ mờ nắm được mục đích của nó. Bàn chân tôi dính chặt vào bàn đạp ga, cảnh vật xung quanh chẳng có gì ngoài dải màu đen của màn đêm bất tận bao vây xung quanh, chỉ được chia tách giữa mặt đất vào bầu trời bởi đường sáng ngoằn nghèo của chân trời xa xa, giống như đường rách của mảnh vải được may bởi một bàn tay thô kệch của người nông dân cố gắng sửa lại bộ y phục đã được sử dụng quá tuổi thọ của nó.

Trong tâm trí tôi dội lên những giai điệu gợi nhớ lại một ca khúc của ban nhạc tôi đã nghe tên nhưng không mang lại nhiều ấn tượng, một lời tạm biệt muộn. Trong giới nhà văn, những người tôi quen biết, nhiều người có thêm niềm đam mê nghệ thuật khác bên cạnh viết văn: vẽ, hát, chơi nhạc cụ... Nhưng ngược lại ban nhạc sáng tác những lời nhạc như lời thơ theo ý tôi còn hay hơn gấp vạn những nhà thơ tự phong ngoài kia- đã khiến tôi bất ngờ và sự hiếm có đó đã khiến tôi thích thú, chỉ tiếc là giờ đây lời nhạc trong thị trường âm nhạc không còn nhiều giá trị nữa. Ban nhạc vẫn cứ thế tồn tại tiếp diễn giống như một lời khiêu chiến với nhà tù cuộc đời bằng những thứ nổi loạn và trái ngược.

Ngâm nga bài hát với tiếng nhạc vang bên trong nhà hát opera tiềm thức, tôi lao đi trong gió với thần thái dần dần mặt gương tĩnh lặng và yên bình so với chỉ vài phút trước đấy thôi hoảng loạn và sợ hãi hãy còn cảm giác nhơ nhuốc trong cơ thể , một lần nữa không nhớ ra được lí do chính xác. Động cơ ôtô chạy êm ru, trong phút chốc tôi đã tưởng cơn ác mộng đêm nay đã chuyển thành một giấc mơ vớ vẩn thông thường hằng đêm ai cũng có, nhưng chí ít còn hiền lành. Và trước khi tôi kịp nhận ra, mái vòm của đường hầm xuyên núi đã trùm lên toàn bộ không gian xung quanh chiếc xe. Thật kỳ quặc khi vừa trước đó tôi còn nhớ chiếc xe đang lăn bánh giữa những con đường nhựa trải dài qua hoang mạc hoang vắng, kiểu địa hình điển hình của bang Texaz. Những thứ kì ảo diễn ra, và kết hợp thêm một chút hương liệu với chiếc lồng bóng tối đã úp chụp lấy chiếc xe, tạo một cảm giác mơ hồ như giấc mộng, một giấc mộng lồng bên trong giấc mơ. Để giữ trí óc lành mạnh, như bao người bình thường khác tôi giải thích những thứ khác thường bằng cách không chút bận tâm tự đổ lỗi cho sự nhầm lẫn của bản thân. Nó giống như đổ lỗi cho con người khác, chỉ có điều "người khác" đó giống như bản sao hoàn hảo tồn tại trong quá khứ của chính mình, dẫu sao tôi chỉ cần biết cảm giác ấy dễ chịu hơn gấp nhiều lần so với băn khoăn, thắc mắc, giữ trong đầu hàng loạt những câu hỏi "Tại sao?". Nhiều khi tôi cảm thấy yêu nghề viết văn của mình hơn.

Thế đấy, tôi còn không thể nhận ra mình đang mơ nữa kia.

Chìm trong dòng suy nghĩ bất tận, phản xạ tinh thần của tôi bị hạn chế. Với bàn chân vẫn giữ chặt chân ga, tôi không nhận ra sự an toàn của mình đã thay đổi, rằng sự khống chế chiếc ôtô ở tốc độ này đã không còn dễ dàng nữa khi đi kèm với sự thay đổi địa hình từ con đường cao tốc thành những con đường ngoằn ngoèo dính chặt với sườn núi. Nếu không phải nhờ chiếc đèn sương mù chiếu rọi, thì đã là quá muộn trước khi tôi nhận ra đoạn rẽ ngoặt của đường hầm phía trước mặt. Nhanh chóng hết mức có thể tuy với chút lúng túng, bàn chân phải của tôi chuyển ngay sang nhấn phanh, và tôi nghiến răng nhấn thật chặt như thể tôi càng nhấn chặt bao nhiêu tôi còn được sống thêm bấy nhiêu vậy. Bánh xe cọ xát với mặt đường rít lên tiếng kêu khủng khiếp và vẽ thành một đường cầu vồng, xé toạc chiều không gian bất cứ chỗ nào nó đi qua. Căng hết từng bắp thịt trong cơ thể còm cõi, chân tôi run lên bần bật hòa cùng thân xe lắc lư một cách ghê người, cảm thấy rõ ràng bằng từng sợi lông trên cơ thể tôi chiếc xe đang nghiêng đi và chỉ còn đi trên hai bánh như bọn trẻ con đú đởn hay làm với xe đạp. "Chúa ơi!" tiếng hét của tôi vang khắp đường hầm nhưng lại lọt thỏm trong sự khiếp đảm đang nổ tung bên trong hộp sọ. Về cơ bản cơ tôi sinh ra không sẵn sàng cho những tình huống như thế này, thể lực chưa bao giờ là thế mạnh của tôi, tôi có thể pha trò cười một cách duyên dáng trong những đám tang, bình thản nhìn ngắm London trên đu quay lớn nhất thế giới với cửa bảo hiểm mở ( đó là lí do tại sao cái tên tôi được vinh dự đặt vào cuốn sổ những người có vinh dự không bao giờ được bước chân lên địa điểm cao nhất London nữa ) hay những gợn mây trôi bồng bềnh dưới chân từ những cây cầu cheo leo nhảy lò cò trên những đỉnh núi ở Tây Tạng, tôi lại luôn cố gắng sử dụng trí óc của mình để giảm tải được những công viêc chân tay càng nhiều càng tốt.

"Ý chí!", giọng nói nhỏ trong tôi thốt lên.

Giờ thứ duy nhất tôi có thể làm đó là bình tĩnh đối mặt với thần chết, và nếu không hoàn thiện được điểm yếu của mình thì nhất thiết tôi phải phát huy điểm mạnh. Với tốc độ ngang tín hiệu thần kinh bắn phá qua các nơron, tôi nhanh chóng xác định tình hình: chân phải nhấn mạnh phanh, chân trái tì vào thành xe chống lại quán tính, nắm vô lăng chỉ còn tay phải dính cứng vào, tay trái đang ra sức "phụ một tay" cùng với cẳng chân chống đỡ cơ thể, cú phanh đột ngột lúc nãy đã làm chiếc xe lố đà, giờ gần như lao đi mọi hướng bởi quán tính, kéo lê cả thân xe ngang ra giữa đường, đồng thời hai bánh bên phải xe đang mấp mé rời khỏi mặt đất, tình hình có thể lật xe bất cứ lúc nào. Đến đây tôi nhận ra những chi tiết trên tôi hoàn toàn tự cảm nhận bằng xúc giác cơ thể, hai mí mắt tôi đã nhắm chặt trước khung cảnh khủng bố. Tôi cần phải mở to mắt ra, mở rộng tầm quan sát của mình để làm chủ tình hình.

Và đó chính là lúc tôi thấy nó.

Một vật có hình mặt người, đen tối và mặt mũi dường như bị kéo dài như những vết mực loang, vô hồn và ko có màu sắc nào khác ngoài hai màu trắng đen với cái miệng ngoác rộng ra sâu hắm, rõ ràng tới từng chi tiết bởi nó đang dán chặt vào bên ngoài cửa kính xe. Trong khi não bộ tôi còn chưa kịp xử lí thông tin, một tiếng RẦM đã vang lên ở thành xe như nhát búa đập mạnh. Chiếc xe lấy lại thăng bằng trên bốn bánh, giảm tốc độ đột ngột và đổi hướng hơi lệch sang phải, quay 180 độ rồi dừng lại tại chỗ.

Có vật nào đó đã va chạm vào thành xe bên phải, tiếp nhận toàn bộ động lực và cứu giúp tôi trong khoảng khác hiểm nghèo. Ngồi bất động sau vô lăng ôtô, tôi tự thuyết phục bản thân có lẽ đã có nhánh gẫy của một cái cây to làm thế nào đó dựng đứng ở giữa mặt đường, hoặc là một loại biển tín hiệu giao thông mà bộ óc kì cục đã đặt ở vị trí này, hay thậm chí một trò đùa nhố nhăng không lường đến hậu quả của đám thanh niên địa phương. Đúng vậy, bất kỳ những giả thuyết nào đều nghe có lý hơn là tôi đã đâm vào một người bộ hành lập dị chọn thời gian nửa đêm để đi tản bộ giữa con đường nhựa dành cho xe ôtô, hoặc cũng có thể bản thân tôi tự thuyết phục mình tin vào những lập luận rời rạc đó. Những suy nghĩ lan man nhảy múa trong đầu tôi xung quanh đám lửa mà ánh sáng phát ra là ánh đèn sương mù của ôtô, làm chiếu lên cái bóng xác chết của người đàn ông kéo dài trên con đường vừa được lát nhựa đường mới đen kịt.

Cánh cửa ôtô đóng lại sau lưng , tiếng động lớn nó phát ra là nhát búa đập tan toàn bộ dũng khí tôi cố gắng lắm trong năm phút ngồi bất động mới có đủ sức đứng dậy kiểm tra cái xác. Nhưng đằng nào thì cũng đã quá muộn. Gợi nhớ kí ức, chuyến xe lửa từ biệt người yêu thương qua khung cửa sổ, ta luôn tự nhủ " mọi việc sẽ ổn thôi " cho đến khi hình bóng của con người đó dần dần nhạt đi phía xa, và ta biết là ta đã không sẵn sàng. Nhảy khỏi chuyến tàu là lựa chọn ngu ngốc, từng bước chân một tôi tiến đến hình dáng bất động của người đàn ông phía trước mắt. Ông ta trông thanh thản, thậm chí trên cửa kính xe nứt vỡ và mặt đường chằng chịt vết thắng xe, không nơi nào vương một giọt máu. Tôi tưởng tượng đến một kịch bản sáng lạn hơn cho đêm hôm nay, có thể cú va quệt nhẹ và cơn sốc bất ngờ đã khiến người đàn ông bất tỉnh và lăn ra mặt đường, tôi chỉ cần đưa ông ta tới bệnh viện, dúi cho ông ta ít tiền rồi phắn khỏi càng nhanh càng tốt, có thể ông ta sẽ kì kèo thêm một chút nhưng tôi tự tin tôi có thể khiến cho ông ta ngậm miệng với một cái giá hời.

Khi đã tiếp cận đến gần cái xác, tôi cảm thấy chút nao lòng. Ngọn lửa trong tôi cháy rừng rực hối thúc tôi quay lên xe chuyển hướng, phóng hết tốc độ tìm một quán bar đầu tiên ở xó xỉng nào đó gọi những món đồ uống cơ bản là cồn pha nước lã rồi vùi mình trong đấy cho đến khi nhận ra 1/3 tế bào não đã ngừng hoạt động. Với nỗ lực phi thường, tôi cúi xuống cố tìm dùng tay tìm mạch đập ở cổ nạn nhân như những bộ phim về y tế sản xuất hàng loạt trên tivi, và tự đặt lên môi mình một nụ cười khi nhớ lại cảnh vị bác sĩ nọ nghe tim bệnh nhân ở lồng ngực phải.

Ông ta đã chết, không nhịp tim, không có hơi thở, đồng tử không phản ứng lại với ánh sáng. Tôi bắt đầu cảm thấy nỗi sợ rõ ràng bọn họ sẽ tống tôi vào tù, nhất là sau vụ scandal hành hung phóng viên nhiếp ảnh của tôi, rằng tôi sẽ ko bao giờ gặp lại Alice nữa.

Bỗng dưng, có cái gì đó động đậy, một hình thù màu đen lớn in trên tường căn hầm khẽ nhúc nhích mà phải mất một lúc tôi mới nhận ra là cái bóng phản chiếu của cái xác. Tôi quay lai nhìn người đàn ông, ông ta ko di chuyển tí nào, ko có dấu hiệu của sự sống, nhưng với cảm giác như nhìn thấy ảo ảnh, cái xác vẫn biến đổi và dường như đang nhỏ dần đi: nó như đang mơ hồ chìm vào trong vũng lầy vô hình trên mặt đường. Tôi căng hai tròng mắt của mình cố tìm rút ra một lời giải thích logic nào đấy.

Ánh đèn ôtô vụt tắt, mọi thứ bị phủ lên một màu màn đêm. Sử dụng hai bàn tay quờ quạng phía trước khi đôi mắt đã vô dụng, tôi tự nhủ lý trí đã bị chính xúc giác của mình lừa phỉnh khi thứ tôi cảm thấy chỉ là mặt đường sần sùi, cho đến khi đôi mắt đã quen với bóng tối và chống lại những suy tính hợp lí nhất.

Bỗng dưng, xác người đàn ông biến mất.

Đây là thực hay mơ?


Chương 1
Ác mộng

Với chuỗi sự kiện vừa xảy ra, trái tim tôi đã bơm một lượng kha khá adrenalin lên óc, giúp tôi tỉnh táo hiệu quả hơn cả tách cà phê buổi sáng. Mặc dầu đôi chân loạng choạng khó đứng vững được sau cơn sốc của vụ tai nạn, tôi hoàn toàn ý thức được những gì xung quanh mình.

Những tiếng lạch cạch vang lên trong đêm tối, đều đặn và nhẹ nhành khiến cho tôi tò mò hơn là giật mình sợ hãi. Hệ thống đèn đường hai bên lề đã được khởi động và dần dần thắp sáng khung cảnh xung quanh, mọi thứ ngoại trừ mỗi căn hầm tôi vừa đi qua. Bằng cách nào đó, nảy ra ý nghĩ chẳng từ đâu cả, tôi biết rằng ở gần đây có một đập thủy điện, và mạng điện ở đây là do chính quyền địa phương quản lí. "Đúng lúc nhỉ ? " tôi nghĩ và tự nhủ thằng hâm say rượu nào đến nửa đêm mới bật nổi cái đèn đường cơ chứ, suy nghĩ dẫn dắt tôi đến cảm giác vụ tai nạn như cái bẫy chuột và tôi là con chuột to đùng bị bàn tay quyền lực bên ngoài nhốt vào.

Tôi quay lại chiếc Buick kiểm tra, động cơ của nó giờ đang bốc khói nghi ngút với cái mui bị long quá nửa. Nó nằm yên lì lợm trêu ngươi tôi mặc cho bao nhiêu lần tôi vặn chìa khởi động đi nữa. Bỏ cuộc sau một lúc chán nản, tôi quay ra tìm cốp xe xem có thứ gì quan trọng tôi đem theo không, hay ít ra một đầu mối dẫn dắt đến lí do tôi muốn đạt được của đêm nay là gì.

Mui cốp xe đã không còn ở đấy nữa, có lẽ nó đã bị thổi bay và bị miệng đường hầm đen hun hút kia nuốt chửng khi vụ tai nạn xảy ra. Giờ đây vương vãi ở phía sau xe chỉ còn là một đường dài của thứ đồ duy nhất chứa trong cốp: những cuốn sách mà tôi là tác giả. "Sudden Stop 1", "Sudden Stop 2", những cuốn sách trinh thám viễn tưởng đã đứng đầu bảng xếp hạng sách bán chạy nhất ở New York trong nhiều tuần liền cách đây hai năm, giờ nằm vương vãi ở đây như những món đồ vô giá trị không có ai đoái hoài. Nó khiến tôi nhớ về một thời kì tươi sáng trong cuộc đời, khi mà cuộc sống dễ dàng hơn và nhiều người quan tâm tôi hơn so với bây giờ, thời gian mới đúng là ngọn lửa thử dữ dội nhất. Sau hồi phán đoán, tôi nảy ra ý tưởng mới, biết đâu đêm nay tôi đến giao lưu với một câu lạc bộ hâm mộ toàn những người lập dị mà tôi là thần tượng, đống sách kia là để tặng.

Mọi vật chứng và sự kiện đều dẫn tới kết luận đó, thậm chí tôi còn nhớ mang máng nơi này, dường như tôi đã từng biết đến nó ở đâu rồi. Nhưng cuối cùng, vẫn có kẻ lên tiếng phản đối, trực giác mách bảo cho tôi biết có gì đó không phải, và một cuộc chiến tranh ngầm nổ ra trong lí trí tôi, giằng co khiến tôi lúng túng. Không như nhiều nhà văn khác, quan điểm của tôi rằng những suy nghĩ tình cảm và những lí luận logic lạnh lùng nhất rất tương đồng với nhau, thậm chí chỉ là một, chính là sự yếu đuối và hèn nhát của con người mới tách chúng ra làm hai để trông có vẻ dễ hiểu hơn nhưng lại là tăng thêm phần phức tạp.

Đến cuối cùng tôi vẫn đầu hàng, tạm gác vấn đề đó sang một bên trước khi não bộ tôi nổ tung. Tôi lần theo những cuổn sách rơi vung vãi dưới đất, tò mò liệu có còn thứ gì khác trong cốp bị rơi ra ngoài những cuốn sách này không. Giang hai tay ra phía trước trong đêm tối như người mộng du, ánh sáng hắt ra từ miệng đường hầm chỉ đủ giúp tôi đi trên một đường thẳng. Và liền khoảng khắc sau đó, tay tôi đã chạm vào một thứ giống như bức tường dựng đứng, bề mặt bức tường sần sùi và lạnh toát. Không, đó không phải là bức tường, tôi giật mình nhận ra, nó chính là con đường mà tôi đã đi qua, giờ đây bẻ cong 90 độ tạo thành bức tường ngăn kín mít toàn bộ đường hầm. Sở dĩ tôi nhận ra được là nhờ sờ vào tấm phản quang tôi loáng thoáng thấy trước mặt, giống hệt cái tôi đã sờ vào khi xem xét xác người đàn ông.

"Đêm nay quả là một đêm điên rồ", tôi tự nhủ, không có bất cứ thứ gì bình thường và hợp lí cả. Đoạn tay tôi lần mò dọc theo bức tường, mong muốn tìm thấy một lỗ hổng để thoát khỏi cảm giác bị sập bẫy, hay thậm chí một đường gờ mấp mô chứng tỏ nó là do bàn tay con người tạo nên, có thế sau khi gặp tai nạn tôi đã bị một cơn động kinh vắng ý thức, và trong lúc đó người ta đã xây dựng cái gì đó chăng?

Và rồi như mọi khi kết quả đến từ nơi không ngờ nhất, chân tôi va phải thứ gì đó cảm giác như cuốn sách, và tôi cố kéo nó ra khi nhận ra đó chính là cuổn sách của mình thật, tôi hơi chậm nghĩ một tí. Nhưng đó là điều bất khả thi khi mà tôi dùng tay sờ mó, nhận ra cuổn sách đã bị chôn chặt vào chân bức tường, như thể cái " bức tường " này vừa được hạ xuống từ trên trời cách đây vài giây vậy. Cái thứ ập đến đầu tiên trong đầu tôi là Chúa trời là thằng trẻ con ba tuổi, chơi bộ đồ chơi không đúng cách hoặc đang thích thú cố tình trêu đùa tôi.

Tôi sau cùng đã làm thứ tôi làm tốt nhất: quay mặt bước đi giống như tôi đã quay mặt bước đi bao lần trong cuộc đời của tôi. Ý nghĩ kì cục chạy thoáng qua rằng tỉ lệ thuận với số giây tôi còn đứng trong căn hầm đó, số những sự kiện kỳ lạ còn tăng lên theo cấp số cộng.

Chiếc ôtô sẽ không còn có thể trở tôi đi đâu cả, giờ cuộc hành trình chỉ còn lệ thuộc hoàn toàn vào đôi bàn chân. Tôi dừng lại một lúc, phóng tầm nhìn ra để xác định lại lộ trình của mình. Nơi tôi đang đứng là một con đường ôm sát uốn lượn theo sườn núi, và ngay phía xa kia, trên eo biển, hoặc là hồ, gì cũng được... là ngọn hải đăng, nơi tôi khao khát đến mà không biết lí do. Con đường trước mặt hướng về đích đến, tôi dự kiến sẽ cuốc bộ đi xuôi theo tuyến đường ôtô này, hi vọng không kết thúc cuộc đời giống người bất hạnh xấu số kia. Ít ra thì giờ đèn đường đã bật sáng, và hình ảnh ngọn hải đăng trước mắt cũng giúp tôi trẫn tĩnh phần nào. Sẽ là cuộc hành trình không xa nữa đâu.

Những tiếng bước chân của tôi vọng đều đều trong ánh đèn đêm, đế giày da quét lên mặt đường lạo xạo. Tĩnh lặng quá, dường như tôi khao khát chỉ cần một luồng gió nhẹ thổi qua mà thôi, cánh rừng thông bên lề đường trái im bặt, ko tiếng côn trùng, động vật kêu, kể cả tiếng lá cây bị gió thổi cũng không có. Đôi lúc tôi tự cảm thấy mình ngớ ngẩn khi dừng lại đột ngột chỉ để kiểm tra xem tiếng động do đế giày của tôi phát ra có phải thuộc về một kẻ khác đang cuốc bộ ngay phía sau tôi hay không.

Mọi thứ cứ thế bình thường trôi đi, những kí ức không logic nhanh chóng bị xóa nhòa dù chỉ mới xảy ra chưa được nửa tiếng trước, đó là cách bộ não giữ cho tâm thần được ổn định, tôi đoán thế. Dọc đường chỉ còn có im lặng, im lặng và chẳng có gì hơn.

Và nếu chỉ có thế thì cũng chẳng có gì đáng kể. Hơn nửa tiếng sau tôi bắt gặp một vực thẳm ngáng đường, và lối duy nhất để vượt qua nó là cây cầu được bắc đàng hoàng qua vực, có mái tránh mưa khá là rộng. Một cái bảng tên đề "Night Spring" gắn trên nóc cầu mà đó là nét chữ cách điệu hay người ta đã nguệch ngoạc vài chữ cho có thì tôi không phân biệt nổi.Vâng, mọi thứ về cây câu đều đàng hoàng ngoại trừ việc câu cầu bị gãy một đoạn dài tới hai mét. Tuyệt vời, xem ra chẳng có kế hoạch nào của tôi có vẻ có hiệu quả ngay từ đầu cả. Tôi đang nghĩ đến việc lấy đà để nhảy qua nhưng độ sâu của vực và cái thác nước dữ dội bên dưới ngay lập tức giết chết ý tưởng đó từ trong trứng nước. Không nên biến đêm hôm nay thành một cuộc phiêu lưu khác, nhất là khi cảm hứng của tôi đã ỉu xìu sau những gì đã xảy ra.

Với chút tinh ý, tôi phát hiện ra sườn núi phía bên phải tôi có một chiếc cầu thang gỗ hẹp dẫn xuống dưới, có lẽ để cho dân du lịch, hoặc đơn giản là gần đây có căn nhà dân nào đó, bởi chất lượng gỗ hơi kém, dường như được làm thủ công. Rồi chẳng cần chút tinh ý nào, lù lù hiện ra trước mặt tôi là bảng chỉ dẫn " địa điểm trú mưa dành cho người leo núi ", tôi chặc lưỡi: " cũng gần chính xác ".

Ngay lúc này, khi tôi chắc chắn cho rằng hiện thực đã trở lại cái vốn dĩ hợp lí logic buồn chán của nó, các sự kiện luôn biết chơi đùa với nạn nhân trong câu truyện. Chú ý trên thành chiếc cầu thang, ánh mắt tôi dừng lại ở một tờ thông báo tìm người mất tích được đính bằng gim, và cũng không có gì ấn tượng nếu người trong ảnh không giống tôi đến kì lạ. Tò mò bước chân lại gần, tôi dừng ngay lại, có cái gì đó lạ lẫm trong tiếng bước chân, giống như nó trở nên âm vang hơn vậy. Không đúng, tiếng động đó rời rạc, giống như... giống như có hai tiếng chân dẫm cùng lúc. Dù với những lần báo động giả trước đó, nó hoàn toàn chẳng ảnh hưởng gì đến quyết định hành động tiếp theo của tôi, cho dù chú bé chăn cừu có nói dối dân làng bao nhiêu lần đi nữa thì mẹ nó vẫn cứ chạy ra xem.

Tôi quay đầu lại, không như tưởng tượng của tôi, sau lưng tôi chẳng có ai cả, đáng lẽ tôi chỉ cần quay lại và bước đi như chưa có gì xảy ra, nhưng có thứ gì đó giữ tầm mắt tôi lại, thứ gì đó ở đằng xa, có dáng của bóng người đen thùi lũi buông xoãi hai tay xuống. Làm sao nó có thể tạo được tiếng động tôi vừa nghe trong khi nó ở xa thế nhỉ? Tôi nheo mắt cố gắng định hình xem nó là cái thứ gì.

"Á", luồng âm thanh thoát qua cổ họng tôi. Tôi có thể thề với ông trời là tôi không hề nháy mắt, 1/1000 giây nháy mắt cũng không hề. Nhưng cái bóng, nó bất thình lình nhảy đến sát cạnh tôi, như thể nó có phép dịch chuyển tức thời hay giống như cuốn nhựa chiếu rạp bị đốt cháy mất vài cảnh vậy. Và ở cự li này tôi có thể biết chắc chắn đó là con người, cụ thể hơn đó chính là gã đàn ông "đen đủi" tôi đã đâm phải ở đường hầm, có gì khác thì chỉ là hắn trông cực kỳ giận giữ.

Hắn nhìn tôi với ánh mắt hình viên đạn, và tôi nói thế không phải bởi tôi nhìn thấy mắt hắn. Không có đôi mắt nào cả, khuôn mặt hắn như bị tạt một lớp nước đen kịt lên trên khó lòng nhận ra mắt mũi, cũng giống như quần áo của hắn vậy. Nhưng tôi có thể dám cá 100% rằng hắn cũng đang nhìn chăm chăm vào mắt tôi.

- Mày không nhận ra tao phải không, thằng " nhà văn " ?

Tất nhiên tôi nhận ra ông rồi, ông vừa mới nằm chết ở ngay kia mà, tôi nghĩ, đoạn nhận ra sự mỉa mai trong câu nói của gã, với giọng điệu như muốn đóng ngoặc kép hai từ " nhà văn ".

- Mày nghĩ mày là Chúa Trời? Bịa đặt ra các thứ? Chơi đùa với mạng sống của người khác và giết họ lúc nào mày thích để tăng phần kịch tính cho câu truyện?

Hắn vừa nói đoạn vừa cầm thứ hắn mang ở tay phải mang hình dáng của một cái rìu, vung lên loạn xạ. Tôi lùi lại phía sau chục bước, mắt trợn trừng, miệng há không nói thành lời bởi kinh ngạc. Giọng hắn biến đổi liên tục, lúc bình thường, lúc như con thú bị thương gào rú, cách đặc biệt của hắn để nhấn mạnh từ ngữ, vào bất kì lúc nào hắn thích.

- Giờ thì mày đang nằm trong câu truyện rồi đấy! Cảm giác thế nào?
Tao sẽ bắt mày phải chịu ĐAU KHỔ!!!


Giờ thì hắn gào lên hoàn toàn, lao toàn thân về phía tôi vung vẩy cái rìu chết tiệt khắp nơi. Tôi nhảy giật lùi về phía sau vài bước, rồi quay lưng chạy. Chiếc rìu của hắn chém trúng vào bảng điện gần đó làm toàn bộ đèn trên cầu thang tắt ngóm. Cũng vừa may mắn hệ thống đèn trên trục đường chính vừa đủ để tôi nhìn thấy đường chạy, và cũng vừa đủ để phát hiện ra cầu thang này đã bị mục gẫy ở giữa chừng, và độ cao cách mặt đất phải đến ba mét.

Tên thần kinh đã đuổi đến sau lưng tôi, và trông sức hắn đủ để chẻ tôi ra làm đôi. Tôi là con mèo bị dồn đến chân tường, và cách duy nhất để thoát khỏi con chó điên kia là nhảy xuống dưới. Tôi hít hơi dài, nhưng trước khi kịp hành động tôi đã được một bàn tay " giúp đỡ " không ngờ: chiếc rìu của tên sát nhân chém trúng vào một trong những trụ cầu, bằng cách nào đó gây hiệu ứng domino khiến đoạn cầu mục nát chỗ tôi đang đứng sập hoàn toàn. Tôi bị rơi xuống dưới và may mắn chỉ tiếp đất trên hai đầu gối thay vì tiếp đất bằng mặt. Lồm cồm bò dậy, tôi dự tính tên thần kinh đó sẽ nhảy xuống và tiếp tục dí theo tôi sát nút. Nhưng không, hắn vẫn đứng yên đấy, trên đầu chỗ cầu thang mục nát bị sập, như thể có một bức tường vô hình ngăn cách giữa hắn và tôi. Nhưng không có bức tường nào ngăn nổi hắn thốt ra những tràng độc địa:

- Mày đúng là trò hề cũ rích rẻ tiền. Tác phẩm của mày sẽ không có nổi một câu văn nào có thể ngửi được nếu không phải nhờ BIÊN TẬP VIÊN của mày. Ồ, mày sẽ không còn xuất bản thêm CÂU TRUYỆN NHẢM NHÍ nào của mày nữa đâu.
Vì hôm nay tao sẽ GIẾT MÀY!


Cái cách mỉa mai trực tiếp này, cái dáng người và trang phục, tôi đã không cảm thấy quen nếu như không sau hồi quan sát và suy nghĩ.

- Đó không phải do câu truyện của mày có tí nào ƯU ĐIỂM, tí nào TÀI NĂNG VĂN HỌC. Mày là một thằng nhà văn DỞ TỆ, với những giả thuyết rẻ tiền và những thứ TÌNH CẢM GIẢ TẠO NHỐ NHĂNH. Đấy, mày chỉ có thể làm được đến thế thôi!

Nhìn vào tao này!

NHÌN VÀO THÀNH QUẢ CỦA MÀY NÀY!

Hắn quay bước đi và chìm vào trong bóng tối.

Tôi nhận ra hắn, không phải là gã đàn ông mà tôi vừa mới đâm xe vào, hắn có vai một tên sát nhân, là nhân vật phụ trong tập tiểu thuyết tôi viết dở hai năm trước mà giờ tập tài liệu chắc đang phủ mạng nhện trong căn hộ tập thể ở New York.

Cắm đầu cắm cổ chạy, tôi không nhận ra tức thời thời tiết đã thay đổi thế nào trong năm phút: bầu trời vần vũ chất đầy những đám mây, gió thổi mạnh dần lên như trong cơn bão, bụi đất và các mảnh rác bị thổi tung lên mù mịt, tầm nhìn giảm dần về không. Cả ánh đèn đường cũng không giúp được gì nhiều nữa. Thời tiết lí tưởng cho một cuộc dạo chơi bị-phục-kích. Những thứ mà tôi chỉ có thể làm bây giờ là chạy trốn thật nhanh.

Tôi nhanh chóng tiến tới một địa hình hẹp, dường như ở đây ngày trước đã có dòng kênh hoặc suối nhỏ chảy qua nay đã cạn khô, hai bên dốc lên thoai thoải là hai bụi cây sồi độc rậm rạm. Và bóng đen của gã đàn ông không bất ngờ xuất hiện, đứng chặn giữa con đường độc đạo, thét lên những tiếng thú vật hòa cùng tiếng gió:

- ĐẾN DẤU CHẤM CÂU CỦA MÀY RỒI!!!

Trong khoảng khắc tôi đã ảo tưởng rằng hắn đã chần chừ đứng yên ở đầu bên kia con đường, và ham muốn duy nhất của hắn là chặn đường không cho tôi đi tiếp, nếu cứ giữ tình hình như vậy tôi có thể có vài giây suy tính cách nào để vượt qua hắn. Chỉ cho đến khi tiếng lưỡi rìu sắc lém cứa lên mặt đất ré lên khi gã kéo lê nó lừ lừ tiến về hướng tôi, những toan tính dở dang trong đầu tôi mới tan biến như bọt xà phòng và những lời lẩm nhẩm cầu nguyên ông trời ban cho tôi một khả năng phản xạ của cơ thể thật nhanh mới rỉ ra từ hai hàm răng đang đánh lập cập vì lạnh.

Chỉ cần vượt qua một chướng ngại vật, tôi nhủ, cho dù gã thần kinh kia có kì quái và đáng sợ nhưng nếu nhìn hình dáng bên ngoài hắn cũng chỉ là con người bình thường, với sức mạnh và phản xạ của một con người, và con người luôn mắc sai lầm, tôi phải tìm cách lừa hắn. Tôi lập tức đứng dạng hai chân ra, chờ đón hắn tới, nhìn vào khuôn mặt khủng bố của hắn, tôi nuốt nước bọt, hi vọng cái chướng ngại vật biết kua rìu không quá nhanh để né tránh.

Nhìn dáng chạy của hắn, hắn đang dần đi lệch về phía bên phải của hắn, để lại khoảng trống ở phía bên phải của tôi đủ để chạy nước rút qua mà không vướng víu gì. Tôi chuyển chân trụ sang bên phải, lấy đà chuẩn bị chạy nước rút, hay ít nhất tôi cố tình tỏ ra đang dự tính như thế: đó là cái bẫy rõ ràng và đơn giản, rất hiệu quả với những kẻ mà chỉ số IQ thấp hơn ba con số. Hơn nữa cái rìu mà gã đang cầm là loại cán dài, có thể với tới đúng tầm đầu tôi nếu tôi chạy vào vị trí hắn định trước đó. Không, tôi sẽ phải chạy luồn qua bên trái, khe hở nhỏ và phải lách người nhưng yếu tố bất ngờ sẽ cùng phe với tôi, và hắn sẽ phải lúc túng không biết xoay sở thế nào.

Thời gian trôi nhanh hơn tôi tưởng, tôi đã nghĩ tôi sẽ có bốn, năm giây trước khi hắn tiếp cận, nhưng chỉ khoảng hai giây hắn đã tiến tới sát nút, cũng có thể do cảm nhận thời gian của tôi bị ngắn đi. Tôi hướng lực bản thân về phía bên phải, nhưng không phải trên một đường thẳng mà là đường cong cầu vồng, và chỉ cho phút chốc đổi chân trụ, cơ thể tôi đã hoàn toàn hướng sang trái. Nhưng mọi thứ không như dự định, đường cong tôi vẽ ra hơi cong một cách lộ liễu và thời gian hơi chậm hơn so với hình dung. Đó cũng chính là lúc mắt tôi chạm mắt hắn, và tôi biết kế hoạch của mình bị bại lộ: lưỡi rìu đang vung lên ở góc trên cùng bên phải, chếch góc 45 độ đi xuống, hắn đang nhằm thẳng vào giữa thân tôi mà chém, lần thứ hai trong đêm nay tôi nhớ tới Alice và cái cách tôi sẽ không bao giờ gặp lại cô ấy nữa.

Nhưng mạng tôi chưa tận. Tôi chằm quan sát cái cách lưỡi rìu nhích xuống từng cm một. Hiện thực thay đổi giống như bộ phim quay chậm của Hollywood, hắn và tôi cùng chậm rãi trôi nổi trong không trung. Từ nguồn không xác định, một cảm giác mới lạ choáng ngợp tôi. Nhanh hơn tia sét, tôi uốn mình như con rắn, lượn vòng xung quanh đúng lúc cái rìu bổ hụt xuống vào không trung, và bằng cách nào đó tôi đã thu mình lọt qua cái khe nhỏ xíu dưới lưỡi rìu của tên sát nhân để lại chuyển hướng sang phải. Đường rộng thênh thang và tôi cắm đầu cắm cổ chạy, không biết hình dáng gã đàn ông đã tan vào bóng tôi.

Adrenaline xem ra là thứ thuốc kích thích tốt nhất mà tôi đã từng dùng. Tự nhiên là tốt nhất.

Gã đàn ông " tan biến " không có nghĩa là hắn "biến mất" hẳn, hắn chỉ biến mất trong tích tắc rồi lại hiện ra đứng nhìn phía tôi đang chạy như thể hắn sợ tốn khoảng thời gian quay người lại đuổi theo tôi vậy. Nhưng thay vào đó gã đứng yên, tôi ngoái cổ lại nhìn gã, gã hét lên:

- Mày cảm thấy thế nào khi bị giết bởi chính sáng tạo của mình, HẢ?

Bóng đen của gã bị kéo lên không trung, kéo dài và giãn ra cho đến khi chỉ còn là đường kẻ dài lượn vòng trôn ốc trông không khí. Một cơn lốc cuồn cuộn của những dải khí đen hình thành trong cơn bão ngày càng tồi tệ xung quanh tôi, lớn dần theo thời gian,rựt đứt lá cỏ, vỏ lon bia, một cái xe kéo công trường và thậm chí bật rễ cái cây nhỏ gần đấy. Nếu so sánh với các sự kiện đêm nay thì bằng cách nào đó thứ đang xảy ra trước mặt tôi điên rồ một cách hợp lí, lí trí tôi dễ dàng và mặc nhiên dung nạp nó vào não bộ mà không cần phải nhắc tới những từ " điên rồ " hay " kì quái " nữa. Một gã xe đâm không chết, biết dịch chuyển tức thời thì chắc có sức mạnh siêu nhiên để biến thành cơn lốc xem ra là bước tiến triển logic.

Không đợi nhìn thấy cơn lốc đang nghiêng người tiến về phía mình, hai cẳng chân tôi xúi giục nhau chạy thật nhanh. Những gì tôi nhìn thấy xung quanh giờ chỉ là mờ nhạt và đen tối, một bức " Đêm Huyền Ảo " của Van Gogh thứ thiệt có điều chỉ toàn có bầu trời đêm với những ánh sao hiếm hoi là những ánh đèn dọc đường dành cho khách du lịch soi sáng đường tôi đi. Ánh đèn đường tỏa sáng đem lại cho tôi cảm giác tĩnh lặng, không điên rồ và là đích đến duy nhất của tôi trong màn đêm cuồng loạn này, giống như một con người lạc lõng tìm được mục đích cuộc đời vậy.

Và đôi lúc tôi có cảm giác gã đàn ông kia đọc được ý nghĩa của tôi. Với mỗi bước chân nước rút, ánh đèn trước mặt bỗng dưng tối dần, nhấp nháy và bóng đèn nổ BỤP trước khi bàn tay chơi với vươn tới trước cố nắm lại thứ ánh sáng đang dần trượt khỏi cuộc đời ngay trước mặt - cái thứ mà tôi chắc chắn chính là hành động ác ý của tên sát nhân: giết chết ánh sáng. Với mỗi nỗ lực tôi gom góp trong thân thể đang cạn dần sinh khí để chạy nhanh hơn, luôn là chỉ còn cách một khoảng khắc ngắn ngủi trước khi mộng tưởng tôi có thể thắng hắn trở thành hiện thực. Tôi vừa chạy vừa quay đầu lại đằng sau lần nữa. Khoảng cách giữa tôi và cơn lốc không rút ngắn lại tí nào cả tuy tôi cũng chẳng bỏ xa được hắn thêm tí nào. Đó cũng có thể tính là điều tốt tùy theo quan điểm từng người, nhưng trong tâm can tôi lại dồn nén nỗi bực tức. Dường như với sức mạnh siêu niên của hắn, việc tóm gọn và nghiền nát tôi chỉ giống như con mèo bắt con chuột bị dồn vào bức tường. Không may, hắn phải vờn tôi trước, đôi mắt vô hình của hắn dõi theo trên cao, nhìn tôi vật lộn đấu tranh dành cuộc sống đã là tạm thời đủ thỏa mãn cho cơn khát máu điên cuồng của hắn. Và đến lúc nào hắn chán, hắn sẽ thò một ngón tay xuống dí nát tôi như dí một con kiến. Tôi đang ở trong thế giới do hắn thao túng, đó là cách tôi biết mạng sống của mình lúc này không còn phụ thuộc vào đôi chân dù tôi cố gắng bao nhiêu hay trí óc tôi có nghĩ ra được kế hoạch hay ho nào, cảm giác mất quyền điều khiển cuộc sống của chính mình khiến nhiều người phát điên.

Mặc những suy nghĩ tiêu cực và lan man, bản năng sinh tồn trong tôi vẫn trỗi dậy mạnh mẽ và đứng dậy cầm lái cơ thể tôi khi ý chí đã muốn đầu hàng. Chân tôi chạy nhanh hơn mọi lần tôi chạy trong đời, cổ họng cố gắng nhồi nhét vào càng nhiều oxy càng tốt bỏ mặc chuyện nó đã bị cào rách toạc bởi cái lạnh và khô của không khí ban đêm.

Những ánh đèn vỡ dẫn dắt bước chân tôi đi theo con đường mòn hướng xuống phía dưới, và chỉ với vài bước chạy, tôi nhận ra trước mắt mình là hẻm vực sâu hun hút khác. Con vực này phải dài gấp ba con vực trước, và sâu không nhìn thấy đáy. Bắc ngang qua con cầu là một chiếc cầu treo gỗ dài, đơn sơ và rất chênh vênh, nhưng sự nguy hiểm của chiếc cầu lại không thu hút sự chú ý của tôi bằng cái nơi mà nó dẫn đến. Ở bên kia mép vực tồn tại một căn chòi gỗ nhỏ, và từ nơi tôi đứng có thể rõ ràng thấy những tia sáng chiếu le lói qua khe cửa sổ.

Trong một buổi đêm "bữa tiệc của sự điên rồ" như đêm nay, căn nhà nhỏ bình thường kia như vị khách không mời mà đến. Và khi sự "điên rồ" được chấp nhận như sự thật hiển nhiên, những thứ "bình thường" sẽ thế chỗ trở thành những thứ kì lạ và quái dị.

Tôi lúc đó lại không thể nghĩ thêm nhiều, và đôi chân tôi đã đặt lên trên chiếc cầu treo từ lúc nào mà tôi chỉ vừa nhận ra bởi cơn gió khiến nó đung đưa dữ dội. Khung cảnh quen thuộc gợi cho tôi nhớ lại cái cách các nhà làm phim luôn tận dụng tình huống như thế này để nâng tính kịch tính và bi kịch lên một cách giả tạo trong những bộ phim thị trường trôi nổi đầy rẫy. Bằng cách nào đó, tôi tự nghĩ nếu cây cầu gẫy ngay bây giờ thì cuộc đời mình chẳng qua cũng chỉ là một bộ phim rẻ tiền khác mà thôi.

-Mau lên hướng này!

Thứ gì đó đã phá hỏng dòng suy nghĩ của tôi, ai đó! Một tiếng người gọi phát ra từ bên kia chiếc cầu làm tan biến nỗi nhớ nhung của tôi được nghe một giọng nói bình thường trong đêm nay.

- Đằng này anh Wake! Nhanh lên!

Tôi chạy băng qua chiếc cầu thành công và may mắn là chiếc cầu đã không bị gẫy thật. Tôi giáp mặt người đàn ông kia. Ông ta không cao lắm, mái tóc có màu hung được chải ra phía sau xoăn lên làm lộ ra vâng trán cao, khuôn mặt ông dài với vài nếp nhăn nhưng lại trông khá trẻ với dáng người đứng thẳn nhanh nhẹn và mặc một chiếc áo bóng chày trẻ trung. Tôi lùi lại một bước khi nhận ra ông ta đang cầm khẩu súng lục ổ đạn quay trong tay.

Người đàn ông tỏ thái độ không đếm xỉa đến phản ứng của tôi một cách "thân thiện",đơn giản là ông ta quay nửa người đi vung vẩy bàn tay cầm súng về phía tôi, tay còn lại chỉ về hướng khác như một ám hiệu chỉ phương hướng.

- Tôi là Clay Steward đây, anh còn nhớ chứ? Chạy vào trong nhà mau lên.

Chưa hết mừng rỡ vì gặp được một "sinh vật" cùng chủng loại với mình, như người chết đuối vớ được cọc, toàn bộ niềm tin của tôi nhanh chóng đặt vào người đàn ông này. Cho dù khuôn mặt và giọng nói hoàn toàn lạ lẫm tôi chưa bao giờ tiếp xúc lấy lần nào trong đời, nhưng ít ra cái cách ông ta tự cho rằng mình đã quen biết tôi từ lâu dựa vào cái cách mà ông ta nói chuyện và ra lệnh cho tôi, cũng đủ để cho tôi lập tức làm theo bất cứ điều gì ông ta yêu cầu, đủ phải không nhỉ?

- Nhanh chân lên, hắn đuổi tới nơi rồi!

Mặc dù đôi tai đang thở phì lao động đường phố vì chạy, tôi vẫn có thể nhận ra rõ ràng rằng không như tôi, người đàn ông tên Clay này có một ý thức "dễ định hình" về thứ mà chúng tôi phải đối mặt hơn tôi nhiều. Có thể vào một lúc khác thuận tiện hơn lúc này, tôi sẽ đưa ra vài câu hỏi cho ông ta và cuối cùng sẽ có thể nắm được cái quái gì đang xảy ra đêm nay.

Tôi chống hai tay lên đầu gối, hít thở được đúng hai lần trước khi bàn tay hối thúc của Clay đẩy tôi tiến về căn nhà, đành miễn cưỡng di chuyển hai cẳng chân bất trị đang run rẩy. Tôi quay lại phía sau nhìn Clay, ông ta một đằng hối thúc tôi tiến về phía trước, một đằng cũng đang ngoái cổ lại nhìn cơn lốc đang nghiền nát cây cầu treo. Khác với trong lòng tôi lúc bấy giờ đang tràn ngập nỗi hoang mang và hoảng sợ, tôi có thể thấy trên nét mặt ông ta là lo lắng và suốt ruột. Tôi không có nói ông ta không hoảng sợ như tôi, nhưng thêm vào đó dường như ông ta biết bóng đen lạ mặt kia định làm gì, và ông ta biết sức mạnh của hắn đến dường nào, nếu chúng tôi không cố hết sức, cái chết là điều không tránh khỏi.

Tôi đã không nhận ra ánh sáng và không khí ấm áp của một nơi trú ẩn an toàn đã bao quanh tôi khi tôi đã bước chân vào trong căn nhà, cho đến khi cánh cửa vô hồn lạnh lùng đóng sầm sau lưng tôi. Giật mình thoát khỏi cơn mộng mị của ý thức, tôi phát hiện Clay vẫn đang bị kẹt ở phía bên ngoài và đang đập cửa rầm rầm tìm lối vào.

Nhanh chóng tiến tới cánh cửa đóng, chỉ để nhận lấy cảm giác hụt hững khi thấy cánh cửa đã bị khóa, và khóa một cách kì lạ. Không như các loại cửa thông thường khác khi nút ấn khóa trái ở phía trong nhằm phục vụ cho các mục đích của chủ nhà không cho người ngoài xâm nhập, tôi có thể cảm nhận rõ ràng lỗ khe để đút chìa khóa vào nằm thay thế ở vị trí đó. Suy nghĩ nảy ra đầu tiên của tôi là có thêt nắm cửa đã bị ngược, và nút khóa trái nằm ở phía bên ngoài, chỉ cho đến khi nắm đấm cửa bị tuyệt vọng xoay liên tục tại chỗ bởi Clay ở bên ngoài, tôi biết ông ta cũng không cách nào mở khóa được cánh cửa này.

Cơn bão đang ngày một dữ dội hơn ở bên ngoài, trong phút chốc tôi đã tượng tượng thấy qua cửa sổ cảnh tượng Clay bị gió cuốn bay lên trời với hai bàn tay chới với ra trước tìn chỗ bám, nhưng chỉ liền vài giây sau đó tôi nhận ra đó chỉ là một đoạn cành cây gẫy bị thổi dính chặt vào cửa sổ bên cạnh, và trông nó xấu xí không tưởng tượng nổi.

Và rồi bỗng dưng chỉ còn im lặng.

Nối tiếp là những tiếng rầm rầm của các vật thể đang bay lượn trên không trung bỗng rơi xuống đất. Một tiếng gió rít mạnh nổi bật trong đó như nhát dao cùn cứa vào không khí, và từ đó, lơ lửng không từ đâu cả, tôi nhìn thấy cái bóng đen của gã sát nhân đang cố dành lại hình dáng vốn có trong một góc tối đen của bụi cây và cỏ dại.

Sự im lặng cũng có thể biến thành nỗi khiếp sợ, và Clay sớm nhận ra nỗi khiếp sợ trong không khí, trong ánh mắt tôi. Ông quay lại đối diện với cái thứ lạ lẫm đang bước khỏi bụi rậm tiến về phía mình, những bước chân thoăn thoắt cùng lưỡi rìu được vung lên cầm bằng cả hai tay báo hiệu những điều chẳng lành. Tôi có thể nhận thấy sự tuyệt vọng của Clay mà không cần nhìn vào mắt ông.

Mặc dù không khí đã bị căng thẳng đông cứng, tôi nhận ra mình phải làm gì đó trước khi quá muộn. Và cái thứ duy nhất ngăn cản tôi không phải cái đầu bởi tôi đã có sẵn một dự tính, mà là nỗi băn khoăn. Nếu làm như tôi nghĩ, phá cánh cửa để Clay vào, thì đó quả là 1 hành động thừa thãi khi mục đích của tôi chạy vào ngôi nhà này để trốn tránh gã thần kinh kia, hành động như thế chẳng khác nào mời rắn vào cắn gà. Tôi biết nghe thì có vẻ độc ác, nhưng con người nào cũng coi mạng sống của mình quý hơn người khác, lẽ tự nhiên. Còn ai không thì kí vào giấy hiến nội tạng rồi cầm súng bắn vào đầu cho nhanh. Dù tôi biết sự thật có thể hoàn toàn không như tôi nghĩ, có một điều tôi biết chắc chắn là mở cửa ra bây giờ cơ hội sống sót của tôi sẽ giảm đi đáng kể, vấn đề còn lại là liệu sự mạo hiểm ấy có đáng để tôi đánh đổi với mạnh sống của Clay hay không? Ông ta có thông tin tôi cần, giữ một khẩu súng trong tay có thể bảo vệ tôi, đó là về lâu dài.

Lợi ích lâu dài và thỏa mãn hiện tại, luôn là vấn đề nhức nhối của con người.

Thời gian không chờ đợi ai và tôi biết tôi đã để lỡ khoảng khắc ra quyết định: tên sát nhân đã tiến sát đến bậc cầu thang của ngôi nhà, rất gần Clay. Cho dù giờ tôi có phá cửa ra, một nhát rìu vào lưng Clay là điều không tránh khỏi nếu không ngăn chặn hắn. Clay cũng biết diều đó, ông quay lại, giương súng lên, cố ngắm vào đầu bóng đen với bàn tay và giọng nói run lẩy bẩy:

- Đứng lại! Không ta bắn!

Chỉ như một lời chào xã giao dành cho quân sát nhân khát máu, hắn không lộ vẻ gì muốn dừng lại, tôi chưa bao giờ cho rằng ngôn từ lại có hiệu quả với bạo lực cả. Nhưng súng chưa nổ, dù tôi biết chắc Clay cũng chẳng có ý định thương lượng với hắn bằng lời nói.

Clay dang lúi húi với cái gì đó trên tay trái mà ông vừa rút ra từ thắt lưng, những tiếng lách tách vội vàng lên tiếng từ những nỗ lực của Clay đang thực hiện với nó dần dần nhuốm màu tuyệt vọng.

- Mẹ nó chứ!

Bất kể thứ gì Clay đang định làm, ông từ bỏ, vật không xác định trượt từ tay ông rơi xuống nền đất lạnh. Một nỗ lực không thành của tôi để xác định xem vật đó là gì nhanh chóng mất đi mục đích khi tâm trí tôi bị cuốn vào những chuỗi sự kiện tiếp diễn sau đó.

Những tiếng súng không khoan nhượng nổ ra liên tục nhắm thẳng vào cái bóng đen, liên tục không nghỉ. Dù cách một bức tường gỗ, tiếng súng vẫn làm tôi đinh tai nhức óc khác hẳn những "thứ" được cố diễn tả trên tivi. Nhưng đó vẫn không khó diễn tả bằng thứ xảy ra sau đó, bởi vì dường như chẳng có gì xảy ra cả: một bên Clay Steward vẫn nã những tràng tuyệt vọng vào tên sát nhân, một bên tên sát nhân vẫn lừ lừ tiến tới, không một phản ứng, hắn không bị gục ngã bởi viên đạn, cũng như cơ thể hắn không đẩy lùi theo đường đạn, những cuộn khói đen nhỏ đang rỉ ra từ cơ thể hắn cũng vẫn lững lờ trôi xung quanh không hề thay đổi. Những viên đạn chẳng có ảnh hưởng được bất kì cái gì cả, giống như bằng cách nào đó đường đạn bị bẻ cong bắn đi những hướng trái với ý muốn của chủ nhân, hay thậm chí sự hiện diện bị xóa bỏ khỏi thực tế như cách người biên tập viên xóa những tình tiết khỏi bài viết của một nhà văn.

- Không, không!

Những gì sau đó xảy ra nhanh một cách ngỡ ngàng. Súng của Clay hết đạn, ông thay đạn. Tên sát nhân vung lưỡi rịu sáng loáng lên, chém vào giữa ngực Clay cái phập. Ông khụy xuống, rồi ngã xấp mặt, mắt trơn trừng, không thể thở. Lưỡi rìu lại chém mạnh xuống, nghỉ, rồi lại chém thêm nhát thứ hai, bảo đảm cái chết cho nạn nhân.

Như thế Clay đã chết.

Không có nhiều thời gian tiếc thương. Một khi gã sát nhân thỏa mãn với cái xác bất động của Clay trên mặt đất, gã bất thình lình ngước lên, qua khung cửa sổ, mắt tôi chạm mắt hắn, và trong tích tắc nháy mắt, tôi thoáng thấy hình tượng cái xác của tôi trên mặt đất, bất động.

Giật mình lùi lại vài bước, mồ hôi toát ra nhễ nhại từ lúc nào, tôi phải nhanh chóng xây dựng cho riêng mình một kế hoạch tẩu thoát khi chỗ dựa bảo vệ vừa mất. Hiện tôi đang tạm thời an toàn trong căn phòng khép kín, nhưng vấn đề là được bao lâu. Quan sát xung quanh, tôi thấy căn phòng có đến năm lối để vào, hai cửa ra vào trước và sau và ba cửa sổ. Hiện giờ, có cho vàng tôi cũng không dám chạy ra ngoài, cái bóng đen đã di chuyển khuất tầm mắt không còn thấy ở đâu cả, hắn đang rình tôi trong bóng tối, chắc chắn. Sự vắng mặt đến hình dáng của hắn lại khiến cho hiệu quả của sự khiếp đảm lơ lửng trong không khí tăng lên gấp trăm lần, hằn muốn "hun khói" tôi ra ngoài, khiến tôi cảm thấy ngột ngạt mà phải trườn mặt ra khỏi nơi trú ẩn. Không bao giờ đâu, nếu hắn muốn chơi tôi thì hai người có thể cùng chơi trò chơi này. Tôi sẽ ở lì tại đây bởi trong ngôi nhà này tạm thời là nơi an toàn nhất cho tôi, và tôi sẽ chờ đợi, một cuộc thi thử lòng kiên nhẫn và tính lì lợm thì tôi có thừa. Một khi hắn hết nhẫn nại mà xông vào từ một trong những lối vào kia, tôi sẽ chọn một đường thoát ngược hướng của hắn để chạy ra, và thế là từ thế bị động chuyển sang thế chủ động, tôi sẽ chơi nước cờ trên tay hắn một bước.

15 phút trôi qua dài như cả một thế kỉ, nhất là trong ngôi nhà không có chiếc đồng hồ nào. Tôi giết thời gian bằng cách quan sát xung quanh, phát hiện ra một điều kì cục về ngôi nhà, sự hiện diện của đến năm cái tivi được dặt rải rác khắp nơi: trên bàn, dưới đất, trên nóc tủ thậm chí còn cả ở trên giường. Chẳng qua là một tiểu tiết nhỏ nhặt và vô nghĩa, chẳng có chút ấn tượng nào. Tôi lập tức chuyển sang suy tính về cái kế hoạch đã được vạch ra của tôi, về cơ bản là nó hoàn hảo, tôi tự nhủ, ngoại trừ việc tôi không thể biết hắn sẽ bước vào từ lối nào từ một trong năm lối, hay thậm chí là liệu hắn có cần phải bước vào ngôi nhà này để giết tôi hay không, tôi chỉ có thể tùy cơ ứng biến. Nhưng mà này, dù sao tôi cũng không phải dạng người cố hoàn hảo hóa nhất cử nhất động của mình, tôi chấp nhận rủi ro và hành động, đó là cách tôi sống. Một chút hài hước để đem lại lạc quan cho tối hôm nay: không như Chúa, tôi chơi trò xúc sắc với số phận.

Những tiếng cọt kẹt vang lên từ bên dưới sàn gỗ của ngôi nhà đang lặng thinh. Cuối cùng những bánh răng sự kiện cũng chuyển động, tôi vào tư thế sẵn sàng cho cuộc đào thoát dù trong lòng có mang chút bất an.

Bỗng dưng những tiếng rì rào vang lên trong căn phòng, nghe như tiếng sóng vỗ nhưng đều đặn một cách đáng ngạc nhiên đến mức cảm giác giả tạo, giống như được tạo ra bởi một thứ mà không có khái niệm tồn tại vật lý vậy. Đảo mắt nhìn xung quanh, cuối cùng tôi cũng phát hiện ra nguồn gốc của tiếng động lạ phát ra từ một cái tivi đặt trên giường.

Hiện diện trên màn hình cong của chiếc tivi đời năm 80 là một đường kẻ chéo, hơi cong một cách tự nhiên về một đầu. Tôi đã không thể hiểu nổi nó là cái gì cho đến khi đường kẻ mở rộng ra, lộ chân tướng là một con mắt người. Một con mắt thật ghê rợn, nó khiến cho tôi lạnh sống lưng: mi mắt mở to hết cỡ và co giất giống như đã vượt qua giới hạn sức lực của con người, đồng tử đang co lại dần trên tròng mắt màu nâu sáng mà tôi có thể nhìn rõ được những nếp ngoằn ngoèo ở phía trong nổi lên rõ ràng như những vết nứt nẻ hướng về con ngươi.

- Giết!

Tiếng nói tù tivi phát ra, kéo theo tiếng bật lên rì rào của những chiếc tivi còn lại lần lượt lên tiếng. Chẳng mấy chốc tôi nhận ra mình đã bị bao vây.

- Giết! Giết!!

Giọng nói có xu hướng càng ngày càng cao hơn, dồn dập tới tấp như đang quát và mặt tôi dù giọng nói không hề hét to, cảm giác như cả thế giới đang chống lại mình .

- Giết! Giết!! Giết!!!

Tôi phải tìm ngay đường thoát thân. Tiến đến bên cửa ra vào dẫn ra lối sau, và cánh cửa cũng đã khóa trái, thế là một lối thoát đã bị chặn.

- Giết! Giết!! Giết!!! Giết!!!!

Chỉ còn cách chạy ra ngoài cửa sổ! Tôi cho đã cho rằng mình đã ứng phó được một phương án khả thi cho đến khi tôi nhìn lên. In rõ trên lớp cửa kính cửa sổ, lại chính là ảnh phản chiếu đôi mắt tâm thần trên tivi kia, tuy trong suốt nhưng khá thật, giống như có một con mắt thực sự đang lơ lửng bên ngoài căn nhà vậy. Hai con mắt trên hai cửa sổ trên bức tường biến nó thành một bộ mặt phẳng lì lạnh lùng nhìn thẳng vào tôi mà phán xét.

- Giết! Giết!! Giết!!! Giết!!!! GIẾT!!!!!

Những tràng cười the thé và man rợ cất lên, khoái lạc nhìn tôi vụng về xoay sở trong cái thân xác tàn tạ của mình, chúng co giật, nhảy múa và rồi biến mất. Tất cả, biến mất, giống như, chưa có gì từng xảy ra, giống như, một bước chuẩn bị cho những kế hoạch khủng bố tiếp theo.

Những tiếng cọt kẹt vang lên khủng khiếp, nghe như những thanh thép khổng lồ bị một bàn tay to lớn bẻ cong phát ra, làm hỗn loạn những bộ óc dũng cảm nhất. Tôi có cảm giác mơ hồ rằng sàn nhà đang rung lên nhẹ với tần số lớn, những hạt bụi, đất và cát trên nền nhà hơi bị bắn lên không trung bởi chấn động. Trước khi tôi có thể biết chuyện gì đang xảy ra, cả ngôi nhà giật đùng lên một cái rất mạnh, lọ hoa, tivi, tranh ảnh... thi nhau rơi xuống sàn nhà vỡ thành những mảnh to nhỏ hoặc lăn lông lốc khắp nơi. Hai đầu gối tôi khụy xuống, mất thăng bằng, đầu hàng trước động lực to lớn vừa được tạo ra. Nhưng chưa phải kết thúc, căn nhà tiếp tục rung lên mạnh với tần số lớn hơn nữa, những đồ đạc to lớn, tủ quần áo, gương, ghế, bàn.. lần lượt bỏ mạng, chỉ còn mình tôi lành lặn. Đây không phải là một nơi trú ẩn, đây chính là cái bẫy chuột khổng lồ mà tôi đã ngu ngốc tự chui đầu vào nộp mạng. Trò chơi đã kết thúc, tôi là kẻ nộp mạng, một ván cờ sai lầm từ nước đầu tiên, tôi khó khăn lắm mới có thể bám trụ trên mặt đất với cả hai tay hai chân, chứ đừng nói gì đến trốn chạy.

Phát giật thứ hai không dung tha cho bất cứ thứ gì còn bám lấy mặt đất. Người tôi và tất cả những gì còn lại, dù chỉ là mảnh vỡ, hất tung lơ lửng trên không trung, chậm rãi dừng lại rồi rơi xuống. Tôi có thể thấy tủ sách to lớn bên cạnh đang từ từ đè lên người mình.

Chiếu tướng.

Chiều theo lẽ thông thường, đây đáng sẽ là điểm kết thúc cơn ác mộng, nhưng thời gian đó là một thời điểm kì dị trong cuộc đời tôi, cả hiện thực lẫn viễn tưởng. Mắt tôi nhắm nghiền chấp nhận số phận, cầu mong cho sự đau đớn trôi qua mau. Thay và đó, tôi không cảm thấy gì cả, không tiếng động, không sợ hãi, không buồn không vui, chi còn tiếng không khí chuyển động qua tai tôi yên bình và thanh thản. Tôi tưởng tôi đã chết rồi, và cõi chết có vẻ khá tử tế, có khi còn tốt hơn trần gian.

- Alan, tỉnh dậy.

Một giọng nói vang lên mà tôi khó phân biệt được là có thực sự do tôi nghe được không hay chỉ là trí tưởng tượng phong phú của tôi tạo ra trong đầu. Từ từ hé mắt, tôi bàng hoàng nhận ra mình còn sống, chỉ xây xát chút do mảnh thủy tinh vỡ. May mắn hai cẳng chân vẫn còn sử dụng được, tôi luồn qua cái tủ sách dường như đã dược vật gì đỡ ở đầu kia nên mới không nghiền nát tôi, gạt hết chồng sách đang phủ trên người, tôi đường hoàng đứng dậy. Cơn chấn động lúc nãy đã ngắt toàn bộ hệ thống điện trong nhà, khung cảnh tối um mà tôi chỉ lờ mờ nhận ra phương hướng nhờ ánh trăng chiếu qua cửa sổ. Cũng luôn thể nhờ ánh trăng tôi cũng nhận ra cơn bão đã tan biến, bầu trời trong vắt không một gợn mây với ánh trăng tròn vằng vặc, cùng một biển sao kim cương lấp lánh rạng ngời. Phủi chân tay quần áo khỏi bụi và vụn thủy tinh, tôi ngẩn ngơ đứng yên tự hỏi tại sao mình còn sống.

- Lối này Alan.

Tôi giật mình, tiếng nói tôi tưởng là ảo giác đó là có thật, hay thật sự là tôi bị ảo giác? Cố gắng nhìn xung quanh nhưng không thấy gì, căn phòng tối quá.

Rồi tôi đã thấy nó: tất cả mọi đồ vật trong phòng đều đổ vỡ hoặc tan nát, chỉ riêng có nó vẫn ở vị chí cũ. Tấm áp phích dính trên tường ngay trước mặt tôi bỗng khẽ nhúc nhích, rồi trượt xuống đất dù không có bất cứ chuyển động hay ngọn gió nào tác động. Tôi có thể thấy rõ ràng dòng chữ trắng in trên tấm áp phích như lân tinh phát sáng trong bóng đêm: "Tom nhà thơ" (Tom the Poet).

Một chấm sáng xuất hiện trên mảng tường nơi tấm áp phích yên vị trước đó, nhỏ bé nhưng tỏa sáng mạnh mẽ, rồi lan tỏa khắp chốn, nhanh chóng bức tường trước đó giờ hòa tan với luồng ánh sáng lớn và mạnh mẽ, ấm áp. Hài hước cái cách mà một vật thể cố định như bức tường vừa rồi tan biến như ảo ảnh, còn thứ ánh sáng không hình dáng, không nắm bắt được lại là thứ tôi cảm thấy chân thật nhất trong đêm nay, hơn cả mặt đất nơi tôi đứng.

- Đi theo ánh sáng.

Giọng nói kì quái và cách ra lệnh của nó ngạc nhiên lại không khiến cho tôi bực tức tí nào. Tôi làm theo lời nói như một đứa con nghe lời dạy bảo của người cha già đáng kính.

Ra khỏi căn nhà đáng nguyền rủa đến sân sau, thứ đập vào mắt tôi đầu tiên là hình ảnh an ủi, ấm áp của ngon hại đăng phía xa xa. Nhưng còn nữa, gần hơn, một luồng ánh sáng mạnh mẽ di chuyển lượn lờ ngay sau cái hàng rào ngăn cách sườn núi dốc thẳng đứng đằng trước, do đó tôi cam đoan cái thứ đó - dù tôi không chắc nó có một cơ thể tồn tại vật lí hay không - đang trôi nổi trong không khí chứ không bám vào đâu cả.

- Anh đang mất bình tĩnh, anh nên đi tới ánh sáng. Anh chỉ an toàn trong ánh sáng.
Theo ta.


Giọng nói đó phát ra từ nguồn ánh sáng kia - tôi cam đoan - nghe khá kì lạ, giống như nó được phát ra từ một cái loa kim loại: trầm vang và đầy quyền lực. Nó bắt đầu di chuyển sang trái, men theo sườn núi, bất cứ nơi nào nó đi qua, ánh đèn điện bên đường đều được thắp sáng trưng, như cách người ta trải thảm đỏ cho những ông hoàng ngày xưa vậy.

- Anh phải đi theo ánh sáng.

Mỗi lần giọng nói vang lên, nguồn sáng lại nhấp nháy. Những câu nói ngắn gọn và tưởng như vô mục đích tôi tự hiểu đó là cách nguồn sáng giao tiếp với tôi, là cách nó bảo tôi hãy đi theo sát nó.

Đến sát bên một đoạn cầu thang nhỏ dẫn xuống dưới bị gẫy mục, nguồn sáng dừng lại, treo lủng lẳng trên không, chờ đợi tôi tới gần.

- Tốt lắm. Ta có một số điều quan trọng muốn nói cho anh.
Thứ tự như thế này:
Dù anh ta không biết.
Rằng vượt qua mặt hồ anh ta cho là nhà.
Yên nghỉ một đại dương xanh sâu hơn, đen tối hơn.
Nơi những ngọn sóng vừa dữ dội lại vừa thanh thản hơn.
Ở nơi đó ta đã từng.
Ở nơi đó TA ĐÃ TỪNG.
(For he did not know
That beyond the lake he called home
Lies a deeper, darker ocean green
Where waves are both wilder and more serene
To its ports I've been
To its ports I've been)
Anh có hiểu không?

- Không - tôi nhăn mày trả lời như lẽ dĩ nhiên, và cụt lủn bởi sự sững sờ trước những gì đang xảy ra, giống như tận mắt chứng kiến sự sinh ra của kì quan thứ tám vậy.

- Đi theo ánh sáng của ta.

Một luồng ánh sáng mạnh mẽ và lớn lao hơn rõ ràng vươn ra từ nó, như một bàn tay thần thánh với xuống từ trên cao cứu giúp. Lần đầu tiên trong tối đêm nay, tôi vui mừng khi những thứ kì lạ xảy ra: những mảnh vỡ to và nhỏ của cây cầu được truyền sự sống, đứng lên và cùng nhau di chuyển về cây cầu gẫy, rồi rời khỏi mặt đất bay lên không trung, phối hợp với nhau dần dần hình thành lại cây cầu nguyên trạng, giống như xem một bộ phim cây cầu đang bị phá hủy nhưng được quay ngược lại. Chẳng mấy chốc tôi đã có thể bước chân xuống dưới bằng cây cầu lành lặn y nguyên như mới đi theo nguồn sáng cũng bắt đầu di chuyển đi.

- Ta đi vào giấc mơ của anh để dạy anh. Bóng tối rất nguy hiểm. Nó hiện giờ đang nghỉ ngơi. Khi nào cảm thấy sự hiện diện của anh, nó sẽ tỉnh giấc. Không còn thời gian, ta chỉ còn kịp dạy anh những điều quan trọng nhất.

Ánh sáng di chuyển nhanh hơn, tôi chạy sát theo nó đến một khoảng đất khá rộng rãi. Nguồn sáng dừng lại dường như đang quay "mặt" lại phía tôi.

- Tên lạ mặt lúc nãy đã bị Đại Diện Bóng Tối chiếm hữu thể xác. Tạm thời anh không thể làm hại hắn, bóng tối đang bảo vệ hắn khỏi mọi nguy hại. Chỉ có ánh sáng mới có thể xua đuổi bóng tối đi và khiến hắn dễ bị tổn thương trở lại. Nắm lấy ánh sáng.

Tôi chưa hiểu nổi ẩn ý của lời nói cho đến khi qua một luồng ánh sáng mạnh mẽ khác vừa mới chiếu xuống, một chiếc đèn pin nhỏ từ từ hạ xuống dần, tôi đưa tay ra đón nhận như nhận được món quà tặng.

- Tốt lắm. Một khi anh đã đốt cháy được lớp bóng tối bảo vệ hắn, nhưng bóng tối vẫn còn trốn bên trong, điều khiển hắn. Hắn không còn có thể cứu rỗi. Hắn vẫn là mối họa. Hắn vẫn là kẻ địch của anh. Cầm lấy khẩu súng.

Lần này đến lượt một khẩu súng được đưa xuống. Nó cũng là loại súng lục ổ đạn quay sáu viên, giống hệt cái mà Clay Steward cầm. Giờ tôi mới để ý trên báng súng và trên cán cầm của cây đèn pin đều dính những vệt máu khô.

- Được rồi. Anh làm khá lắm. Hãy nhớ những điều ta dạy anh.
Thế thôi. Ta sẽ trả lại giấc mơ cho anh ngay bây giờ.

Nói xong, nguồn sáng bay dần lên trên trời cao, nhỏ dần cho đến khi chỉ còn lại một vì sao trên bầu trời.

Tôi có nhiều câu hỏi muốn hỏi ông ta, nhưng kì lạ tôi có cảm giác ông ta đã cho tôi những câu trả lời rồi, tất cả những điều tôi cần biết, nên biết và đáng được biết. Những thứ còn lại thì giờ đây được thỏa mãn bằng những kiến thức trong đầu tôi chẳng cần lí do nào hết bỗng có được.

Trong cơn ác mộng này, một thứ đen tối khủng khiếp mà tôi không thể hiểu rõ ràng đã chiễm lĩnh toàn bộ trái đất, và ngọn hải đăng tràn đầy ánh sáng chính là nơi an toàn duy nhất còn lại trên mặt đất này. Giờ trong lý trí tôi đã mơ hồ hình dung được cái gì đang xảy ra, toàn bộ sự kiện như một cuộc đấu tranh giữa ánh sáng và bóng tối, xem ra tôi không may mắn chỉ được đóng vai một nạn nhân kẹt giữa cuộc chiến, thay vì được làm nhân vật anh hùng chính bất khả chiến bại trên tivi. Mục đích của cuộc rượt đuổi tối nay nhỏ nhoi và đơn lẻ, tôi cố gắng kéo dài tính mạng ra càng dài càng tốt. Đôi lúc trong cuộc đời tôi từng băn khoăn tự hỏi nếu một ngày tất cả mọi thứ xung quanh ta, tất cả mọi thứ, đều mất đi ý nghĩa và sự tồn tại của nó, thì liệu lúc đó sự tồn tại của chính mình sẽ còn ý nghĩa gì nếu vốn từ đầu bản thân nó cũng đã không có ý nghĩa khi chỉ đứng một mình? Dẫu cho những suy nghĩ như thế trong quá khứ giờ đây chợt quay lại ám ảnh tôi vào lúc này, tôi giờ đây dễ dàng gạt bỏ những suy nghĩ xuẩn ngốc đó sang một bên. Mất mọi thứ chỉ còn mỗi mạng sống thì đúng là tệ thật, nhưng biết còn gì tệ hơn không? Mất mọi thứ và mất luôn cả mạng sống! Cuộc sống là một bài toán đơn giản, tự nhủ, tôi đã học được những điều như thế.

Sau khi đứng trời trồng một hồi để tự trấn an tinh thần, sắp xếp các mảnh vỡ kí ức của đêm nay lại theo một trật tự tôi có thể chấp nhận được, mọi thứ xem ra không quá "hỗn loạn" như ban đầu nữa, thứ còn lại chỉ là "quái dị" và "điên cuồng", thật ra cũng vừa đủ tốt khi nó đã khá giống với cuộc sống thực. Cảm giác cô đơn lạnh lẽo đã trở lại thành người bạn đồng hành với tôi từ lúc nào, khi "người kia" vừa mới bỏ đi. Ông ta là ai? Tại sao lại giúp đỡ tôi? Thứ quyền lực ông ta có là từ đâu ra? Và tại sao ông ta lại vội vã bỏ đi? Giả dụ ông ta bỏ đi vì sợ hãi chắc chắn không phải, điều đó có thể dễ dàng ai cũng nhận ra.

Đừng cố đào sâu vào những vấn đề viển vông! Tôi tự nhủ. Ông ta đã giúp tôi ít nhất có được 15 phút yên bình để tĩnh tâm, cho tôi biết những điều cần biết, đưa tôi vũ khí để phòng vệ... ít nhất thế là cũng đủ để tự thỏa mãn. Tôi nhìn xuống thứ vũ khí tôi cầm trên tay: một khẩu rulô sáu viên hiệu Smith & Wesson, loại phổ biến nhất với nòng súng dài 101mm, cỡ đạn 9,65mm để thổi bay tất cả những vật cản đường. Nào chờ chút, tại sao một nhà văn trói gà không chặt như tôi lại có vốn hiểu biết về súng như vậy. Xin thưa chẳng lẽ trong quá trình viết tập truyện dài về Alex Casey, tôi lại không có một lần nghiên cứu tư liệu súng ống để tăng độ chân thực cho tập truyện dài của mình? Thực tế mà nói tôi đã không chỉ đến trường bắn vài lần để thử súng, mà từ đó một tuần tôi phải đến vài lần để xả stress, nhất là sau khi say bí tỉ. Thằng tổng biên tập lắm chuyện và nông cạn, một viên vòng 40 và một viên trúng vòng 50 bia bắn. Tên chủ tòa soạn hống hách và tham tiền, ba viên vòng 70, một viên trúng đúng vòng 100. Alan Wake, cựu nhà văn, giờ một chữ cũng không viết nổi, nghiện rượu và bỏ nhà ra quán bar vào đúng kỉ niệm 10 năm ngày cưới của mình, bao nhiêu viên đạn cũng được, miễn không viên nào chĩa vào chính con người thật, chí ít là tôi chưa dám.

Bước chân đầu tiên bước đi, chập chững như đứa trẻ liều lĩnh, tôi tiếp tục thực hiện tiếp chuyến hành trình bất tận của mình về ngọn hải đăng. Đích đến của tôi giờ không còn xa cách lắm, tôi có thể nhìn thấy rõ ràng từ nơi tôi đứng chiếc đèn pha đang quay tới bốn phía chân trời trên đỉnh tòa tháp, cùng với một lá cờ đo hướng gió, thổi đều đều theo dòng không khí như bất cần đời, không quan tâm tới những thứ xảy ra xung quanh. Và con đường cái dẫn đến nó thậm chí còn gần hơn, giờ đang ở ngay phía dưới con dốc dựng thẳng đứng dưới chân tôi, chỉ cách một con đường mòn đi vòng xuống.

Ý định trượt qua con dốc để trực tiếp đi xuống con đường cái nhanh chóng bị loại bỏ khi vừa mới thò một chân xuống, một miếng đất to lở ra, rơi thẳng trực tiếp xuống phải tới năm mét, va đập với những hòn đá sắc cạnh trên đường đi và vỡ tan thành nhiều phần lúc tiếp đất.

- Không đáng đâu - tôi nghĩ.

Thế là lộ trình an toàn còn lại được lựa chọn. Tôi cảm thấy mình đã hơi vội vã khi định thử con đường rút ngắn kia trước, con đường mòn này cũng chỉ dài hơn một chút, đi vòng qua một khu rừng đen tối nhỏ thôi. Dù sao tôi cũng có chút an lòng khi sự hiện diện gã sát nhân không còn xung quanh từ lúc người "đàn ông" lạ mặt kia xuất hiện. Tôi rảo chân bước đi nhanh hơn, không còn cố ngăn chặn tiếng động phát ra từ đế giày nữa, mọi thứ sắp kết thúc, dù tôi vẫn không hiểu mục đích của nó là gì.

Nhưng mọi sự không được như mong muốn.

- Mày sáng tạo ra tao như thế này, giờ tao sẽ giết mày!

Tôi quay người về hướng phát ra tiếng nói. Gã toàn thân vẫn chảy ra thứ khí đen đặc quánh, không chần chừ bước khỏi một bụi cây gần đó tiến về phía tôi. Bàn tay run rẩy đang giương súng của tôi nhắm thẳng vào gã, ngón tay nhớp nháp mồ hôi của tôi bị hoảng loạn đáng lẽ đã vội vàng bóp cò nếu như không phải bị ý thức con người tôi kịp ngăn chặn. Bình tĩnh, ngắm kĩ, thở đều và đợi thời cơ thích hợp, sai lầm cơ bản của người cầm súng lần đầu là để sợ hãi dẫn đường, và đường đạn bắn ra thì như nước từ chiếc vòi hoa sen. Dù tim tôi giờ chỉ như nuốn giật đứt các mạch máu và thớ thịt ra khỏi lồng ngực để tìm đường chạy thoát thân, toàn thân tôi vẫn đứng vững vàng như tượng đồng, chờ đợi hắn tiến tới tầm bắn hiệu quả. Với khẩu súng trong tay, tôi cảm giác giữa tôi và hắn cuối cùng cũng có chút cân sức, là thứ giúp tôi không vứt bỏ khẩu súng và quay lưng chạy bán mạng đi mất khi hắn đã tiến đến gần sau vài giây.

Những ánh lửa bừng lên trong đêm tối, cùng với tiếng sấm không phát ra từ một cơn bão mà từ một họng súng giận dữ. Hai phát đạn nhắm thẳng vào gã đã không đạt được mục đích mà chúng đã được sinh ra để làm, cái bóng đen vẫn không chút lưỡng lự tiến tới, tôi cảm thấy thân thể vụng về và ngu ngốc như anh chàng Clay đã chết. Nghĩ, nghĩ đi nào! Người "đàn ông" đã nói gì nhỉ? "Mối họa...", "không thể cứu rỗi...", "bóng tối ở bên trong..."... đầu tôi như một cái dài cát-sét cố gắng chạy những cuộn băng trầy xước bị người ta ném vào sọt rác. "Đốt cháy bóng tối...", tôi giơ chiếc đèn pin vô hại lên chiếu vàp hắn.

Có thứ gì đó xảy ra.

Thứ gì đó thay đổi, thứ chất lỏng không khí xung quanh hắn tưởng chừng vô hồn bỗng cựa quậy, như một con rắn bóng tối quấn quanh bám chặt kín lấy từng đường cong trên cơ thể gã, rẫy rụa khi chạm phải lửa bỏng rát, giãn ra tránh né ánh đèn. Và hắn cũng vậy, cơ thể giật lùi lại đằng sau đột ngột, hai cẳng tay khẳng khiu giơ lên vụng về cố gắng che đậy cái thân thể to lớn. Từ đường êlíp méo mó cong queo mà ánh đèn pin in lên người gã, lóe sáng và phun ra hàng loạt những thứ giống như những mẩu giấy bạc nhẹ nhàng bay lơ lửng, nát vụn và sau cùng tan biến vào không khí. Thứ đồ vật nhỏ bé này thực sự có tác động lớn lao tới hắn, giống như tỏi với ma cà rồng vậy.

Giờ tôi là quan tòa, hài hước thay cái cách tình thế thay đổi chỉ bằng một cái bật công tắc. Thứ hắn còn có thế làm cuối cùng là nheo mắt nhìn qua khủy tay đang giơ lên để che ánh sáng của gã, chỉ để nhìn thấy những tia đỏ rực đẩy một viên đạn ra khỏi nòng súng, hướng thẳng đến phần thân thể bị chiếu sáng. Ổ bụng gã bị giật mạnh ra sau, rồi sụp đổ trên hai đầu gối dưới sức nặng phần cơ thể chết chóc. Nửa người trước của hắn đã tiếp đất trong khi đầu gối vẫn còn quỳ, tôi rảo bước lại gần cái hình dáng bất động, nghĩ:

-Chà, cũng dễ nhỉ?

Người ta nói khi còn say giấc mộng khuôn mặt ai cũng hiền từ, chỉ khi tỉnh dậy mới phân thiện ác, giờ thì tôi thấy cả lúc chết cũng vậy. Nhìn cái cách hắn bất động, hai tay buông xuống, thả lỏng toàn cơ thể, không ai nghĩ mới trước đây thôi hắn đã gầm gừ đòi giết tôi cả. Tôi vừa giết một con người! - một ý tưởng lóe lên trong đầu tôi. Không phải lỗi của tôi, mà kệ hắn chứ, trông vẻ ngoài xấu trai của hắn thì tôi đoán mạng sống của tôi tốt hơn mạng sống của hắn nhiều lần, hơn nữa tất cả những gì tôi làm là tuân theo thuyết tiến hóa, kẻ mạnh sẽ sống, chỉ có thế thôi.

Cái xác chuyển động, tôi giật mình có cảm giác như vừa trải qua một deja-vu khi hồi tưởng lại những sự kiện trong đường hầm. Nhưng với một chút khác biệt, xác người đàn ông lóe những tia sáng nhỏ nhoi chạy qua những vết nứt nẻ chạy dọc khắp cơ thể hắn, giống như soi mình vào một cái gương vỡ rạn. Từ những vết nứt đó cơ thể hắn tiêu biến dần giống như tàn giấy bị đốt cháy. Rất nhanh, hắn biến mất hoàn toàn khỏi sự tồn tại. Tôi bớt đi một chút cảm giác tội lỗi cho cái thứ không giống người này.

Bước đi khỏi với mối bất an trong lòng, thứ gì đó không đúng, khi mọi sự đều dễ dàng thì chỉ có thể là ta đã gặp may, hoặc đã sai toàn bộ. Có vẻ giống như mọi chuyện đã sai hết sạch thì đúng hơn, linh cảm đó của tôi được củng cố khi gió bão bắt đầu nổi lên cơn giận dữ, và mây mù che đi ánh trăng và bầu trời, không còn nữa một bể sao kim cương cho đêm huyền ảo, mọi thứ trở nên mù mịt như lúc gã sát nhân đuổi bắt tôi lúc trước. Linh cảm cho tôi biết đã đến lúc cho đôi chân tôi chạy đi thật nhanh, và sự lưỡng lự không biết làm gì của tôi kéo dài không lâu khi thứ tôi sợ hãi trở thành sự thật.

Từ trong những bụi cây rậm rạp rung động lên một cách bất bình thường, gã sát nhân lại bước ra, không phải một mà đến bốn năm tên, tên nào tên ấy giống nhau như đúc. Tôi đã bị thuyết phục rằng cái thứ diễn ra trước mặt là một sản phẩm tinh vi của đôi mắt toét nhèm bởi bụi đất, cho đến khi cả năm bóng đen nhào vào tôi với những cử chỉ giận dữ khác nhau đầy cá tính.

Đôi lúc tôi ngạc nhiên với tốc độ phản ứng của đôi chân tôi khi nó đã hoạt động hết công suất từ lúc nào hướng về phía đường cái, cứ như mục đích tôi được sinh ra là để chạy. Cuộc chạy trốn bị đến năm gã khát máu truy đuổi hơi khác với lúc trước một tí, bọn chúng cố chạy theo những ngả khác nhau nhằm dồn tôi vào chân tường, tôi còn có ba viên đạn, xem ra súng ống không phải biện pháp tốt nhất tôi có lúc bấy giờ khi bọn chúng không còn chơi đùa với tôi nữa mà muốn giết tôi bằng mọi giá. Nhưng không còn yếu đuối như trước, giờ tôi đã có một vài ý tưởng biết rằng bọn chúng sợ thứ gì rồi. Một cái bóng đen nhảy vồ ra trước mặt tôi trong khi tôi còn mải để ý bốn tên đang đuổi theo đằng sau. Hắn giương rìu lên, nhìn vào tôi như một con mèo dưới bàn tay đao phủ chờ chết, có điều con mèo này có móng vuốt, nhỏ thôi. Ánh đèn pin sáng rọi thẳng vào mặt gã làm gã choáng váng như nhận một phát đấm từ một võ sĩ quyền anh, hắn nhanh chóng lấy tay che mặt và lùi lại nhường đường cho tôi chạy mất, hi vọng chiêu bài này sẽ còn hiệu quả dài lâu.

Nó đây rồi, con đường cái đã trải dài trước mắt, và thứ tôi khao khát mong muốn đã trải dài trước mặt, ngọn hải đăng giờ chỉ cách một cây cầu rộng rãi thênh thang sáng sủa nối ra hòn đảo nhỏ mà nó đang đứng đó tỏa ra thứ hào quang rực rỡ và mạnh mẽ khó bì. Bằng cách nào đó nhìn thấy ngọn hả đăng gần gũi trong tầm mắt khiến việc bị đuổi bởi năm tên thần kinh bớt đi phần nào sự khủng khiếp vốn có của nó, và rồi khi tôi giật mình quay lại đằng sau thì năm hình bóng đã hòa tan cùng không khí như thể khao khát tự phủ nhận sự tồn tại vừa mới đây của chúng.

Chính lúc tôi cảm thấy thắng lợi đã ở trong tay tôi đến nơi, có một số kẻ không hài lòng lắm với những sự kiện tích cực và âm mưu che lấp mặt trời.

- Tao có thể đuổi bắt mày suốt đời!

Sau lưng tôi, tên sát nhân bước ra từ sau cánh cửa của một hiệu sách tồi tàn, với những cánh cửa và sơn tường cũ nát, tương phản hẳn với những băng-rôn mới tinh cùng với những cuổn sách "Sudden Stop" tôi viết đều không vương bụi, rải rác khắp mặt đất dưới chân hắn để hắn giẫm đạp lên. Không một lời cảnh báo nào, thân hình hắn lại bắt đầu cuốn lên không trung, một cơn lốc rẽ những mây mù đen tối từ trên bầu trời mù mịt vươn xuống chạm mặt đất đúng chỗ hắn vừa đứng, đúng như tôi dự đoán.

Lúc chân trái tôi bước lên phía trước chuẩn bị chạy cũng là lúc cơn lốc ngả về phía trước đuổi bắt, những tia sét bị mây mù che khuất trên bầu trời, giẫy giụa mãnh liệt khỏi nhà tù thị giác bằng những ánh sáng lóe lên in hằn trên bầu trời cũng những tiếng sấm đinh tai nhức óc, tôi có thể cảm thấy cơn thịnh nộ không giấu giếm của hắn. "Hắn tức giận bởi vì ta sắp thắng.". Tôi mỉm cười, không phải bằng đôi môi mà chỉ bằng trí tưởng tượng trong trí óc. Một khi tôi vượt qua cây cầu này đến được ngọn hải đăng, tôi sẽ an toàn khỏi mọi nguy hiểm trên thế giới, dù tôi không biết chính xác nó hoạt động như thế nào, có thể ánh sáng phát ra từ chiếc đèn pha trên đỉnh tháp kia mang sức mạnh thần thánh có thể xua tan những tên ác quỷ như hắn chăng?

Chiếc cầu rung lên kèn kẹt, vặn xoắn những thớ gỗ của nó, tôi không cần quay lại sau để biết cơn lốc kia đi tới đâu phá hủy mọi thứ trên đường đi của nó tới đó, thứ gì không bị nghiền nát ngay sẽ bị nhấc bổng lên bầu trời rồi ném xuống mặt đất với kết cục tương tự. Tôi may mắn những thứ tôi đón nhận từ bầu trời xuống bây giờ chỉ là cành cây, đá sỏi, vỏ chai và muôn ngàn loại rác khác, không có gì to tát lắm.

Ngoại trừ thứ này! Không thể dự báo trước, đâu đó từ khoảng không vần vũ hắc ám từ trên đầu tôi, một chiếc ôtô bồn nhắm thẳng đến tôi, rơi cắm mũi thẳng xuống chỉ cách tôi có vài mét. Một cú lách người kịp thời đã giúp tôi tránh được chết bẹp dưới sức nặng khổng lồ khi phần sau của chiếc xe mất thăng bằng đổ xuống. Không kịp hoàn hồn sau tai nạn bất ngờ, thứ gì đó thậm chí còn to và nặng hơn, những tôi không kịp định hình rõ ràng bởi sức nặng của nó ngay lập tức đã gặm nát một phần hai chiều rộng chiếc cầu, lập tức chìm ngỉm ngay trước mặt tôi. Chuyện kì lạ xảy ra, sự tò mò của tôi đã chiến thắng sợ hãi, tôi ngoái đầu lại chỉ để mục kích thứ chẳng đem lại sự gì tốt đẹp cho tôi ngoại trừ sự khủng bố.

Cơn lốc biến đổi, hoàn toàn trái tự nhiên, đang nghiêng đến 75 độ nằm xuống, điều quái dị là thân cơn lốc vẫn thẳng tuột bất chấp sự đối lưu của không khí, mà không có gì miêu tả rõ ràng hơn là một cái phễu đổ nằm. Cái miệng khổng lồ của nó cào sới từng tảng đất lớn lên nuốt gọn vào bên trong, và chắc chắn hắn cũng muốn làm điều tương tự với cơ thể mỏng manh của tôi. Thân mình nằm xuống của con quái vật đã chiếm đến 2/3 khoảng cách đáng ra phải có giữa tôi và cơn lốc, và cái miệng cá mập của cơn lốc đang nhăm nhe đói khát cho thứ chất lỏng nhuộm màu đang chảy trong mao mạch của tôi. Tình thế nguy hiểm hơn tưởng tượng, tôi có thể cảm giác trọng lượng cơ thể mình đang mất dần theo thời gian.

Đúng lúc ấy tôi để ý đến một tấm bảng quảng cáo "Sudden Stop" đang bị cơn lốc hút vào, gẫy ra làm đôi, một nửa xoay tít như chong chóng phi thẳng về phía trước, cắm phập trước mặt tôi chỉ để tôi nhìn thấy tên tác giả cuốn sách: "Alan Wake". Tôi dừng lại một cái dừng nửa giây, thực sự đặt lên môi một nụ cười nhếch mép méo mó "Ha! Mỉa mai!" rồi lại chạy bán sống bán chết. Có thể đến cả người điên cũng vui tính?

Cú tấn công thứ tư của cơn lốc là một cuộn dây điện khổng lồ được ném thẳng vảo thân ngọn hải đăng trước mặt tôi, những gạch vữa và bụi đất rơi xuống tôi có thể nhìn thấy rõ ràng. Xem ra hắn muốn thay đổi chiến thuật, có vẻ sẽ hiệu quả hơn nếu ngọn hải đăng bị phá hủy, khi đó không còn đích đến nữa, tôi sẽ hoàn toàn là một con rối vô hồn cho hắn để giải trí. Có điều nếu hắn nghĩ đến đấy từ trước thì có thể tôi sẽ bó tay chịu trận, nhưng giờ thì muộn rồi, với mắt thường tôi có thể thấy rõ những vân gỗ của cánh của trước mặt, vươn bàn tay ra trước, tôi kéo cánh cửa mở toang, lao người vào trong rồi đè cả cơ thể nên để cánh cửa đóng rầm lại sau lưng.

Cuối cùng tôi cũng thành công! Với trí tưởng tượng phong phú của mình, tôi có thể nghe thấy tiếng kêu tức giận và thất vọng của hắn thốt lên bị tiếng gió lấn át, trước khi đến cả tiếng gió cũng bị sự im lặng của màn đêm lấn át nốt. Mọi sự trở lại bình thường, đêm nay hiện thực đã quay trở lại làm chủ, và giờ chỉ còn lại tôi với ngọn hải đăng một mình khi không còn bóng tối.

Thắng lợi cuối cùng! Tôi mở rộng lồng ngực mình ra hít những hơi thanh thản khi tôi biết chắc quỷ dữ không còn tồn tại.

Tôi yêu cái cảm giác này, cái cảm giác ấm áp, an toàn và thanh thản, giống như khi bên cạnh Alice, dù thời gian gần đây rượu và bia khốn khổ đã che lấp nó đi phần nào. Tôi vô hồn đi lên cầu thang, thưởng thức thứ ánh sáng thánh thiện đang chảy khắp khuôn mặt của tôi và rửa tan đi mọi lo toan, mặc kệ giọng nói nhỏ trong tôi đang kêu gào đòi mục đích. Đúng là giờ tôi đã đến được ngọn hải đăng, nhưng tôi không hề có một ý tưởng nào về bước tiếp theo phải làm gì. Nhưng mặc kệ! Tôi đã buông xuôi mọi thứ cho khoảng khắc lạc thú ở trần gian này, mọi thứ mờ ảo đi và không còn gì khác quan trong nữa. Khốn khiếp! Tôi thà chết đói ở đây chứ không chịu xa thứ đẹp đẽ này nửa bước.

Ngọn hải đăng vụt tắt.

Anh ta đây rồi, quá thỏa mãn với niềm vui mới, cậu bé hư hỏng! Một ánh đèn đơn giản sẽ không làm gì được ta, không thứ gì cản ta tóm được anh. Anh là thứ ta cần và ta sẽ bán linh hồn mình để có được anh, một nhà văn.

Ta lao xuống từ đỉnh ngòn hải đăng như con thú vồ mồi, anh chỉ có thể nhìn ta bất lực, khuôn mặt kinh hãi. Lại đây với ta nào, bóng tối sẽ không hại anh đâu. Anh hét to quá, ta không nghe thấy gì cả nhưng ta không quan tâm, thứ ta quan tâm là bàn tay tuyệt vời của anh sẽ cứu giúp ta, ban cho ta sức mạnh, sau đó ta sẽ sử dụng anh bất cứ mục đích nào ta muốn, Alan.

Một giọng nữ cất lên, thều thào nhỏ nhẹ.

- Anh ta đây rồi!

Tôi gào thét kinh hãi.

Không còn gì cả, không vui, không buồn, không cảm xúc, không nóng, không lạnh, không giác quan, không tình cảm, không lí trí, không bao giờ còn suy nghĩ. Cõi hư vô thật kinh khủng, mạng sống của tôi đâu?

Một giọng nữ cất lên, thều thào nhỏ nhẹ.

-Alan! Tỉnh dậy!

Mi muốn gì ở ta nữa?

- Alan! Tỉnh dậy! Ta đến nơi rồi!

Nhận ra mình đã ngừng thở cả chục giây, tôi hoảng loạn nắm lấy sự sống đang tuột đi trước mắt, mắt mở to và trợn trừng, lỗ mũi phồng lên hít vào lượng không khí quá sức chịu đựng của phổi. Không bao giờ như lúc này tôi lại có cảm giác tràn đầy sức sống đến thế.

Tôi nhận ra mình đang ngồi bên trong một chiếc ôtô, trên một chiếc ghế êm ái, ánh nắng buổi chiều vàng rực và ấm áp chiếu qua cửa sổ xuống người, tiếng sóng vỗ rào rạt xung quanh, và những tiếng chim hải âu trên bầu trời, và những tiếng động bình thường của cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.

- Anh yêu anh không sao chứ?

Tôi quay sang phải, một nụ cười đang thi đua che khuất ánh sáng của buổi ban chiều, mái tóc được buộc túm ra sau, vàng bởi mọi tia sáng ấm áp đi qua đều bị vương lại, khuôn mặt quen thuộc nhưng trong mười năm qua không bao giờ tôi quên cảm tạ vị cô ấy vẫn còn ở đó mỉm cười.

- Ơ, Alice. Anh chỉ... - tôi ấp úng trả lời, giọng nói có phần quá cao vì chưa kịp quen thuộc với không khí xung quanh.

-Suỵttt... không sao đâu, anh chỉ mới gặp phải một cơn ác mộng khác nữa thôi, phải không? Chúng mình đang ở trên phà chở xe, sắp đến nơi rồi, anh chỉ mới thiếp đi em không nỡ đánh thức anh dậy.

Tỉnh táo hoàn toàn, óc hài hước bắt đầu quay lại với tôi.

-À ừ, may quá là mới chỉ có "thiếp đi" thôi, giá như có thêm cái gì đó cho mấy thằng nhà báo rỗi việc có cơm để đớp nhỉ?

Cô ấy lại cười, đó là kiểu đối thoại duy nhất tôi chẳng biết phải đáp trả như thế nào.

- Vui lên nào em bé. Mình đến nơi rồi, anh ra mà xem này.

Không cần biết đến nơi là đến đâu, tôi bước đại ra ngoài. Đúng như cô ta nói, chúng tôi đang đứng trên một chiếc pha lớn, xung quanh là chỉ toàn là người địa phương và ôtô của họ, suy đoán tôi tự nghĩ ra nhờ phong cách ăn mặc và những chiếc xe có phần cũ kĩ ở xung quanh. Thế là một cách miễn cưỡng, tôi cảm thấy hai người chúng tôi trở thành tâm điểm thu hút cho những sự chú ý mà tôi không hề mong muốn. Tôi đảo mắt xung quanh xem có ai đang nhìn chằm chằm vào chúng tôi không.

Quả là một khung cảnh đáng yêu, ở đây mặt trời đang lặn xuống chân trời đằng xa xa, nơi mặt nước hồ và bầu trời gặp nhau, cái thứ gọi là "hoàng hôn" mà chúng tôi chưa từng thấy ở New York. Trên mặt hồ rộng lớn, những tia sáng mặt trời cuối cùng được phát ra in hình trên mặt nước, phản chiếu lên không trung. Hình tròn vàng rực kia cứ như đang mặc một chiếc áo dạ tiệc đuôi dài vàng óng phủ đầy nhũ kim cương lấp lánh không dứt, bước đi khỏi bầu trời để lại niềm vui thích và luyến tiếc. Trên đất liền những rừng cây lá kim rậm rạp điển hình hàn đới đang cố thi đua vươn lên cao đón nhận những tia hạnh phúc đang vơi dần, trong khi những bụi cây thấp bé xanh rì bên dưới chấp nhận thân phận, chìm vào giấc ngủ riêng tư. Một số thì may mắn hơn số khác, những rừng cây trên dãy núi trập trùng lượn lên xuống mềm mại ở phía xa xa được đón nhận ánh sáng lâu hơn, so với những rừng cây ở phía dưới, như thể là thuộc một thời gian khác, một thế giới khác, dù chỉ và phút.

Chiếc pha đi qua gầm một chiếc cầu đường sắt khá cao, người ta tận dụng nó bằng cách lấy các chữ cái lớn xếp thành một thông điệp "Chào mừng tới Bright Falls" khá to, cứ làm như người nào đi trên chiếc phà này không biết mình đang đi đến thị trấn nào vậy. Một chiếc máy bay cánh chuồn đang hạ xuống lướt qua những con sóng trên mặt hồ gần chiếc phà, nước bắn tung tóe. Mặc cho những người dân bản địa hò hét cổ vũ và vợ tôi cười phấn khích, khi nhìn thấy dải băng rôn mang trên mình thông điệp "Chào mừng tới Bright Falls" trùng hợp ngẫu nhiên, tôi mong cái thằng lái máy bay đâm thẳng vào cái cầu sắt, hi vọng đó sẽ là một sự trùng hợp thú vị hơn.

Tôi đã quên mất rằng trên thế giới vẫn còn một thị trấn như thế này, nơi mà cái hiện đại không thể chạm tới, một thị trấn mà mọi người biết mợi người, nơi mạng internet chưa phổ biến và sóng di động thì lúc được lúc không. Phóng xa tầm mắt về phía bến tàu chúng tôi đang hướng tới, những gợn sóng nhỏ lớp lớp đánh vào bờ, những hình dáng người di chuyển đều đều phía trước, những mái nhà gỗ bụi bặm không quan tâm đến thời gian, yên bình và không hối hả, đúng như những gì tôi mong đợi khi Alice gợi ý tôi đến địa điểm này.

Say đắm trong sự ngọt ngào thiên nhiên ban tặng, một giọng nói già nua cất lên bên cạnh tôi.

- Xin lỗi, làm phiền anh?

Tôi quay lại, một ông già khoảng 60 tuổi đang khoanh hai tay lại tì vào lan can của chiếc phà, quan sát tôi từ nãy tới giờ mới dám cất tiếng hỏi. Ông ta có mái tóc bạc cước, dáng đi hơi cúi, khuôn mặt hiền từ không có râu nhưng có vài vết đồi mồi.

- Chào anh bạn. Xin lỗi, tôi sẽ không giả vờ không nhận ra một nhà văn nổi tiếng như anh. Anh là Alan Wake phải không?

- Vâng, là tôi - tôi trả lời ngắn gọn.

- Ồ, quả là hân hạnh, tôi là một người đọc hâm mộ, rất vui được gặp anh. Anh đến thăm thị trấn của chúng tôi đúng lúc quá, Tuần lễ Săn bắn chỉ con cách hai ngày nữa thôi.

Ngẫm lại nghề nghiệp của mình, tôi cảm thấy một sự nực cười không thể giấu diếm.

- Tuần lễ Săn bắn hả? Em yêu ơi em có nghe thấy gì không? - tôi ngoảnh lại trêu cô ta một chút.

Người đàn ông sửa lại cặp kính trong của mình.

- Ồ vợ anh quả là đáng yêu, à mà nếu anh không phật ý những gì tôi nói. Tôi là Pat Maine, rất hân hạnh được gặp anh.

- Tôi cũng vậy - bàn tay tôi vụng về rút khỏi túi áo bắt tay ông ta.

- Nhân tiện, tôi hy vọng anh không cảm thấy tôi quá đường đột, nhưng tôi sở hữu một đài rađiô về đêm, có cơ hội nào anh đến dự một buổi phỏng vấn của tôi không? Nó chỉ nằm trên ngọn đồi cách thị trấn này không xa đâu.

Tôi nhăn mặt.

- Thế này này ông Maine, thực ra tôi đang trên đường tới kì nghỉ của tôi, thực sự thì tôi muốn ông giữ bí mật cuộc gặp gỡ này chỉ giữa hai chúng ta. Tôi cho rằng là ông cũng hiểu và thông cảm.

Thái độ người đàn ông niềm nở.

- Không sao cũng được thôi. Anh có thể tin tưởng tôi giữ bí mật này. Nhưng nếu anh có thể thay đổi quyết định thì tôi không phải là một người khó tìm thấy. Tôi thành thật chúc hai người một kì nghỉ thật đẹp.

Rồi ông ta quay về tư thế cũ, trầm ngâm một mình thưởng thức sự trôi qua chậm rãi của thời gian.

Tôi thở hắt ra bớt căng thẳng, bình thường tôi hiếm gặp được những người thế này, ông già là một người tốt. Làm nhà văn nổi tiếng có cái nhược điểm của nó, không phải là tôi kêu ca phàn nàn nhưng tôi rất ghét các thể loại "fan cuồng", không những phần lớn họ đều hiểu sai những tư tưởng tôi muốn truyền đạt mà họ còn nông cạn và phiền nhiễu nữa.

Tôi quay lại với vợ tôi đang cầm máy ảnh trên tay chụp tanh tách từ bao giờ. Vợ tôi vốn là nhiếp ảnh gia, đi đâu cô ấy cũng mang theo ít nhất một cái máy ảnh.

- Em chụp được anh với nền thị trấn ở phía sau, có vài cái được lắm. Và thấy anh vừa mới đi kết thêm được bạn mới, dễ thương quá anh chàng ạ - cô ta dài giọng cố tình trêu tôi.

Tôi đáp trả.

- Ồ tuyệt lắm, anh thậm chí còn nghĩ ra luôn cái tên cho bức ảnh nữa cơ, "Công tử bột thành phố, khoảng khắc trước khi bị gấu ăn thịt mất xác".

Di động của tôi bỗng reo lên. Bên túi phải, tôi rút ra đọc tên người gọi : "Barry - quản lí kinh tế", bấm nhận cuộc gọi.

- Heyyyyy... anh chàng đẹp trai, nhà văn yêu thích của tôi, thế nào, cậu đến nơi chưa? - đúng là cái giọng choe chóe khó ưa, tôi mỉm cười.

- À ừ, Barry, vừa mới tới thôi.

- Cái đám thổ dân vùng đó có phiền nhiễu cậu không? Chỉ cần nói một câu mình sẽ bay thẳng đến đấy dẹp hết chúng sang một bên cho cậu ở một mình.

- Không cần đâu Barry, chúng tôi ổn.

- Tốt, tốt. Chỉ muốn cậu được cảm thấy thoải mái thôi, để cậu thư giãn và nạp lại năng lượng. Thế nào rồi, cậu cảm sức sáng tạo phun trào mãnh liệt ở trong người chưa?

- Barry, chúng tôi chỉ vừa mới đến thôi mà - tôi bực tức nói. Barry biết rõ là hai năm nay cạn ý tưởng tôi chưa hề viết thêm được chữ nào rồi.

Ở đầu bên kia chiếc phà, một người đàn ông bí ẩn đang chăm chú quan sát nhất cử nhất động của Alan. Với hắn, được giao nhiệm vụ theo dõi Alan là một nỗi thất vọng lớn. Ông chủ của hắn cho rằng Alan có gì đó đặc biệt, nhưng hắn lại chẳng ấn tượng lắm. Tuy hắn được giải thích rõ là Alan rất quan trọng, quan trọng hơn hắn, nhưng hắn lại bực tức, thật khó để hắn chấp nhận một người hắn không coi trọng lại quan trọng hơn hắn.

Tuy nhiên hắn lại quan sát cô vợ lâu và kĩ hơn, và hắn thích những gì hắn thấy. Hắn tưởng tượng cảnh hắn khiêu khích Alan vào một cuộc ẩu đả, nhưng hắn không làm. Dù sao hắn cũng phải đợi xem tên nhà văn có cái gì quan trọng không đã.

Ít nhất là ông ta hứa sẽ có.

- Được rồi được rồi Al. Tớ sẽ gọi lại sau để chắc chắn cậu vẫn ổn, còn cậu phải gọi ngay cho tớ nếu có bất cứ vấn đề gì. Được chưa? Được rồi! Chỉ hỏi thăm cậu tí thôi, gọi lại sau, chào nhé.

- Nhưng mà này Barry...

Những tiếng tút máy dài cắt đứt câu thoại của tôi, có vẻ như bài giảng năm phút qua cũng như thái độ cố tỏ ra bực mình của tôi không có đi qua được cái đầu đất của anh ta. Người ta có đủ loại bạn, bạn thân có, bạn giả tạo có, bạn đểu cáng cũng có, riêng tôi có một người bạn lắm mồm, đáng tiếc Barry là người duy nhất còn bên cạnh tôi khi tình hình tài chính của tôi đang đi xuống, có lẽ lí do là tôi với cậu ta chơi thân với nhau từ khi còn nhỏ.

- À, ừ, thì mình cũng... à, chào cậu nhé - tôi giả vờ nói chuyện một mình với cái di động mà người gọi vừa cúp máy không thương tiếc, cố tỏ ra mỉa mai một cách thông minh trong khi trông tôi như gã thần kinh.

- Nếu em biết rõ Barry thì chắc chắn cứ năm phút cậu ta sẽ gọi lại một lần cho anh nghe mà xem - vợ tôi chau mày.

- Kệ xác cậu ta, anh cứ tắt máy đi là được chứ gì - bàn tay tôi vội đóng chiếc điện thoại gập lại. Nhưng không lâu, chỉ một giây sau đó, tiếng chuông tin nhắn lại vang lên. Vợ tôi nở một nụ cười mỉm rất quái theo kiểu "đã bảo rồi mà!".

Barry gửi một tin nhắn chào Alice, mèn ơi, cứ như tôi đang đọc status trên Facebook của bọn trẻ trâu rỗi thời gian vậy. Quá mệt mỏi, tôi còn không thèm gửi lời chào của Barry cho cô ta.

- Alan, phà cập bến rồi kìa! Anh quay lại xe mau lên.

Alice luôn phải nhắc nhở tôi từng chút một, đôi khi tôi cũng lấy làm bực mình nhưng tính tôi nó lại hay mơ tưởng tận đẩu tận đâu, nên tôi cũng cho đó là điều cần thiết. Đóng điện thoại lại mà nhanh chóng tắt máy, không cho Barry thêm một cơ hội nào phát huy cái sở trường của mình, tôi nhảy lên chiếc xe van màu đỏ của chúng tôi lái đi khỏi trong khi chiếc phà đang kéo còi ầm ĩ và thải ra những tràng khói nghi ngút.

Chuyến du lịch dài ngày này là ý tưởng của tôi, cơ bản là thế. Mặc dù tôi là người khởi xướng ý tưởng nhưng phần lớn mọi việc chuẩn bị, từ chọn địa điểm, đặt vé, thuê phòng, chuẩn bị hành lí đều do vợ tôi đảm nhiệm. Khi mà cuộc sống của chúng tôi đang ngày càng khó khăn hơn trước, và tôi để ý rằng vợ tôi cũng phải chịu nhiều áp lực hơn, không như tôi có quán bar với bạn bè để sả, tôi cho rằng một kì nghỉ dài ngày sẽ giúp ích được cho chúng tôi nhiều. Và có vẻ tôi đã đúng phần nào, từ khi chúng tôi dự định lên kế hoạch đi du lịch, cô ấy trông hoạt bát lên hẳn, không còn suốt ngày ở nhà một mình nữa mà chạy đôn chạy đáo, lúc thì nhờ hàng xóm trông hộ nhà, lúc thì vã mồ hôi nhồi nhét cả tấn quần áo vào va li như tất cả các bà nội trợ hay lo xa khác. Cuối cùng tôi quyết định dành lấy bổn phận làm chồng, vứt hết đống quần áo nặng gánh đi chỉ mang theo đồ vệ sinh thiết yếu, và hào phóng chi thêm một khoản kha khá cho chuyến đi, quần áo thì ở đâu mua chẳng được. Nhìn vợ tôi kéo theo cái va li tí hon trên tay, tôi thầm nghĩ không biết cô ta có bay được không khi mọi lần khác hành lí cô ấy mang theo giống như chiếc va li này và cả tôi ngồi lên bên trên nữa.

Bright Falls là một thị trấn nhỏ nằm ở phía Đông Bắc New York, với chỉ khoảng tiếng rưỡi đi máy bay nhưng chúng tôi chọn bốn tiếng đi xe hơi để tiết kiệm, như tôi đã nói giờ chúng tôi không có được dư dả gì lắm. Thị trấn trước kia vốn là một địa điểm du lịch nổi tiếng bởi phong cảnh thiên nhiên hoang sơ ít bị con người ảnh hưởng và địa hình hiểm trở thu hút các nhà leo núi ưu mạo hiểm. Dẫu vậy theo dòng thời gian Bright Falls không còn được như trước kia nữa, một trong những lí do chủ đạo là ngành du lịch ở đây đã khai thác quá đà mà không có sự quản chế hợp lí của chính quyền địa phương. Thêm vào đó một phần nhỏ là do các vụ mất tích nơi đây xảy ra liên tục, chủ yếu là người bản xứ, một năm phải có lúc đến cả chục vụ, nhiều người đổ lỗi cho địa hình cheo leo hiểm trở ở nơi này, số khác cho rằng lí do chính là ở nơi đây các cơn bão nhỏ thường xuyên xảy ra đột ngột và không báo trước, đôi khi kèm theo lốc xoáy.

Chính vào cái lúc những cửa hàng và khu giải trí ở thị trấn bắt buộc phải đóng cửa hàng loạt, người ta phát hiện ra một nguồn lợi khác ở khu vực này: hải sản. Hàng năm cứ vào thời gian nhất định , những đàn cá hồi khổng lồ từ biển quay lại nơi chúng được đẻ ra để đẻ trứng, nối tiếp cái vòng luẩn quẩn mà cha ông chúng để lại, và thế là hai năm một lần, các nhà máy chế biến cá ở đây lại thu được món hời lớn, may mắn là lần này các cấp có thẩm quyền đã để ý đến công tác bảo tồn thiên nhiên nên các nhà máy chế biến cá không được phép mọc lên vô tội vạ. Chỉ có điều phần lớn các chủ xưởng là người ngoại tỉnh có tiền và thế nên mới lo lót được phép xây dựng nhà máy với số tiền và thời gian không ít, và lương trả cho công nhân ở nhà máy, như cách họ nói là tạo việc làm cho người bản xứ, bị cách xén một cách tinh vi để bù lại cho số vốn không chính thức của họ. Tuy vậy công nhân nhà máy chủ yếu là người bản xứ lại không chê trách gì nhiều, gọi là người "bản xứ" nhưng phần lớn họ cũng là dân ngoại tỉnh dồn đến đây khi ngành du lịch địa phương đang phất lên, mong muốn đổi đời. Nay khi lượng khách tham quan đã giảm mạnh thì họ có thêm một cần câu cơm ổn định cũng là hạnh phúc lắm rồi, đã chuyển đến đây sinh sống gần chục năm, giờ muốn chuyển đi nơi khác làm ăn thì phải là một người có dũng khí và hoài bão lớn mới làm được, chưa nói đến chuyện họ đã từng tha hương một lần.

Cũng không phải là mọi việc đều xám xịt. Các chủ cơ sở chế biến cá khi chuyển tới đây do đều không phải tay nhỏ mặt bé nên cũng đã thu hút một số vốn đầu tư kha khá cho chính quyền, và chính quyền dùng số tiến ấy cải tạo lại tự nhiên và môi trường, nên vẫn có một lượng khách du lịch tăng trở lại với giá cả rất phải chăng. Nhưng xây dựng luôn khó khăn hơn phá hoại, Bright Falls sẽ không bao giờ trở lại cái thời hoàng kim trẻ trung và sôi nổi của nó ngày trước nữa. Dù sao thì cũng không quá ảm đạm, ta có thể gọi đó là một hợp đồng lợi cả ba bên.

- Đầu tiên chúng mình sẽ phải đến quán cà phê của thị trấn để gặp chủ đất, một ông Carl Stucky gì gì đó. Ông ta giữ chìa khóa căn chòi gỗ đang chờ chúng ta - lạy hồn cuối cùng cũng có một địa điểm cụ thể, sau năm phút vừa rồi cô ta cứ chỉ đi thẳng phía trước tôi tưởng chúng tôi đã lạc đường rồi.

- Chúng ta đến rồi!

Chiếc xe đỗ xịch lại trước một quán cà phê được trang trí màu mè với cái đầu hươu quá cỡ nhô ra, nhìn xung quanh tôi có thể thấy những công trình sặc sỡ khác được sử dụng khi lượng khách du lịch còn đông đảo, giờ đây phần lớn đã đóng cửa, trên mái phủ một lớp bụi dày và bốc mùi cá tanh nồng nặc.

- Em sẽ đem ôtô đi đổ xăng, còn anh vào đấy lấy chìa khóa nhà, khoảng năm phút sau gặp lại tại đây anh nhé.

Tôi ngán ngẩm bước ra khỏi xe, tìm người đàn ông tôi thậm chí còn không biết mặt, tỏ ra tôi còn có một tí quan tâm tới chuyến đi này. Ngay từ đầu tôi thực sự đã không có hứng thú, nhưng chuyến đi này hoàn toàn là dành cho vợ tôi, một hành động cao cả hiếm hoi mà thỉng thoảng lắm tôi mới có, cho nên tôi cố gắng dẹp bỏ tính ích kỷ thông thường sang một bên, tự thuyết phục mình rằng tôi có thể cũng sẽ được vui vẻ cùng với vợ, trong khi thật ra chỉ cần một ngày nằm ườn trước tivi, khui một chai wishky ngâm nga tơ tưởng một mình không ai làm phiền, là đủ thỏa mãn tôi lắm rồi.

Tôi ngước lên tấm biển đèn nêon của quán cà phê được treo cùng với cái đầu hươu, dòng chữ "OH DEER!" được treo ngay ngắn với cái đầu hươu treo bên trong chữ "O". Đột nhiên tôi cảm thấy ngứa ngáy, làm nhà văn một khi tôi nhận ra cái sự chơi chữ thảm hại trong tấm biển ấy, giống như sự xúc phạm đến nghề nghiệp yêu quí của tôi vây. Tôi nhắm nghiền mắt lắc đầu nhè nhẹ, mình đang trong kì nghỉ, mình đang trong kì nghỉ... tự nhắc mình, tôi may mắn khả năng "mặc kệ" của tôi vẫn còn hữu dụng. Tôi cúi đầu nhẹ xuống bước đi trước khi vợ tôi gọi với lại.

- Này Alan - cô ta vặn cánh cửa ôtô xuống - cảm ơn anh đã cùng em tới đây.

Alice với ra nắm lấy tay tôi như một cách bày tỏ thiện chí, xem ra kế hoạch của tôi đã hoạt động hết sức hiệu quả,

- Em cứ đi trước đi, anh hứa sẽ không nghịch ngợm đâu - tôi nở lại một nụ cười vui Alice, đáp lại lòng biết ơn của cô ấy.

Chuyến du lịch này xem ra cũng đáng đồng tiền bát gạo.

Tiếng chuông cửa vang lên, một số người khách trong tiệm cà phê ngoái lại nhìn tôi đang đóng cánh cửa lại sau lưng. Ngay khi nhìn thấy tôi cô phục vụ bàn nở một nụ cười tươi, không phải kiểu cười ta thấy ở các cửa hàng KFC, MacDonnal hay bất cứ cửa hàng nào trả lương để nhân viên cười, đây chỉ là một cái cười hồn nhiên và vô tư.

- Mừng anh đến quán cà phê của chúng tôi, ở đây chúng tôi không chỉ phục vụ đồ uống mà còn ăn trưa và ăn nhẹ nữa - cô phục vụ nói từ đằng sau quầy bar đặt ở giữa phòng, biết rõ tôi là khách du lịch vừa mới đến.

- À thực ra tôi chỉ cần tìm...

Chưa nói hết câu, cô ta đã xen ngang vào giữa.

- Ôi trời ơi, anh là Alan Wake có phải không? Ôi Alan Wake nổi tiếng đang ở trong quán cà phê của tôi - cô ta dường như muốn nhảy cẫng lên - tôi đọc và mê nhiều sách của anh lắm, tôi biết nhiều người đã nói với anh câu này nhưng tôi thực sự, thực sự, thực sự là một fan lớn cực kì cuồng nhiệt của anh, ở nhà tôi có bộ sưu tập sách không thiếu một quyển nào.

- À ừ, cám ơn... - tôi cười xuề xòa cho xong chuyện, không nhìn thẳng vào mắt cô ta như tôi vừa mới làm gì phi pháp. Tình cờ quay lại đằng sau, nhìn thấy một tấm áp phích quảng cáo sách to đùng mà hình tôi đang cầm quyển sách trên đó to đúng bằng người thật. Mẹ ơi, đúng là ghét của nào trời trao của ấy, không hiểu cô ta lôi cái thứ rẻ rách ấy từ đâu ra không biết.

- Tôi muốn tìm gặp ông Carl Stucky, ông ấy có ở đây không?

Vẫn chưa hết hưng phấn, cô phục vụ cất giọng với tần số cao vút.

- Ồ anh tìm gặp ông Stucky? Tôi e rằng ông ta vẫn còn trong phòng vệ sinh ở đằng sau kia. Tiện thể, tên tôi là Rose, vô cùng vui sướng được gặp anh.

Tôi phản ứng lại bằng một cái bắt tay hờ hững, rõ ràng tình cảm thái quá của Rose đã thu hút những ánh mắt tò mò của thực khách xung quanh, đây là điều tôi sợ nhất trong kì nghỉ này. Tuy nhiên có một số người lại không để tâm, một vị có vẻ như kiểm lâm của khu này đang ngồi nhâm nha tách cà phê đen đặc, che dấu mình khỏi mọi sự xung quanh bằng tờ báo buổi sáng phủ kín trước mặt.

- Anh có thể thử một tách cà phê - người kiểm lâm lên tiếng thân thiện - có điều đừng có trách tôi khi anh đã yêu nó mất rồi, anh sẽ chẳng còn muốn rời khỏi đây để tan nát cõi lòng đâu.

- Ông Rusty đây không còn là người nữa, giờ dưới lớp da già cỗi ấy chắc chỉ còn toàn là cà phê đen đặc mà thôi - Rose cười đùa hùa theo câu nói của người kiểm lâm.

Tôi đảo mắt nhìn quanh và hướng về phía một hành lang hẹp ở phía sau, vòng qua quầy bar trước khi tôi lại bị hai người khách khác kéo lại.

Ở một góc căn phòng cạnh chiếc máy phát nhạc đĩa nhựa, hai ông già đâu tóc bạc phơ với kiểu ăn mặc kì quặc: một người mặc một chiếc áo khác da đen sẫm trẻ trung, vận quần bò, tóc lưa thưa và đeo cái bịt mắt chéo ở bên phải, một người thì mặc áo phông xám, khoác áo bò cắt tay, nuôi một trùm râu xồm xoằm như các Viking ngày xưa và buộc một cái khăn đen trên đầu. Ấn tượng đầu tiên của tôi là hai bọn họ thuộc về một băng đảng lái xe môtô chuên lang bạt khắp hang cùng ngõ hẻm, dù tôi không chắc họ thậm chí có thể tự lôi được cái mông già của họ lên yên xe hay không.

- Làm cho ta một yêu cầu nào cháu trai, ta đang muốn có một chút âm nhạc đây. Số sáu trong hộp nhạc, "Coconut". Nào thì ta cũng có thể tự làm được, nhưng đôi chân của ta ngủ quên hết rồi, rối loạn tiêu hóa nữa. Yeah! - Người đàn ông với chiếc bịt mắt lên tiếng, làm tôi có cảm giác lạc về những năm 80.

- Lại "Coconut" ?! - người đàn ông với bộ râu sửng cồ - ông già nói thật đấy hả? Mi làm ta tởm lợn, lại còn dám tự gọi mình là một ca sĩ rock nữa? HA, không thể tin nổi! Đừng tưởng chỉ bởi chúng ta là anh em ruột mà tôi lại không dám giết ông khi ông còn đang ngủ nhé!

Ông già bịt mắt giả điếc không nghe thấy. Tuyệt, một ngày tuyệt vời, ngay khi tôi cảm thấy kế hoạch của tôi đang đi đúng hướng dự định.

- Xin lỗi, tôi đang bận - kiếm ra một cái cớ cũ rích, tôi mau chóng rảo bước về phía hành lang nơi có một bà già ôm khư khư cái đèn dầu đứng lưỡng lự không dám vào.

Hành lang dài dẫn ra sau tối om, thỉnh thoảng nháy lên vài tia đỏ yếu ớt từ chiếc đèn trần đang đung đưa và thứ duy nhất giữ cho nó không rơi xuống là sợi dây điện mỏng manh. Ngoài ra không còn gì ấn tượng khác cả, tôi nheo mắt bước vào.

- Cẩn thẩn đấy chàng trai trẻ, đừng để bị thương ở trong bóng tối - bà già cầm cây đèn ngoái cổ vào nói với theo tôi.

- Tôi nghĩ là tôi tự lo được cho bản thân mình - đoạn tôi bước những bước kiên quyết vào bên trong, bỏ lại bà già lẩm cẩm sau lưng. Tôi không muốn phải chờ đợi, tôi cần phải tìm ông Stucky thật nhanh, lấy chìa khóa và chuồn khỏi nơi này, chính thức bắt đầu kì nghỉ của chúng tôi. Cô phục vụ Rose kia đã làm cho tôi một trận đau đầu, cái đám "fan cuồng" luôn luôn làm thế.

Lần sờ theo vách tường bên trái khi đôi mắt mở to cũng vô dụng, cuối cùng tôi cũng tìm thấy cánh của cùng nắm đấm của nó trong lòng bàn tay, có vẻ đây là phòng vệ sinh duy nhất khi mà trên đường đi tôi không còn tìm thấy cánh cửa nào cả.

Tôi gõ nhẹ vào cánh cửa hai phát, ngạc nhiên khi thấy đến cả phòng vệ sinh cũng không có ánh đèn nào le lói qua khe cửa, như là không có ai bên trong. Tôi gõ lại hai phát nữa.

- Xin chào? Ông Stucky?

Tôi bắt đầu vặn thử nắm đấm cửa, vô ích, nó đã bị khóa trái bên trong. Giờ thì sao đây?

- Carl đã không thể hiện diện được - một giọng nói vô hồn vút bay ra từ không trung tĩnh lặng và chết chóc - không may, ông ấy đã bị bệnh rất nặng - tôi quay ra nhìn, một người phụ nữ không hiểu từ đâu xuất hiện đứng chặn giữa lối vào mà tôi vừa đi qua. Bà ta vận một bộ đồ màu đen, áo cài cúc chỉnh tề, một cái váy bó ngắn đến đầu gối, đeo chuỗi vòng ngọc trai và mang một tấm mạng che mặt cũng màu đen như người ta hay mang ở các đám tang.

- Ta có giữ chìa khóa căn chòi của anh, và cả hướng dẫn chỉ đường nữa - người phụ nữ giơ hai ngón tay khăng khiu kẹp tờ giấy và một chùm chìa khóa ra - hi vọng vợ chồng anh có một kì nghỉ tốt - bà ta nói không hề nhấn mạnh giọng điệu, cứ như đang nói chuyện với một cái máy được thu âm sẵn chứ không phải con người vậy.

- À... cảm ơn - tôi đáp, cố gắng nhận mặt người mình đang nói chuyện, nhưng sớm bỏ cuộc bởi chiếc khăn tang dày và bộ mặt của bà ta cúi gằm xuống không thể nhìn thấy, dù tôi có cảm giác kì quặc bà ta đang lén lút ngước mắt lên nhìn chằm chằm vào tôi qua lớp mạng che mặt dày kia vậy.

- Hồ Cauldron là một nơi đặc biệt, ta hi vọng hai người sẽ thích hòn đảo của ta. Ta sẽ ghé qua sau để xem tình hình hai người như thế nào - quá để ý đến sự hiện diện của người đàn bà và những vật dụng bà ta vừa đưa cho, tôi không còn nghe những gì bà ta nói.

- ... và để thăm cô vợ anh nữa - tôi giờ mới gióng tai lên, miệng không biết nói gì - ta cầu xin đấy - một cái nhìn vừa khó hiểu vừa kì quái đặt lên khuôn mặt tôi.

- À... cám ơn? - tôi lắp bắp.

Người đàn bà chầm chậm bước chân lùi lại phía sau nhường lại cho tôi con đường qua dãy hành lang hẹp, im lặng không nói một lời như hòa cùng bóng đêm, cảm tưởng như chỉ có cái đầu của bà ta - nơi không bị những mảnh vải đen phủ kín - đang trôi nổi trong không khí, dõi theo sau lưng tôi khi tôi bước đi, cảm giác giống hệt đang bị con sói rình mồi.

- Hồ Cauldron rất đặc biệt, rất nên thơ - giọng nói bà ta nhỏ dần sau tôi trong khi ánh mắt vẫn không rời, dường như có một cục băng đang đè lên ngực tôi ngăn không cho sự sống lùa vào phổi.

Những tia sáng lóe từ căn phòng chính của quán cà phê vào dãy hành lag tối sâu hun hút, tôi nắm lấy những sợi dây mỏng manh đó cố gắng kéo mình ra khỏi đáy vực đen thui. Bà già cầm cây đèn vẫn còn đấy, tôi ngạc nhiên thấy mình vui mừng vì gặp được một con người bình thường, à thì ít nhất cũng gần với người bình thường hơn so với nhân vật tôi gặp ở trong kia.

- Anh may mắn đấy chàng trai trẻ, anh rất có thể bị thương trong bóng tối - bà ta nói với giọng run run của người già khi sự sống đang từ bỏ cơ thể họ - cái này nhất định phải sửa. Ta phải nói chuyện với Marceline, căn phòng này đã thiếu ánh sáng quá lâu rồi! - tôi có cảm giác bà ta không còn nói chuyện với tôi nữa.

Tôi thở dài bực bội, nếu mẹ tôi mà còn sống thì chắc bà cũng chẳng nhiễu sự như bà già này, và tôi nói điều đó với tất cả tình yêu trên thế giới.

Giờ khi cái tôi đến để lấy đã được lấy không còn lí do gì cho tôi ở lại đây cả. Tôi vội bước ra phía cửa, vô tình va chân phải cái máy hát làm chiếc đĩa hát đang bị kẹt ở lưng chừng rơi xuống, chơi đúng bài "Coconut". Ông già ban nãy đang ngủ gật say như chết bỗng sống dậy, đập bàn đập ghế theo nhịp nhạc.

- Yeah, đúng rồi! - ông già giơ nắm đấm lên trời - bài ta ưa thích! Lâu quá không gặp, Tom - tôi cho rằng ông ta đang gọi tôi là Tom - anh có mang theo chai rượu nào theo người như trước không?

Người kiểm lâm ban nãy bắt gặp ánh mắtkỳ quái của tôi lên tiếng vội giải thích.

- Hai anh em nhà Anderson trước đây từng là ... một kiểu nghệ sĩ ở địa phương. Tôi đang áp tải họ đợi bác sĩ Hartman đến đón đi. Có tiền sử về bệnh hoang tưởng, cách đây vài ngày bọn họ lẻn khỏi viện điều trị trên hồ Cauldron.

Vậy đó là lí do họ gọi tôi là Tom, vậy mà tôi tưởng đó là do tính cách lập dị của người dân ở đây khi quá lâu không tiếp xúc với thế giới bên ngoài chứ. Nhưng Hartman, hừm... Hartman, Hartman... cái tên này tôi nghe ở đâu rồi nhỉ.

- Thần Sấm ơi, cho con chết xuống địa ngục đi còn hơn - tiếng phàn nàn của ông già với bộ râu rậm rạp về gu âm nhạc quái dị của người bạn đồng hành đá phăng tiềm thức tôi khỏi căn nhà suy tưởng. Tôi quyết định dẹp cái tên Hartman sang một bên, tiến thẳng về phía cửa lớn, tai tôi còn nghe thấy cô phục vụ Rose còn đang ba hoa cô ta sẽ đến khu cho thuê chòi gỗ của Stucky để tìm Alan Wake.

Trời ạ, sao mọi người không có lo chuyện của mình trước khi nhúng mũi vào riêng tư của người khác được nhỉ, tấm chân dung lớn bằng bìa các tông của tôi dựng gần cửa ra vào nở một nụ cười như muốn chế nhạo con người.

Chiếc ôtô màu đỏ của chúng tôi đỗ xịch trước quán cà phê đúng lúc cánh cửa sau tôi đóng lại, Alice mở cánh cửa ôtô cho cơ thể tôi như muốn đổ sập xuống đệm ghế êm ái. Tuy nhiên ngay sau khi rời khỏi căn nhà tràn đầy những người lạ mặt đó, sức khỏe đã ngay lập tức qua trở lại thể xác, tôi đường hoàng từ tốn ngồi xuống ghế ôtô không tỏ ra chút mềm yếu nào.

- Chiến dịch thành công, chìa khóa, và cả chỉ dẫn đường nữa - tôi giơ tay ra như đang cầm một cái cúp vô địch, vẫn còn đủ tinh thần để ném ra một câu đùa ất ơ.

- Anh hùng của lòng em - Alice cười, luôn hùa theo dù trò đùa của tôi có tệ đến mức nào, nhiều con người đến với nhau chỉ vì đầu môi câu truyện, nhưng chắc chắn không phải chúng tôi. Tôi xác định rõ ràng chúng tôi có một mối quan hệ bền chặt dựa trên nhiều nền tảng, nếu không thì chỉ với từng ấy tật xấu của tôi cũng đủ khoác lên mình một vòng bảo vệ xua đuổi tất cả đàn bà con gái xung quanh.

Chiếc xe chuyển bánh, những lời nói thân mật được thốt ra bên trong không gian chiếc xe, hai con người đó không còn đếm xỉa đến những gì xảy ra xung quanh. Và tất nhiên họ cũng không hề biết rằng chỉ khoảng chục giây sau khi họ rời khỏi, một người đàn ông xông ra từ nhà vệ sinh của quán cà phê, ta ôm ổ bụng vẫn còn chưa hết sôi, đẩy cánh cửa nhà ăn một cách thô bạo, cố gắng tuyệt vọng đuổi theo cái người vừa mới ở đây chỉ mới ít phút. Nhưng đã muộn, chiếc xe đã đi quá xa, giờ tất cả những gì người đàn ông này có thể làm là đứng giữa con đường cái, miệng hô to gọi với theo, tay trái giơ lên cao vung vẩy một thứ mà nếu nhìn kĩ chính là chìa khóa căn chòi mà đáng ra hai người khách kia phải có.

- Cái quán cà phê đó như một nhà thương điên - vợ tôi cười khúc khích trước lời nhận xét đầy khiếm nhã của tôi. Nhanh chóng, cô ấy lại chuyển sang mơ màng, bàn tay áp lên má và chống khủy tay vào bệ cửa sổ ôtô đang mở to.

- Anh có tin nổi vào mắt mình không? Nơi này đẹp quá! Sẽ là một bối cánh tuyệt vời cho một cuốn sách anh nhỉ?

- Chúng mình vẫn còn đang đi nghỉ mà - tôi nhắc nhẹ Alice, mắt không nhìn cô ấy - anh sẽ xem xét đến vấn đề đó saukhi mình về nhà, được không em?

Vợ tôi giọng ỉu xìu.
- Thôi cũng được, chúng mình sẽ nói chuyện này sau - tôi biết khi nào cô ấy không cảm thấy thoải mái, chỉ cần nghe cách cô ta nói từ "thôi cũng được" là đủ biết.

Lạy chúa, nơi này đúng là đẹp thật, địa điểm nhiều thác nước nhất ở các bang phía đông bắc, nơi duy nhất có đến bốn kiểu địa hình: biển, sông suối, rừng rậm và núi cao. Và lí do chúng tôi đến đây là để thư giãn đầu óc, chứ không phải mệt óc. Tại sao không ai hiểu cho một nhà văn như tôi cảm hứng đến từ bên trong chứ không phải chỉ cần thay đổi môi trường là được? Tôi biết rằng mọi người chỉ muốn giúp cho tôi sống tốt hơn, nhưng tôi không muốn đả động đến vấn đề đó, tôi muốn vùi đầu mình trong cát lạnh. Ngày xửa ngày xưa lắm rồi, bản thân tôi đã từng là một nhà văn thành đạt, nhưng đã là một thời gian dài, tài năng của tôi đã biến mất, như nó chưa từng ở đó. Tôi đã không thể nặn thêm ra một chữ nào trong hai năm qua, kể từ cuốn sách cuối cùng của tôi, vậy mà mọi người nghĩ chỉ cần cho tôi thời gian và không gian là tôi có thể phục hồi ư? Nghề văn không giống như làm kinh tế, tôi không thể chỉ nghỉ khoảng một ngày cho lại sức trước khi lên máy bay sang Tây Ban Nha buôn bán thuốc phiện được.

- Và giờ là bản tin thời tiết - tiếng nói đàn ông phát ra từ đài rađiô - đêm nay sẽ là một đêm không mây, cho nên bạn nào đến từ thành phố có thể sẽ muốn hướng mắt lên trời nhìn ngắm những vì sao, xem đôi mắt long lanh của chúng lấp lánh ngắm nhìn lại bạn - giọng nói chậm rãi và an ủi mà tôi nhận ra là thuộc về ông Pat Maine, người tôi gặp trên chiếc phà - con đường sẽ khá tối, nhưng đừng lo, chúng sẽ thắp sáng đường bạn đi - một bài hát du dương được phát sau đó xóa nhòa hết mọi ưu phiền và mệt mỏi vừa có trong tôi.

Chiếc bản đồ chỉ dẫn khá đơn giản, và không mất nhiều thời gian chúng tôi đã đến được nơi cần tới, dù sự im lặng giữa tôi và vợ đã khiến cho cảm giác thời gian bị kéo dài ra một chút. Nhưng sự băng lạnh ấy cũng không tồn tại được lâu trước thiên nhiên nồng hậu, ngay khi bước chân xuống khỏi xe, im lặng đã bị thay thế bằng những tràng suýt xoa không thành lời, tôi nhìn vợ tôi, và vợ tôi nhìn lại tôi, chúng tôi đều biết mình đã đến thiên đường.

- Wahhh... nó thật tuyệt diệu anh ạ - Alice lên tiếng.

- Ừ thì cũng được - tôi có tỏ vẻ không ấn tượng, trong khi đôi mắt không rời và hơi thở chầm chậm choáng ngợp đã chỉ ra tôi là một thằng nói dối như thế nào.

Trước mặt chúng tôi, căn nhà nhỏ bằng gỗ xinh xắn tọa lạc trên hòn đảo nổi giữa mặt hồ rộng lớn. Những con gió thổi nhè nhẹ như đang vuốt ve lên gò má, cuộn trong đó mùi hương của cỏ dại và hương đất quện lại, từng cơn từng cơn một gợn xuống mặt hồ xanh biếc, nước trong như gương những ngọn sóng lăn tăn nhẹ trôi, dịu dàng nổi lên, uyển chuyển đổi chiều như bàn tay con gái ngây thơ trong trắng. Căn nhà gỗ trên hòn đảo không lớn lắm, mái nhọn, nhưng màu gỗ nâu đậm làm nổi lên một cột ống khói làm bằng gạch đỏ son như vừa được xây, bao xung quanh ngôi nhà là cỏ cây thấp cao không theo thứ tự, lá đỏ, lá xanh và vàng xen lẫn nhau trong ánh nắng mùa thu. Một con đường duy nhất trải trước mắt chúng tôi, để tới đảo là qua một cây cầu treo bằng gỗ trông cổ kính, kết lại bằng thân gỗ tươi và dây leo. Hòn đảo lọt thỏm trong những sườn núi bao quanh nó, trong muôn ngàn cỏ cây và trong những sừng sững núi cao đầu bạc, nơi không có một vết tích bất kì của thứ phi tự nhiên nào trong tầm mắt, kể cả ngôi nhà như được làm thủ công bằng tay, trông vụng về nhưng thật thà, đáng yêu.

- Em đi trước đi, đừng lo, anh sẽ để mình vào được nhà trước khi trời tối, và anh con mang theo cái đèn pin nữa - câu nói của tôi làm Alice thức tỉnh khỏi giấc mộng êm đềm, cô ấy vòng ra sau xe lấy hành lý.

- Ừ em biết, em không sao.

Vợ tôi có một chứng bệnh, hôi chứng sợ hãi bóng tối. Tôi tuy cảm thấy khá khó hiểu khi ngày nay nhiều thứ yếu kém cua con người mà cũng được gọi là "bệnh" được. Nhưng không phải với Alice, tôi vẫn bảo vệ cô ấy hết sức có thể dù nó có vô lí đến dường nào, đó là thứ ta làm cho người ta yêu quý, bảo vệ họ dù đó là đúng hay sai, dù nó có biến ta thành người anh hùng hay kẻ bạo chúa đi chăng nữa.

Tôi nhanh chân chạy lên cầu trước, Alice cầm hành lí đi theo sau. Tôi phải vào căn chòi để chắc chắn nó có đèn đóm đủ cả, trước khi mặt trời bị hàm răng nhấp nhô của những ngọn núi nuốt chửng.

Căn chòi gỗ theo chiều cao tôi ước tính chỉ có hai tầng, hông bên phải của ngôi nhà quay đúng về hướng cây cầu, về hướng tôi đứng. Phía đó trên khoảng gác hai có hai chiếc cửa sổ tròn trĩnh đối xứng ở hai bên của cột khói lò sưởi cũng tọa lạc bên hông phải ngôi nhà. Đột nhiên tính trẻ con trong tôi nổi lên, rõ ràng trước mắt tôi là khuôn mặt tức cười khổng lồ: mái nhọn là một cái mũ, hai cửa sổ tròn hai con mắt, cột khói là sống mũi và đống củi chất cao phía dưới như cái răng khểng. Một ngôi nhà mơ ước đúng nghĩa trong những bức tranh của bọn trẻ mẫu giáo, tôi tự nhủ thầm mình: "Ha! Ta đúng là hài hước".

Chiếc chìa khóa trượt vào nắm đấm cửa dễ dàng và chỉ cần một cái lắc nhẹ không chủ ý, khóa cửa đã được bật mở. Tôi bước vào bên trong nhà chỉ để hầu như chẳng thấy gì cả bởi tối hù, điện đóm đã bị cắt khi chưa có người vào ở. Tiếng tanh tách vang lên và đèn pin trong tay tôi vụt sáng. Qua ánh đèn nhỏ bé nó phát ra, tôi có thể thấy nội thất trong ngôi nhà thuộc về những năm 60, có khi còn cổ hơn, những chiếc bàn, chiếc ghế được làm thủ công, căn bếp nơi trước kia dùng củi nhóm có đặt một chiếc bếp ga han gỉ, rem và thảm trang trí cầu kì với những màu sắc tối.

Xem ra thứ duy nhất có vẻ đỡ lỗi mốt hơn một tí trong ngôi nhà này là tủ sách nhỏ cao đến thắt lưng làm bằng gỗ ép trống rỗng. Tuy nhiên, yên vị trên nó là một chiếc hộp bằng bìa, giống như hộp đựng giày, có chứa vài thứ trông như giấy tờ. Tôi tiến đến gần xem, có trời mới biết nếu có một tờ giấy nội quy ở trong đống đấy thì nó sẽ đặt ra những điều khoản oái oăm gì mà tôi phải tuân theo.

Nhưng không, không có một giấy tờ qui định nào hết, thay vào đó, chỉ là vài cuốn sách của một tác giả tôi chưa từng nghe tên, "Thomas Zane", và còn vài tờ giấy khác mà viết lên đó những dòng chữ giống như thơ.

Li dị tôi khỏi sự thật bình thường
Gào thét, câm lặng bóng tối
Sa vào trong bức tranh yếu đuối
Tôi chết chìm, trong không gian đen vô định
Ánh sáng chưa từng, cào xé
Đến miền đất sâu thẳm này
Tôi mù quáng, nhưng không thứ gì tệ
Hơn cái bóng
Tiềm thức kêu gào nơi đây
Một mình trong cơn tỉnh giấc mộng
Gỡ rối bời cuộn chí lí trí.


(Divorce me from all that’s sane
Screaming, mute darkness
Descend on this frail frame
I drown in fathomless black space
Light never scratched
The depths of this domain
I see not; yet nothing could be worse
Than the shades
My mind calls herein
Alone at my own wake
The unraveling of reason’s skein)


Không một chữ nào trong đoạn thơ này mà tôi hiểu cả, và cái tên "Thomas Zane" tôi cũng chưa từng được nghe nhắc tới lần nào trong các diễn đàn và hội thảo trao đổi văn học từng tham dự, chưa kể các nhà thơ có thói quen dùng nghệ danh.

Ấn tượng không sâu đậm của tôi về đoạn thơ nhanh chóng bằng những tiếng động lạ, có những tiếng cọt kẹt của sàn gỗ trên gác hai. Nếu như bình thường như lúc tôi còn ở trong căn hộ ở New York, tôi đã mặc kệ và quay lại công việc đang làm dở, cho dù trộm cắp có khuân cả nhà đi nữa chưa chắc tôi đã để ý. Có thứ gì khác biệt nơi đây, không chỉ là do sự lạ lẫm của vùng đất mới, tôi chỉ có thể cho rằng bị trùm lấy bởi bóng tối đặc quánh xung quanh trong ngôi nhà đã làm cho tinh thần cảnh giác thông thường của tôi bị nâng lên quá mức. Tôi bước lên chiếc cầu thang gỗ nhỏ và cũ kĩ dẫn lên trên lầu.

- Xin chào, có ai ở đây không?

Cất lên những từ ngữ xã giao thì thầm, tôi nghĩ sự lịch sự vớ vẩn này không gây được ấn tượng gì lắm nếu ở trong ngôi nhà chỉ là một bà lao công già khụ đang quét dọn nhà cửa, nhưng đó sẽ là một sự giúp đỡ lớn nếu nhân vật khách mời của tôi là một tên trộm đồ, hoặc thậm chí một tên giết người hàng loạt đang trú ẩn. Một lần nữa cái ý thích muốn cường điệu hóa cuộc sống chán ngắt lại choáng ngợp tâm trí tôi.

Có thể nói là khá thất vọng, chẳng có gì trên tầng trên ngôi nhà cả, không giống thứ tôi chờ đợi cho lắm. Tầng hai của ngôi nhà chật hẹp,chỉ đủ để bố trí hai gian phòng. Nơi tôi vào đầu tiên có trần nhà thấp, giữa phòng đơn sơ chỉ bố trí một chiếc giường đôi phủ ga trắng tinh, cùng một cái bàn nhỏ, đèn ngủ và vài thứ linh tinh khác. Tôi ngẫm lại thói quen xem lung tung các kênh phim truyện buổi tối của mình, và bỗng cảm thấy nhớ da diết cái tivi trong khi chẳng có cái nào trong căn nhà này cả. Nhưng nghĩ lại thì có lẽ Alice sẽ không thấy bằng lòng lắm nếu tôi ở lì ở nhà suốt ngày ôm lấy cái tivi như tôi đã làm trong thời gian dài qua.

Tiếp tục hành trình khám phá của tôi, cánh cửa còn lại cuối cùng phủ đầy bụi và thấm mạch máu thời gian hơn bất cứ vật thể nào khác trong ngôi nhà này. Tiếng cửa kêu lên cót két khi tôi dùng tay đẩy vào, không có gì nhiều thậm chí còn đơn sơ hơn so với căn phòng ngù ở đối diện, một bộ bàn ghế làm việc bằng gỗ nhỏ, cũ kĩ và chẳng còn gì khác để miêu tả, nhất là khi so với một cái tượng cú to lớn được khắc chi tiết bằng gỗ được treo phía trên nó. Những hạt bụi lấp lánh trôi lừ đừ qua mặt bàn, được thắp ánh lấp lánh bởi luồng sáng chiều chiếu qua hai khung cửa sổ tròn, tôi tiến lại gần để quan sát cái bàn được kĩ hơn.

Tia sáng ấm áp bỗng lóe lên, sáng chói và khó chịu, chiếu thẳng vào mắt tôi. Trong phút chốc tôi tưởng tượng mắt mình đã bị một tia lazer nóng bỏng đốt cháy, một khi ngay lập tức sau khi trải nghiệm những tia chớp giật thình lình, tôi không cảm thấy gì ngoài bóng tối, trong mắt tôi, trong lòng bàn tay tôi, chảy trong não bộ của tôi.

Những luồng gió rít mạnh, giận dữ như thể có sự sống.

Một người đàn bà mang khuôn mặt đưa đám, thương tiếc cho những thứ bà ta muốn được hưởng.

Một cõi sương mù mênh mông đen kịt, một đại dương bóng tối bao quanh tôi, cơ thể cảm giác như đang bồng bềnh trôi nổi. Trong thoáng chốc, cảm giác bức bối của cơn ác mộng tôi có trên chiếc phà quay trở lại không rụt rè.

Lạy chúa ơi! Tôi lấy tay phải ôm lấy đầu mình, một cơn đau đầu không báo trước đã làm tôi mất phương hướng. Tôi lắc nhẹ cái sọ suýt nứt vỡ của mình, chịu đựng cơn đau đang dịu dần, ngẩng lên và phát hiện ra mình đã không còn đứng vững trên hai chân nữa, một tay tôi đã phải tì vào chiếc bàn gỗ, quệt đi lớp bụi dày như mảng sơn chưa khô. Đáng lẽ tôi không nên bỏ lỡ cốc cà phê buổi sáng nay.

Một khi đã đứng vững lại được trên hai chân, tôi cố gắng ổn định tinh thần nhớ lại xem tôi vừa mới trải nghiệm những gì. Nhưng vô ích, kí ức tạm thời của tôi giờ giống như bức tranh sơn dầu ngấm nước, nhòe nhoẹt và vô nghĩa cho dù tôi biết chắc vừa đây thôi tôi đã thấy một thứ gì đó quen thuộc, một thứ gì đó quan trọng này đã trống rỗng, vài phút trước tôi đã cảm thấy gì đó, và giờ tôi không.

Không quan trọng! Tôi nghĩ thầm. Trời phù hộ cho tôi có một trí tưởng tượng phong phú, đồng thời là sự nguyền rủa. Bình thường ngày trước tôi luôn có một cuốn sổ tay bên mình, không phải chỉ để ghi lại giấc mơ của tôi, mà nhiều khi những ý tưởng tuyệt vời chỉ nảy ra khi tôi nằm thao thức trên giường, hoặc lúc trong cơn choạng vạng của nửa tỉnh nửa mê. Không còn nữa, trong hai năm nay đầu óc tôi giống như chiếc giếng khô trong hoang mạc khô cằn, cuốn sổ ấy cũng đã thất lạc tận chân trời nào rồi. Nhưng những hình ảnh, kí ức này, và giấc mơ kia, nó cảm giác thực, quá thực khiến tôi cảm thấy buồn nôn,

- Alan! Anh làm gì lâu thế! - tôi nghe thấy giọng vợ tôi vọng lên từ bên ngoài ngôi nhà - cầu giao ở phía bên ngoài ngôi nhà cơ mà!

Cảm thấy một chút ngớ ngẩn, tôi lững thững bước chân xuống, gạt cái cầu giao khuất ở một cái chòi gỗ nhỏ phía bên ngoài, và thế là ánh sáng hiền hòa, sự sống của máy móc tran hòa bên trong ngôi nhà nhỏ.

Còng lưng uốn gối, sau một lúc cố gắng, tôi bỏ cuộc bỏ ra ngoài ngôi nhà ngắm trời đất, để mặc cô vợ tôi vật lộn với đồ đạc trong nhà và đến một nửa đống quần áo tôi chưa cất hết. Rảo bước ra những bụi cây và hoa mọc rải rác trên hòn đảo, tôi hít vào thở ra cái không khí trong lành của buổi gần đêm khi mặt trời giờ chỉ còn lấp ló khuôn mặt nhỏ bé của nó qua đường chân trời.

Tôi đã từng thắc mắc tại sao hòn đảo này lại mang tên Bird's Leg - cái tên được ghi trên tấm bảng trên đường chúng tôi đi tới nơi này, cho đến khi tôi nhận ra dưới chân tôi, mảnh nơi tôi đứng có hình tam giác nhọn, với ba mô đất nhô ra từ đáy của nó, thực sự không khác gì một dấu chân chim.

Đây quả là một nơi tuyệt đẹp, tôi không còn cần phải mô tả nó thêm lời nào nữa. Tôi tự nhủ với bản thân mình, rằng tôi có thể nghỉ ngơi nơi đây - có thể yên giấc nơi đây - và quên đi mọi phiền muộn của công việc. Tôi nhìn xuống một gốc cây trần trụi, dấu khắc bằng dao đã mờ nhạt bởi bụi thời gian vô hình, vẽ lên một trái tim nhỏ, bên trong có những chữ khắc ngoằn nghèo và thô sơ như nét bút trẻ con "T + B". Có vẻ nơi đây đã từng chan chứa một chuyện tình đẹp, và giờ đây nó có thể lại như thế một lần nữa. Tôi nghĩ đây sẽ là bắt đầu thời gian hạnh phúc của chúng tôi.

Tới giờ mọi thứ hoàn hảo, một vài hạt bụi tinh thần lẩn quất trong mắt tôi làm cái trỉ nghiệm của tôi không được toàn vẹn. Xa xôi ở tít bên kia ngọn núi, tôi có thể nhìn thấy rõ viện điều trị Cauldron tọa lạc ép theo sườn dốc phía trước, giờ đã bật hết đèn đóm lên, trông sáng như quả bí ngô trong lễ Hallowen. Và cái gã khó ưa Hartman, tôi không nhớ rõ ràng ngay khi vừa mới nghe nói ở quán cà phê, nhưng những ấn tượng không chút thoải mái đã nhắc tôi nhớ lại sau đó.

Cái gã khó ưa Hartman, vài tháng trước khi vụ ẩu đả của tôi với phóng viên nhiếp ảnh xảy ra, đã gọi cho tôi bằng số nhà riêng tới tận nơi tôi ở, không biết cách nào gã biết được số đó. Nhấc điện thoại lên trả lời gã quả là một niềm hối hận lớn, suốt 15 phút tôi ngồi nghe gã thao thao bất tuyệt, gã nói rằng tiền sử ngược đãi bản thân bằng các chất cồn của tôi kết hợp với chứng mất ngủ kéo dài dẫn đến hậu quả khiến tôi cực kì dễ nhạy cảm với sự tức giận, và rằng nó không chỉ những gây ra vụ ẩu đả vừa rồi, mà gã chắc chắn cho rằng còn ảnh hưởng xấu đến cuộc sống hôn nhân gia đình của tôi nữa. Tôi giận tím mặt, đếch có vấn đề gì với gia đình của tôi cả, tôi hạnh phúc và Alice cũng hạnh phúc, bàn tay tôi mạnh bạo dập máy trong khi gã Hartman còn đang ra lời mời tôi đến trung tâm của hắn chữa trị, hắn nói chuyện với tôi như thể tôi bị tâm thần.

Alice chọn nơi này làm địa điểm nghỉ quả là sự trùng hợp ngẫu nhiên, đến tôi còn không biết đến cái viện điều trị chết tiệt của hắn nằm ở nơi nào, mỗi lần nhấc máy lên nghe thấy giọng hắn là tôi lại dập máy ngay, và vài tuần sau tôi đã phải đổi số máy bàn, cho dù sau đó hắn vẫn gửi thư đến cho tôi đều đặn hằng tuần. Tôi đã định nói cho Alice biết ngay sau khi tôi nhớ ra, nhưng nghĩ lại thì tôi không muốn vì chút bất tiện của mình phá hỏng không khí kì nghỉ.

Mặc kệ! Tôi qua người lại với cái tòa nhà kia, rảo bước vào lại căn nhà gỗ. Ra khỏi tầm mắt, ra khỏi suy nghĩ, chắc giờ Alice đã dọn dẹp xong nhà cửa, tôi có thể an toàn bước vào trong nhà nằm ườn trên chiếc đi-văng hoắc trên giường ngủ một lúc, sau đó tôi sẽ rủ Alice ra ngoài trời ngắm sao, phải tận hưởng từng đồng tiền chứ!

Cánh cửa gỗ hé mở để lọt ánh sáng và không khí ấm áp bên trong ngôi nhà trườn ra ngoài. Tôi nhìn ngắm lại nội thất vừa được bố trí lại, là một nhà nhiếp ảnh, Alice có một con mắt rất tinh tế. Căn phòng giờ đây trông rất đẹp mắt và ấm cúng, không cầu kì, vợ tôi chỉ cần kéo lại vài tấm màn, cho thêm một vài tấm vải trang trí, bày ra một con ngựa gỗ bập bênh đồ chơi từ kho, di chuyển một vài đồ đạc, rất đơn giản nhưng cô ấy đã làm thay đổi hoàn toàn trải nghiệm. Đó là một trong những điểm tôi yêu ở cô ấy, luôn nhìn thấy cái đẹp từ những thứ đơn sơ, giản dị nhất.

Nhưng có thứ gì đó còn thiếu, tôi không thấy sự hiện diện của Alice đâu cả.

- Alice! - tôi lên tiếng gọi.

Tôi chú ý nhìn thấy một cánh cửa dẫn ra sau nhà mà trước tôi không để ý. Tiến lại gần, tôi nhòm qua lớp cửa kính của nó. Cảnh vật tối lờ mờ mà tôi chỉ có thể thấy duy nhất có một cầu thang bằng gỗ dẫn xuống mặt hồ tối đen.

Cánh cửa đóng hờ đã chơi khăm tôi, Alice muôn đời cũng không dám ra ngoài trong buổi tối như thế này đâu.

- Alice!! Em yêu! - tôi gọi to hơn.

- Em ở trên này - tiếng vọng ra từ trên gác - trên phòng ngủ ấy, lên đây đi em có bất ngờ cho anh đấy!

Như đứa trẻ con sắp được quà, tôi bước chân lên cầu thang nay đã được quét bụi sạch sẽ.

Mở cánh cửa căn phòng ngủ ra, tôi bắt gặp Alice đang nằm soãi trên chiếc giường, căn phòng được sửa sang giờ trông rất lãng mạn, và cả vợ tôi cũng vậy, cô ta mặc một cái áo phông chật ôm sát đường cong cơ thể, mặc một cái quần trong ngắn để lộ cập đùi thanh mảnh trắng trẻo khỏe khuắn, tóc xõa ra và trong tay đang sửa sang lại chiếc gối.

Bằng cách nào đó tôi có thể đoán trước được món quà bất ngờ của tôi là gì. Nụ cười nở ra ranh mãnh, tôi nựng yêu Alice.

- Ái chà! Chào cô gái xinh đẹp.

- Không Alan. Em không phải món quà bất ngờ của anh, anh sang phòng làm việc xem đi.

Hơi ỉu xìu, tôi quay bước đi, thề với trời đất tôi có thể nghe thấy tiếng cười rúc rích cảu Alice sau lưng tôi cho dù không có tiếng động nào được phát ra cả.

Cánh cửa căn phòng bật mở, nơi đây được vợ tôi ít trang trí nhất, mọi thứ gần như đều ở vị trí cũ, ngoại trừ lớp bụi đã được quét sạch. Nhưng có một thứ được đặt trên mặt bàn mà trước đó nó không có ở đó, và đáng lẽ nó không nên tồn tại ở đó.

- Ngạc nhiên chưa! - vợ tôi đi ra từ phía sau tôi reo lên.

Nén nỗi tức giận đang bùng nổ trong lòng, tôi cố gắng nói bằng cái giọng bình tĩnh nhất mà tôi có thể tạo ra, mà khi phát ra giống như người khác đang nói chứ không phải tôi vậy.

- Alice. Cái gì đây? - tôi chống tay xuống mặt bàn khi cảm xúc của tôi đang ngứa ngáy muốn thoát ra,

- Chính là cái máy đánh chữ anh dùng ở nhà đấy! Em phải thú nhận một chút, em nghĩ là anh có thể viết được thêm tác phẩm ở nơi này, rằng sự thay đổi của khung cảnh xung quanh sẽ giúp anh vượt qua...

- CHÚA ƠI, ALICE! - tôi ngắt lời cô ta, gần như hét lên - tất cả mọi người... đến cả em mà cũng...

- Hey, hey, hey... cứ nghe em nói đã - nghe giọng điệu cô ta thì chắc cô ta cũng biết tôi bực tức đến mức nào - ở đây có một bác sĩ địa phương, Bác sĩ Hartman. Em đã đọc một cuốn sách của ông ấy. Hartman có một phòng mạch tư ở đây, và ông ấy có chuyên môn điều trị các nghệ sĩ, em nghĩ...

- Em nghĩ sao hả Alice? - tôi sửng cồ, sẵn sàng gây gổ - rằng em có thể lợi dụng tấm lòng của tôi, lợi dụng chuyến đi này tôi sắp đặt cho hai chúng ta? Đưa tôi vào một cái bẫy mà tôi không cách nào thoát ra được, tống tôi vào một nhà thương điên nào đó cho khất mắt? Có phải cô đang nghĩ thế phải không?

Vợ tôi hoảng hồn, sửng sốt nói.

- Không! Tất nhiên tuyệt đối không phải như vậy rồi! Sao anh lại nghĩ như thế, anh thử tự nghe lại những gì mình đang nói đi.

- Sao? Cô nghe không lọt tai hả? Nghe giống cái gì? Nghe giống thằng điên phải không? Đúng rồi đấy, tôi đang điên đây, ai đời tôi lại để cho vợ mình xỏ mũi từ đầu đến cuối cơ chứ. Thế cái thái độ buồn rầu của cô ở nhà cũng là cô lừa dối tôi đấy hả?

Giọng Alice ngắt đoạn, nghẹn ngào như sắp khóc.

- Alan, em xin anh. Anh đừng hành động trẻ con như vậy nữa.

- Cô bảo tôi trẻ con hả?? Sao cô không bảo tôi là đồ thần kinh luôn đi, sao cô phải tốn công bày đặt thế này làm gì? Cô chỉ cần thuê một cái xe thùng và vài thằng đô con, tống tôi vào đó và cô sẽ không phải bao giờ nhìn thấy tôi nữa kia mà?

- Alan, xin anh để em giải thích...

Ánh đèn trong căn nhà đột nhiên vụt tắt, toàn bộ. Một cơn quá tải điện, tôi không quan tâm lắm, một lúc sẽ có lại thôi. Một phần trong tôi cảm thấy thích thú khi Alice ở trong bóng tối, chịu sự trừng phạt.

- Alan? - giọng cô ta hơi bối rối và sợ hãi.

Bên trong bóng đêm, có một nhân vật bí ẩn vừa xuất hiện, một người thứ ba mà sự hiện diện của nó không ai trong số đôi nam nữ đang to tiếng kia biết cả. Nó lẻn vào căn nhà, trườn trên cầu thang, đứng lên một cách im lặng không cần đoái hoài.

Ta đã tới, và giờ là lúc ta thực hiện mục đích của ta - một người phụ nữ đứng lặng yên, nhìn chòng chọc vào Alice - ta đã có thứ ta muốn trong móng vuốt, và giờ ta chỉ cần biết phải sử dụng nó thế nào cho đúng cách.

Ta sẽ không sử dụng anh như ta đã sử dụng Tom đâu, Alan. Con người yếu đuối chỉ cần có hương mật ngọt là sẽ sa vào chết như ruồi. Phải, đúng thế, ta sẽ phải cho anh ta hi vọng, ta sẽ phải lợi dụng cô ta, và ta đã có sẵn một kế hoạch hoàn hảo để tiếp đón cô đấy. Cô bé.

Quỷ dữ trừng phạt ta, ta đã đợi ngày này quá lâu rồi.

Những ánh đèn bỗng sáng choang trở lại, Alice vẫn đứng trước mặt tôi không động đậy, nước mắt lưng tròng và hai tay ôm lấy người lộ vẻ sợ hãi. Khoảng khắc im lặng hiếm hoi và ngắn ngủi khiến đầu óc tôi tỉnh táo thêm một chút, và tôi không thể có cách nào trút giận lên cô ta được nữa khi cô ta đang ở trong tình trạng như thế này.

- Không! Đừng có giải thích gì hết! Anh không muốn nghe thêm một lời nào nữa từ em cả! Khỉ thật, Alice!

Tôi sấn sổ bước ra khỏi căn phòng, vẫn không quên trước đó phải va vào vai Alice một cái mạnh, báo hiệu cho cô ta biết tôi vẫn còn rất giận dữ chứ chưa nguôi ngoài đâu. Tôi bước đi để lại vợ tôi dõi theo sau lưng, cúi sầm mặt xuống và lấy tay gạt những dòng nước mắt tủi thân.

- Đị* mẹ! Đị* mẹ nó!!

Tôi đóng cánh cửa cái rầm, bước ra sân vườn bên ngoài ngôi nhà. Vẫn chưa thỏa cơn tức, tôi hoa chân múa tay đá cát đá sỏi, một hòn đá văng vào cái xô sắt khiến nó đổ nhào, phát ra những tiếng loẻng xoẻng. Biết rằng Alice sẽ không dám theo tôi vào đêm tối, tôi đâm thẳng vào không gian vô định trước mắt, tôi cần một thời gian riêng tư để suy nghĩ lại cho thâu suốt.

Tôi tiếp tục tiến về cây cầu gỗ, không cần biết mình đi đâu chỉ cần biết phải tránh xa nơi này càng xa càng tốt, ngôi nhà hạnh phúc cái đé* gì chứ? Không còn người để chút, sự tức giận trong tôi đang nhảy múa loạn xạ, và tôi chẳng còn cách nào khác ngoài hành hạ những vật vô chi vô giác.

Bước trên chiếc cầu treo gỗ kêu cọt kẹt, nghe thật nhức nhối, nóng cả ruột, tôi cầm lấy một bên thành cầu được kết bằng dây leo rung lắc thật mạnh như đang bóp cổ ai đó, chân tôi đá vào mặt cầu hờ hững vô thức như ngã nhào vào không khí loãng.

Một kết nối lỏng của sàn cầu nhảy ra chắn giữa đường cơn tức giận đang đạt đỉnh của tôi. Một thanh gỗ bị tuột ra, rơi xuống mặt nước đen ngòm đặc sệt, chân tay tôi bị hụt đà và tôi phải vịn cả người vào thành cầu mới lấy lại được thăng bằng. Bỗng dưng cảm thấy tinh thần kiệt quệ, tôi mất hết cả hứng ẩu đả với tự nhiên. Giờ nhìn lại xung quang chỉ còn tôi với màn đêm vô tận, không khí lạnh lững lờ uốn éo xung quanh, xua tan ảo tưởng về một kí ức ấm áp mới đây và tôi vừa có.

Tôi rút chiếc đèn pin từ túi áo bên phải ra, ánh sáng của ngọn đèn nhỏ như mặt trời soi sáng vào bên trong hộp sọ của tôi đang chứa chất đầy sấm chớp và nham thạch. Tôi bắt đầu chậm lại, từ tốn cúi người dựa vào thành cầu, hạ bớt dần cái khí nóng đang sôi sục trong người tôi đi, thở một hơi rõ dài và thê lương.

Đây là cách cơ thể tôi làm việc, khi tôi tập trung vào hành động thì suy nghĩ phải nông cạn, và khi tôi quá mệt mỏi để làm gì nữa thì trí óc tôi sáng lên như một cái bóng đèn 100 wat. Chúa ơi, thật là một mớ lộn xộn tôi đã gây ra trong căn nhà kia, đối với Alice. Tôi cảm thấy giống như có ai cầm tay cầm chân tôi hành động, tuy vậy những gì tôi nói ra, thực sự là tôi cố ý từng chữ một, ít ra là trong khoảng khắc đó, không thể ngụy biện. Tôi đã có thể nghe cô ấy giải thích. Sao tôi không thể chịu nghe cô ấy giải thích? Tại sao khả năng nổi bật duy nhất của tôi chỉ là làm tổn thương đến số người ít ỏi còn lại xung quanh còn quan tâm đến mình? Miệng phát ra những tiếng cười chua cay, mỉa mai bản thân. Vậy tôi chỉ là thằng trẻ con - đúng như lời cô ta nói - cho rằng mọi thứ xung quanh trái đất đều quay quanh quỹ đạo của mình. Vợ tôi có lẽ cũng chẳng có quan tâm đến việc tôi có còn viết văn được nữa hay không, cô ấy chỉ cảm thấy mệt mỏi với việc phải dọn dẹp và chịu đựng những thứ đặc sản đái mà tôi văng ra, rằng cô ta chỉ muốn một cuộc sống gia đình tốt đẹp hơn nữa mà thôi. Tại sao không một lần nào trong đời tôi có thể dẹp cái tính tự phụ ấu trĩ của mình sang một bên để mang lại một chút tốt đẹp cho những người đã yêu quý và hi sinh vì tôi cơ chứ?

Khi không còn bất cứ thứ gì để chút giận nữa, sự giận dữ của tôi thay hình đổi dạng thành sự hối tiếc - mang hình dạng đẹp đẽ hơn nhưng tính chất thì vẫn thế - và mục tiêu chính để hành hạ chuyển thành cơ thể và thân xác của chính mình. Trời ạ, tôi đã một tay phá hủy chuyến du lịch hoàn hảo và hiếm có, và giờ thì tôi quá hèn hạ để đối mặt với hậu quả của nó gây ra. Tôi không dám đi xa thêm một bước nào nữa, nhưng cái tính kiêu hãnh của trẻ con ngăn không cho tôi quay lại ngôi nhà nhìn vào mắt Alice. Chúa ơi, tôi khát quá, giá như chỉ cần một chai Whisky hay bất cứ thứ gì có cồn ở đây là tôi sẵn sàng tu ừng ực, hi vọng khi tới sáng tôi thức dậy với cơn đau đầu khủng khiếp, tôi thấy thân mình lê la ở một vỉa hè hay trong công viên ở thành phố New York, và những thứ vừa xảy ra chỉ để lại ấn tượng rêu cũ như phải cách đây vài năm rồi vậy.

Giờ cái tôi chỉ có thể làm là đứng yên như tượng ở nơi đây, cảm thấy cái cách thời gian trôi qua chậm giãi thật đáng ghét.

- Alan?

Thình lình, mọi ánh điện tắt ngóm, tôi có thể nghe thấy tiếng Alice nói vọng xuống từ ngôi nhà, tiếng nói vụt lên rồi tắt ngấm đi như bị một bàn tay chụp lại.

- Alice? - tôi cảm thấy hơi lo ngại.

- ALAN! - có sự kinh hãi bật ngửa ra trong tiếng hét của Alice.

- ALAN! KHÔNG! KHÔNG!!

- Alice! - kệ xác cái lòng tự trọng đáng nguyền rủa, cô ấy đang cần tôi gấp, và tôi cần phải đến bên cô ấy ngay.

Căn nhà gỗ đã chìm trong bóng tối, mọi ánh sáng đã tắt. Tôi chạy nước rút về phía ngôi nhà, ánh đèn pin quệt đi quệt lại trên mặt đất.

- Alan! Alan! Anh đâu rồi! CỨU!

- Alice! Anh đang tới đây! Không sao đâu! Anh đang đến đây! - tôi hét lên hi vọng cô ấy nghe thấy để yên lòng, và hi vọng những chuyện đang xảy ra không phải là lỗi tại tôi.

Nhưng tôi thấy những thứ khủng khiếp xảy ra.

Tôi nghe thấy trước khi nhìn thấy chúng, sà xuống từ bầu trời đêm không xác định và kêu ré lên khi chúng tiến đến.

Tôi xoay người né tránh vừa kịp lúc trước kia một đám đặc quánh đâm thẳng vào người. Trong một khoảng khắc, tôi nhìn trừng trừng vào hàng ngàn con ngươi chết chóc, những viên ngọc trai đen cuồn cuộn bên trong bóng tối.

Tôi giơ đèn pin lên, và đàn quạ - hay bất cứ con vật gì - nổ ra những đường chỉ sáng như pháo hoa. Lông chim cháy, biến thành tro. Tôi không thể nghe thấy tiếng sợ hãi của mình bên dưới dày đặc sự tối tăm của chúng.

Nhưng tôi vẫn giữ tốc độ đều, tính mạng Alice giờ quan trọng hơn cả. Cánh của gỗ đã ở ngay trước mặt.

- Không! Alan! CỨU EMMMM...

Tôi cố hết sức với đến nắm đấm cánh cửa nhanh hết mức có thể, cảm thấy cánh tay mình yếu đuối, vội vàng đẩy tung cánh cửa vào.

- ALANN...AAAA...

Không thấy người, và tiếng thét thất thanh đã vắt kiệt máu khỏi trái tim tôi. Tiếng đồ gỗ bị nát vụn, tôi nhìn ra cánh cửa dẫn ra sau nhà, cửa đã bật mở, và lan can của nó đã bị gãy giống như một vật lớn bị ném qua nó xuống hồ.

Mau trong tiến tới cho lan can, tôi chiếu đèn xuống mặt hồ xa xăm kiểm tra, và nhanh chóng tôi thấy được thứ tôi tìm, tìm được thứ tôi sợ phải thấy.

- Ôi, không!

Một đám tóc sáng màu đang chìm dần xuống đáy hồ, bị nước đen tối nuốt dần dần khỏi tầm mắt.

Tôi phải cứu Alice ngay. Không chần chừ, tôi nhún chân, hớp lấy hơi thở, uốn người lao thẳng xuống hồ nước không xác định.

Và không còn gì nữa. Mọi thứ cứ tối đen như không bao giờ dứt, như mang một sự sống kinh dị vĩnh cửu.

Tôi thoáng thấy những chữ cái, mực đen, khoảng trắng ngà trống rỗng, gặp một người lạ thân quen. Một giọng nói phụ nữ, và một giọng nói khác nữa.

- Làm tiếp đi...

- Alan... TỈNH DẬY...

Đôi mắt tôi mở to ra khi sở hữu lại sự tồn tại của mình, và cả cơn đau đầu nữa. Tôi lấy ta sờ lên trán, phát hiện dòng máu lạnh đang rỉ ra từ trên đầu mình, tôi rên lên đau đớn và nhìn lại xung quanh, giáo giác tìm kiếm.

- Alice?
Tỉnh lại trong một cái ôtô bị tai nạn đang bốc khói khiến tôi có cảm giác tôi vừa tỉnh lại từ một cơn ác mộng và sa vào một cơn ác mộng khác. Tôi lê cái thân xác vô dụng của mình trên ghế ôtô, đẩy cửa ra và ngã khuỵu xuống nền đất lạnh tanh trước khi chiếc ôtô đang bập bênh trên mép vực kết thúc nốt bất cứ thú gì tôi còn lại.

Tôi động não nhưng đó là bất khả thi, tôi không tài nào nhớ nổi tôi đến đây bằng cách nào, chuyện gì đã xảy ra, tất cả những điều mà tôi còn biết là có chuyện gì đó kinh khủng đã xảy ra cho Alice.

Lồm cồm bò dậy, thứ đầu tiên tôi cần làm là xác định xem chuyện gì đã xảy ra. Tôi với lấy chiếc di động trong túi áo, nhưng vô ích, nó đã hết pin. Sau khi nhìn xung quanh một hồi, tôi ngán ngẩm khi nghĩ đến mình phải tìm sự trợ giúp bằng chân giữa cánh rừng bạt ngàn trong đêm tối mịt mù như thế này.

Tôi lấy một tay phủi phủi bộ quần áo rách tươm đang mặc trên người cho có lệ, tôi phát hiện ra chiếc ôtô nhàu nát trước mặt mình chính là chiếc xe van đỏ chúng tôi dùng để đi đến hòn đảo đó, đảo Chân Chim. Cánh cửa sau xe đã bật mở, và các món đồ đạc của Alice ở đằng sau bị văng tung tóe ra mặt đường. Trong số các món đồ đạc đó có một cuốn sách, "Căn bệnh khó xử của các nghệ sĩ" được viết bởi bác sĩ Emil Hartman. Nhìn thấy quyển sách khiến cho trí óc tổn thương của tôi gợi lại kí ức về cuộc cãi vã với Alice. Tôi không thích nổi quyển sách, và tôi cũng không thích nụ cười tự phụ của cái gã được in trên bìa của nó.


Những tiếng sóng rì rào xung quanh tai tôi, và nếu không phải nhờ những ngọn núi cao sừng sững trước mặt thì tôi đã tưởng tượng mình đang ở Hawaii, tự thưởng cho mình một chuyến du lịch để mừng thắng lợi cuốn sách mới được xuất bản thành công như hai năm trước vậy, nhưng những sự kiện kinh khủng xảy ra với Alice kiến lương tâm tôi méo mó, kéo tuột tâm trí khỏi thiên đường viễn tưởng trôi xuống hiện thực trần trụi. Có chúa mới biết điều gì đã xảy ra cho Alice, tôi không biết cô ấy còn sống hay không nhưng cô ấy đang sợ hãi, cực kì sợ hãi, tôi cảm thấy một ngọn lửa thúc giục bản thân tìm lại Alice nhanh hết sức có thể.

Chiếc ôtô nhăn nhó kia đã phục vụ tôi hết sức, tôi cho là thế, và bây giờ tôi chi còn cách đi bộ, nhưng đi đâu? Xác định phương hướng giờ là mục tiêu trước mắt của tôi. Để lại đống lộn xộn tôi gây ra lại phía sau, những mảnh vỡ đèn ôtô, hàng rào gỗ nát vụn, đường dây điện bị giật đứt, tôi tiến về phía mép vực để nhìn ra xung quanh. Có vẻ như chiếc ôtô của tôi đã bị phi thẳng từ một con đường phía trên sườn núi và lao xuống một con đường khác, nhìn lại con đường hủy diệt mà nó đi qua, tôi cảm thấy quá may mắn còn sống sót, chỉ bị vết thương nhẹ ở đầu.

Từ sườn núi cao tỏa ánh mắt xuống phía dưới thung lũng từ khắp cả mọi phía, trong khi trí óc hoang mang và trống rỗng chẳng biết ta đang ở đâu cả. May mắn thay không cần quan sát quá tỉ mỉ, tôi phát hiện ở phía bên kia thung lũng, bên cạnh một con đường cái xám cắt dài một vết sẹo lên mặt đất tự nhiên, nơi đó tôi có thể thấy những biển quảng cáo và biển hiệu phát sáng bằng đèn nêon mà không thể nhầm lẫn là của một trạm xăng dành cho những phương tiện qua lại ở chốn heo hút này. Xem ra trạm xăng đó là cơ hôi tốt nhất của tôi, họ có thể có điện thoại ở đó cho tôi mượn sử dụng, vậy là sẽ tốn một cuộc đi dạo dài qua cánh rừng rậm rạp để tới được đó.

Nhưng còn cách nào được nữa, nếu mọi sự chỉ phụ thuộc vào tôi thì tôi có thể tìm một đám lá khô nào đó đánh một giấc cho đến sáng rồi mới bắt đầu hành trình. Nhưng thời gian không đợi ai cả, và nhất là Alice không thể chờ tôi nghỉ ngơi thêm giây nào hết, đồng hồ sinh học của tôi cho tôi biết tôi đã bất tỉnh một thời gian khá lâu, giờ tôi phải chạy đua để bù lại nó.

Con đường mòn xung quanh toàn bụi cây rậm rạp, khá là lạ đối với một khu rừng lá kim ở miền hàn đới, rồi tôi sực nhớ ra đây chính là một trong những lí do khiến Alice lựa chọn nơi này cho chuyến du lịch. Chúa ơi, tôi cảm thấy tội lỗi kinh khủng khi đã suy diễn quá nặng lời với Alice khi còn ở trong ngôi nhà kia, có trời mới biết liệu tôi có gặp lại được cô ấy không.

Để dành nó cho lúc khác - tôi tự nhủ với mình, giờ tôi cần phải tập trung vào vấn đề trước mắt. Phương hướng của lộ trình tôi đang đi có hơi chút bất ổn, nó hoàn toàn ngược lại với hướng của trạm xăng, nhưng ít nhất nó đang dẫn xuống dưới, đối với một người lầm đường lạc lối như tôi bây giờ đã là quá đủ.

Sau lưng tôi những tiếng ken két của kim loại nghiến răng vang lên trong đêm tối, tôi quay người lại chỉ để nhìn thấy chiếc ôtô bị tai nạn của tôi mất thăng bằng, mui của nó chúc cuống và cả thân xe trượt khỏi mặt đường, rơi xuống không gian mịt mù phía bên dưới.

Tôi căng người sẵn sàng chờ đợi một tiếng nổ lớn khi chiếc xe rới xuống tận đáy vực, những không, không có tiếng động nào ngoài một tiếng xoảng thất thanh của chiếc ôtô bị nghiền nát, giống như nó đã bị rừng núi nuốt chửng mất vậy, xem ra ôtô xe máy không dễ dàng nổ tung như quả bom giống như những gì người ta cố gắng biểu diễn trên phim ảnh.

Sau 15 phút cuốc bộ ròng rã, cuối cùng tôi cũng xuống được tới chân núi, nhưng tình hình có vẻ không sáng sủa lắm, nơi đây rừng cây chằng chịt hơn nữa và những con đường mòn thì mờ nhạt, tỏa ra nhiều hướng khác nhau. Tôi chọn một con đường có vẻ dẫn tới hướng của cái trạm xăng tôi vừa nhìn thấy, dựa theo cảm giác. Khả năng tìm đường của tôi khá hữu dụng khi ở các thành phố, từng khối từng khối nhà một và tôi vẽ ra trong đầu một bài toán để tìm lời giải, những trong cánh rừng này thì phức tạp hơn gấp nhiều lần, giống như chuyển từ môn hình học hai chiều lên thẳng không gian ba chiều, trong lòng tôi có chút bơ vơ và vô dụng.

Ở trong cánh rừng này nơi nào cũng giống nơi nào, không biết có phải tôi đang đi vòng tròn hay không nữa. Căng hai nhãn cầu của mình ra hết mức, tôi cố gắng nhận biết và phân biệt, tìm ra những điểm nổi bật để ít ra còn biết mình đang đi thế nào.

Nhưng ô kìa! Một thứ ngoài ý muốn tôi không hề chờ đợi. Lấp loáng qua những lá kim nhọn hoắt, thân cây già nua sần sùi và những sương mù dày đặc, một nguồn sáng tỏa ánh mạnh mẽ của nó, trắng lóa và uyển chuyển không đứng yên. Nó sáng đến mức mà khi tôi mừng rỡ chạy lại, tay tôi phải giơ lên che bớt không cho ánh sáng chiếu trực tiếp vào mắt, có thể tôi gặp may, một người kiểm lâm đang đi tuần khu rừng hay một người địa phương sống gần đây chăng? Đột nhiên nhớ lại Rusty ở quán cà phê, tôi mừng vì kí ức của tôi vẫn hoạt động bình thường.

- Xin chào?

Không có tiếng trả lời, tôi tiến lại gần hơn một cách chậm rãi với thứ ánh sáng đó, hi vọng không làm bất cứ ai phải giật mình hoảng sợ.

- Xin chào? Có ai ở đây không?

Tới một thời điểm nhất định, khi tôi tiến tới đủ gần, ánh sáng chợt trôi đi như xấu hổ không dám đối mặt với tôi, dần dần tuột khỏi thị giác rồi tắt lịm vào cõi hư vô. Nó đã từ biệt nhưng để lại một lời chào, tôi có thể cảm thấy ngọn gió thổi không khí trong lành và mát lạnh xung quanh tôi, hóa cùng một tiếng động nhỏ giống như tiếng của người thở máy ôxi, nếu không để ý kĩ thì sẽ không nghe thấy. Liền tiếp có thứ gì đó lượn xuống từ không trung, xoay tròn trong không khí như cánh diều, nhẹ nhàng và dịu dàng như chiếc lá khô hạ xuống mặt đất trước nơi tôi đứng.

Tôi cúi cuống nhặt nó lên khi nhận ra nó là những tờ giấy trắng với chữ viết trên nó, tò mò chưa biết những gì mà nó hàm chứa.

Hai tờ giấy này có vẻ là được rút ra từ một tập bản thảo được đặt nhan đề "Điểm khởi hành". Mồm tôi há hốc với sự ngạc nhiên khi đó cũng chính là tiêu đề mà tôi dự định đặt cho cuốn truyện dài tiếp theo mà tôi chưa bao giờ bắt tay vào làm của mình. Chính tôi, Alan Wake, được đặt làm tên tác giả. Tôi chưa từng viết những thứ này, không thể nào nhớ nổi đã từng viết những chữ này, nhưng đây đúng là kiểu văn phong của tôi, và chữ "k" hơi mờ của nó do thanh chữ cái trên chính máy đánh chữ của tôi hơi bị mòn.

"Người đàn ông quay mặt lại đối diện với tôi, khuôn mặt ông bị bao phủ bởi thứ bùn đen đặc quánh. Có chút khó khăn để nhìn thấy ông ta với nền của cánh rừng đen hun hút ở phía sau. thứ mà đã bao quanh chúng tôi, nhưng ánh rìu bạc mà ông tá đang cầm lấp lánh trong ánh mắt, lấp lánh cùng với máu nạn nhân cuối cùng của ông ta.

Ông ta cười toe toét điên loạn. Bóng tối mang sự sống, trôi nổi bóp méo dáng hình của ông ta.

Giống như một viễn cảnh trong cơn ác mộng, nhưng tôi vẫn còn thức giấc."


Tôi nhìn ra xung quanh, ngọn gió thổi giờ trở nên lạnh toát khiến tôi sởn gai ốc.

Lấy tay sờ soạng lên tờ giấy, cảm giác thấy cái mặt sần sùi của nó, rồi lại đưa tay lên sờ mặt sờ cằm để những ngọn râu lởm chởm lâu ngày không cạo cứa vào tay, tôi tự nhủ những gì đang xảy ra liệu có phải là sự thật và các giác quan thần kinh của tôi vẫn hoạt động bình thường? Liệu có phải tôi đang mơ? Mọi thứ trông như thật, cảm giác như thật, làm sao tôi có thể phân biệt giữa giả và thật? Tôi đã nghĩ đến việc tự nhéo vào má mình, nhưng rồi ngay lập tức cảm thấy nực cười.

Gấp mảnh giấy lại làm ba, tôi đút nó vào trong túi áo. Giờ thì thứ đang xảy ra có là thực hay hư cũng không quan trọng, nếu là thực, thì không vấn đề gì, nếu là hư, thì những quyết định của tôi cũng chẳng ý nghĩa. Trong một cơn ác mộng, mọi quyết định ta đưa ra đều là sai lầm, và những tờ bản thảo này, giống như chiếc nhãn được gắn trên những cái bình ma thuật phóng to thu nhỏ khi Alice đi xuống hang thỏ vậy, "Uống tôi đi!" - nó viết - và bắt đầu một đêm điên cuồng của những góc tối trong tâm hồn.

Tôi ước gì tôi chưa từng nhặt được mảnh giấy đó. Giờ với mỗi bước tiến về phía trước, mảnh giấy ở túi áo trong như cựa quậy, thiêu đốt mạn sườn, ngắc ngoải nhắc cho tôi nhớ về sự kinh hãi có thể xảy ra. Dù rằng tôi là một nhà văn viễn tưởng, nhưng bản thân tôi lại không cho rằng những thứ siêu nhiên là có thật và chỉ là một công cụ con người sử dụng để thỏa mãn tâm hồn. Nhưng tại đêm nay, tờ giấy này, nội dung nó viết và cảnh vật xung quanh tôi gọi lên nhưng câu hỏi trùng hợp và thèm khát câu trả lời. Những sự trùng hợp liên kết lại, nắm tay nhau phóng đại lên sức mạnh của sự thật bị che dấu. "Sự trùng hợp là con quỷ giơ nanh vuốt, thèm thuồng sự lạc thú của đáp án thực sự." - Alex Casey đã nói vậy trong tác phẩm của tôi viết.

Cánh rừng tôi đi qua đã trở nên thưa thớt, xuất hiện giữa nó là một đường mòn mà tôi đã rảo bước dọc theo lúc nào không hay, và cũng chính là tiếng cưa gỗ và ánh đèn tròn lóe sáng là thứ đã thức tỉnh tôi dậy. Tôi đã tìm thấy một xưởng chế biến gỗ, tọa lạc nơi bìa khu rừng thông mà tôi vừa thoát khỏi, trông có vẻ nó vẫn còn người đang làm việc. Có lẽ tôi không cần phải cuốc bộ thêm một quãng đường dài để tới cái trạm xăng mà tôi thấy trước đây nữa, thế là tốt, thời gian là vàng bạc.

Có một bóng người lướt nhanh qua khung cửa sắt của khu xưởng.

- Có ai không giúp với! Tôi vừa bị tai nạn! - tôi reo lên.

Không có một động tĩnh, tiếng tôi vọng ra từ khu rừng như bị nuốt chửng.

Đáng lí bình thường ra thì tôi cố thử gọi thêm một lần nữa, nhưng tôi nghĩ nếu mình chạy lại tự tìm sự giúp đỡ sẽ nhanh hơn, hơn nữa, dường như đang có một tảng băng lạnh lẽo chặn lấy cổ họng, tôi có cảm giác ái ngại khi phải phát ra tiếng động lớn.

Tiến sát tới chiếc cổng sắt của khu xưởng, hơi lạ, chiếc cổng không được đóng chặt mà hở ra một khe hở nhỏ, luồn người qua đấy thế là tôi đã vào được bên trong. Với những bóng đèn tròn vẫn bật và một số máy móc vẫn đang chạy, thế nhưng tôi lại không thể tránh khỏi cảm giác nơi này bị bỏ hoang, không chỉ bởi sự hiện diện của không người nào, nó còn là sự tĩnh lặng của ngọn gió, sự vô hồn của máy móc đã tạo nên cảm giác ấy. Tuy nhiên tôi vẫn vội vã chạy xung quanh tìm kiếm, đứng một chỗ và tự nhận định cũng chẳng có ích gì.

Giờ thì cái mục tiêu mà tôi đảo mắt tìm kiếm không giống như một dáng người nữa, thay vào đó thực dụng hơn, tôi ước ao tìm thấy một chiếc điện thoại, một cái đài liên lạc radio hay bất cứ thứ gì có thể liên lạc với xã hội văn minh bên ngoài. Nhưng vô ích, các nơi tôi cho là có khả năng nhất, các khu nhà tạm và văn phòng đều đã khóa trái, mọi việc có vẻ đã bớt sáng sủa. Lựa chọn còn lại của tôi là tiến vào khu vực chế biến gỗ, hi vọng ở đấy họ có một cái bốt điện thoại cố định hoặc nếu tôi may mắn, có thể ai đó sẽ để quên một chiếc điện đàm. Nếu tất cả các phương án trên đều không khả thi thì có lẽ tôi đành phải quay lại đây tìm cách phá cửa vào mà tìm kiếm.

Mùi hương nhựa thông thoang thoảng, tỏa ra từ giọt máu thơm đã đông đặc rỉ ra trên những cái xác, từng chồng từng chồng những thân gỗ cao to xếp thành từng núi một, cao hơn đầu người và sắp xếp thành một trận mê cung đơn giản có quy luật. Xung quanh những chiếc rìu và máy cưa bị bỏ lại ngổn ngang, cắm hàm răng sắc nhọn của chúng vào gốc cây trần trụi rải rác khắp nơi. Cứ từ từ mà tìm, đêm còn dài, tôi còn cả đống thời gian cơ mà? Đấy là chưa kể Alice cũng mới chỉ mất tích, chìm xuống làn nước đen thôi?

Tiếng cọt kẹt của máy móc giữ cho tinh thần tôi chút căng thẳng, giữ cho bản thân tôi duy trì cảnh giác với nhất cử nhất động xảy ra xung quanh. Và như tôi vừa mới nhận ra thôi, lẫn trong tiếng leng keng của kim loại va đập, có tiếng nghe như tiếng rìu không đều đặn vang lên. Sự tò mò lèo lái đôi chân, và khi tiếng động đó dần dần lớn lên đến mức có thể nghe rõ ràng, tôi vui mừng cho rằng có lẽ đó là một người công nhân nào đó làm việc muộn. Sự tiếp xúc với một con người bằng xương bằng thịt có thể khiến an lòng nhiều người, nhất là khi buổi đêm mịt mù cùng những kí ức gián đoạn khiến trí óc tôi mục nát như quần áo của những kẻ ăn xin.

Anh ta đây rồi, một người đàn ông đang đứng thẳng quay lưng lại phía tôi, quần áo anh ta nhem nhuốc giống như của những tay thợ cơ khí: bộ quần áo bảo hộ bằng cotton, một chiếc rẻ bẩn thỉu dầu mỡ gắt ở túi quần sau, tất cả làm cho cơ thể anh ta liền làm một khối đen nhờ nhờ, khó khăn lắm tôi mới nhận dòng chữ "Stucky" thêu trên lưng áo bằng chỉ đỏ, và tôi tự hỏi liệu đó có phải là người chủ cho thuê phòng tôi chưa từng được gặp không?

Cuối cùng hóa ra tôi đúng.

Nhưng tôi không có chắc liệu điều đó có đáng tự hào không?

- May quá! Anh gì ơi? - tôi thở phào lên tiếng - vừa mới xảy ra tai nạn, tôi cần giúp...

- Xuất hiện quá trễ! Anh ta đã mất số tiền!! - có gì đó không ổn trong tiếng nói của người đó, cảm giác bất an cứ gia tăng trong tôi với mỗi bước chân lại gần.

- Hả?... ờ mà tôi cần... - giọng nói của tôi tắt lịm trong cổ họng khi phát hiện ra chiếc rìu trong tay người đàn ông ấy đang cắm sâu vào một hình dáng vô hồn đang nằm trên mặt đất.

Thình lìng như nhận ra sự hiện diện của kẻ lạ mặt, gã đàn ông lạnh lùng rút cây rìu ra bằng bạo lực, tiếng lưỡi rìu vang lên sắc xảo trong không khí như đang cứa vào cổ họng.

- Nhà nghỉ cho thuê thượng hạng tại BRIGHT FALLS!!

Tôi giật mình lạnh sống lưng, không có một chút hiếu khách nào toả ra từ người đàn ông này. Một cái xác! Một cái xác chết! Gã đàn ông kia vừa rút rìu ra từ một cái xác chết! Máu tóe ra từ miệng vết thương sâu hoắm, chất lỏng chạy lên gấu quần đen xì của kẻ đang đứng.

- Cái đếch gì...? - bàn chân tôi rụt rè lùi lại, tay giang lên trước như muốn đỡ lấy nhát rìu mà hắn ta muốn bổ vào tôi.

Nhưng hắn không làm vậy. Đầu hắn bắt đầu những cử chỉ giần giật, nhưng hắn luôn che dấu đôi mắt không bao giờ trực tiếp ngẩng lên. Giọng nói của hắn giận dữ, nhưng thất thường, lúc thì the thé, lúc thì như muốn bóp nghẹt cổ nghười nghe.

- Carlll... STUCKY, rất VUI được gặp... TIỀN ĐẶT CỌC... thuê phòng trước... KHÔNG hoàn trả!!!

Chiếc rìu từ tay phải hắn được nâng lên, nặng nề đầu kia của nó được đỡ bằng tay trái. Nếu ngay bây giờ đây, hắn định quay lưng lại bổ cho tôi một nhát chém thì chắc tôi không thể tránh nổi. Giống như một cái máy tính bị tràn bộ nhớ, cơ thể tôi cứng như đá và hoàn toàn lạc lõng trước những gì xảy ra trước mắt.

- Công bằng, rộng lượng! - đầu hắn dường như rung động theo từng chữ thốt ra.

- CÔNG BẰNG và RỘNG LƯỢNG!!! - nhanh như một con sóc, hắn chuyển người. Tôi kinh hãi tưởng hắn định tấn công mình, vội vàng giơ tay lên. Nhưng chỉ trong chốc lát hình dáng đen thui ấy lọt vào điểm chết của con ngươi, khi tôi hạ tay xuống thì đã chẳng còn ai ngoài tôi đứng đó cùng với cái xác vẫn rỉ máu trên mặt đất.

Hối hả nhìn ra xung quanh, không gian lạnh lẽo và tĩnh lặng, xem ra thứ đáng lưu tâm nhất chỉ là cái xác kia. Tôi lại gần cúi xuống để xem cho rõ.

Đã quá muộn. Dù người đàn ông này là ai, từ đâu đến thì cái xác cũng đã lạnh tanh, anh ta đã chết, chắc phải đã được khá lâu. Tôi bất chợt nhận ra cái xác cũng mặc trang phục giống hệt gã vừa nãy: bộ quần áo công nhân bằng coton nhem nhuốc dầu mỡ, chiếc rẻ lau cáu bẩn rơi bên cạnh , thậm chí còn có cả dòng chữ Stucky được thêu bằng chỉ đỏ, cùng một vóc người, thứ duy nhất khác biệt là nhìn tổng thể anh ta trông sáng sủa hơn tên ban nãy nhiều, dù tôi không thể nào biết lí do tại sao. Riêng về dung mạo tôi không có đủ dũng khí để nhìn vào, mà cho dù tôi có đi chăng nữa thì chẳng qua cũng là một khuôn mặt lạ lẫm khác mà thôi.

- CÔNG BẰNG RỘNG LƯỢNG!!!

Tiếng gào thét trong đêm của gã điên kia làm tôi chợt nhận ra hắn chưa đi đâu xa, khi nhìn vào những miền bóng tối đang trải dài trên mặt đất xung quanh, tôi có thể tưởng tượng thấy đôi mắt đỏ ngầu của hắn đang trừng mắt nhìn tôi từ sau gáy.

Tôi vội vàng đứng dậy, gấp gáp tìm cho mình một con đường để thoát khỏi nơi này. Những con đường ngoằn ngèo giữa nhưng thân gỗ chất đống trở nên phức tạp hơn bản chất vốn có khi mình bị theo đuổi bởi một tên sát nhân.

- CARL STUCKY! Rất vui được gặp MÀY!!!

Tiếng nói của hắn vẫn còn đó, nhỏ như đang ở chốn xa xăm nhưng phát ra từ khắp mọi hướng, mang một sự nguy hiểm tiềm tàng không tuyên giảm. Mắt tôi đảo không ngừng, cố giành lấy cho sự hoảng sợ của mình một hình dáng không mơ hồ như thế này.

- Nhà nghỉ... THƯỢNG HẠNG!!!

Tôi thon thót vừa chạy vừa ngoái đầu ngoái cổ giáo giác khắp nơi, dường như tôi vừa cảm thấy có tiếng chân ở sau lưng, nhưng rồi lại có tiếng thùng xô đổ loẻng xoẻng phía bên trái, rồi tiếng bụi cây xào xạc bên phải...

Tiếng đổ vỡ ở phía bên trái! Âm thanh rầm rầm phát ra từ những vật nặng đang rơi xuống đất, và có rất nhiều! Những thanh gỗ to bị mất vật cản, đang đẩy nhau lăn xuống dốc, về phía của tôi. Lùi lại một bước trên đường đi của chúng, cái động lực tác động lên không lớn không gây ra một mối họa to tát lắm: chúng dừng ngay lại nằm im khi chỉ lăn được có hơn một mét. Tôi thầm cảm ơn vận may của mình và hững hờ bước qua chúng chạy đi tiếp. Giống như hắn chỉ cảnh cáo tôi theo cách những bà mẹ trừng phạt đứa con.

- Bright Falls! - tôi có thể thoáng thấy cái bóng của hắn nhảy qua nhảy lại giữa những chồng gỗ, trên đầu tôi, miệng gào thét - ... MÀY đến quá MUỘN!!!

Không còn tí thời gian nào để lãng phí. Trước mặt tôi là ánh đèn phát ra từ bên trong chiếc cửa ra vào khép hờ của một căn phòng nhỏ, chính là ánh sáng mà tôi đã thấy từ trước. Ở giữa nơi chật hẹp này, tôi là mồi ngon cho móng vuốt của hắn, ít ra khi ở trong đấy, tôi có thể tự nhốt mình lại, có thể an toàn hơn.

Ý định của tôi bị hắn thấu suốt. Một hình dáng đen ở trên mái nhà mà tôi tưởng là ống khói, bất ngờ cử động và đứng thẳng dậy, mắt hắn ánh lên sáng quắc nhìn tôi từ trên mái nhà khi tia chớp trên bầu trời vần vũ lóe lên.

- Đã mất... tiền ĐẶT CỌC!

Trong một cái nháy mắt, cơ thể hắn đã chạm đất, đứng chắn giữa tôi và cánh cửa kia, không chần chừ, ngay lập tức chiếc rìu của hắn vung lên, bổ từ trên đầu xuống một cách mạnh mẽ. Tôi nhìn thấy lưỡi rìu bạc lấp lóe, hất những tia đỏ vón cục của máu về phía ánh mắt.

- Còn một điều... CUỐI CÙNG!...


Tôi nhanh nhẹn chuyển người tránh lưỡi rìu chết chóc, cảm giác ngọn gió chém qua lông mày, rồi lập tức tăng tốc chạy vụt qua Stucky với cái rìu lún sâu dưới đất. Tim tôi lên cơn động kinh khi tôi lướt qua gã, không cần một chút cử động, tôi có thể cảm thấy ánh mắt hắn dán chặt vào tôi khi tôi đi qua, một cái nhìn thù hận và thèm máu tươi.

- Chào mừng tới ...

Tiếng kim loại cứa lên sắc lạnh cùng những thớ đất bị xới tung cho tôi biết hắn đã đuổi theo tôi sát nút, nhưng tôi đã chạm được vào nắm đấm của cánh cửa...

- ...Bright FALLS!!!

Kéo thật mạnh nắm đấm, cánh cửa đóng lại một cái rầm. Cùng lúc đó, tiếng rìu ghê rợn đâm xuyên qua lớp cửa gỗ, kéo theo nửa lưỡi rìu lồi vào trong, ngay sát mặt tôi khi tôi đang dùng cả cơ thể áp chặt vào để chắn cánh cửa.

Ngón tay cái bấm lấy cái chốt nắm đấm, tôi nhanh chóng bật người ra, tránh xa lưỡi rìu đáng sợ. Trong một khoảng khắc tôi đã tưởng chừng lưỡi rìu đã bất động, nằm yên trên cánh cửa, nhưng rồi tiếng gỗ kêu răng rắc, và miếng kim loại được nhổ phựt ra ngoài.

Tạm thời tôi đã cầm chân được hắn ở ngoài, nhưng tôi cần phải nghĩ tới bước tiếp theo để thoát khỏi đây ngay, chỉ cần vài giây nữa chắc Stucky sẽ bổ vỡ được cánh cửa như Nicholson trong "The Shining".

Tôi chợt nhận ra ánh sáng của cây đèn trần đã giúp tâm trí tôi ổn định hơn nhiều, nhanh tay chộp lấy cây đèn pin nhỏ được đặt dựng đứng trên bàn, thứ đồ vật này sẽ giúp đỡ được cho tôi rất nhiều đối phó với tình huống, nếu như linh cảm của tôi là đúng.

Tôi vẫn còn nghe thấy tiếng của Stucky ngoài kia, lảm nhảm những câu lung tung vô nghĩa, dù tôi chưa được mặt đối mặt với Stucky lần nào, nhưng tôi chắc chắn bóng đen kia không còn là Stucky "con người" nữa, có thứ gì đó phi logic và cực kì sai trái.

- Trong thời gian QUÝ KHÁCH lưu lại, chúng tôi KHUYÊN nên thử qua ĐI BỘ leo NÚI, rất được ưu THÍCH! Không những cải thiện tình hình sức khỏe... MÀ CÒN một mũi tên GIẾT hai con chim: quý khách có thể vừa NGẮM quang cảnh, vừa KIỂM SOÁT mức độ cholesteol ổn định cùng một lúc!

Tiếng nói vang vọng của Stucky bắt đầu trở nên phiền nhiễu nhiều hơn là đáng sợ.

Nghĩ đến việc giờ phải chạy ra ngoài, tôi cảm thấy vô cùng ái ngại, nhưng đồng thời tôi cũng không thể ở lì trong này quá lâu được. Dấn thân vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, tôi ước gì mình bây giờ có được một sự giúp đỡ nào đó thay vì phải một thân một mình đối mặt.

Căn phòng này là một kiểu văn phòng cá nhân nhỏ, với bốn bức tường là những tấm lợp nhôm được dựng tạm bợ, dựa vào cái tủ quần áo treo bộ đồ bảo hộ và những chiếc mũ bảo hiểm cứng màu cam, tôi đoán chủ sở hữu căn phòng này là một người công nhân, những thứ trang phục đó trông khác hoàn toàn với thứ gã Stucky đang mặc. Và ở kia cuối góc nhà, chiếc giường ngủ đơn sơ bằng gỗ tái chế nhỏ bé, đối diện với một chiếc bàn làm việc cơ bản cũng làm bằng gỗ, trên nó là bút thước các đồ dùng linh tinh cùng với một cái điện thoại bàn.

Một cái điện thoại! Tôi không ngờ cái mục đích mà tôi tìm kiếm lại có thể đạt được một cách tình cờ như vậy! Háo hức tiến lại xem xét, tôi nhấc ống nghe lên. Có tín hiệu! Như người chết đuối vớ được cọc, tôi vôi vàng quay ngay số máy khẩn cấp đến trụ sở cảnh sát địa phương.

Một giọng nam trầm ngái ngủ cất lên từ phía bên kia đầu dây.

- Oáppp... sở cảnh sát Bright Falls xin nghe. Xin cho biết anh cần gì...

Đứt đoạn. Những tiếng bíp bíp liên tục ré lên từng hồi trong ống nghe, cùng lúc đó tiếng răng rắc trên mái nhà ném xuống hai đoạn dây điện lủng lẳng hãy còn tóe lửa.

- Alô? ALÔ!!? - những nỗ lực cố gắng tuyệt vọng của tôi tắt ngúm khi qua cửa sổ tôi có thể nhìn thấy hai cây cột điện phía bên ngoài bị đốn ngã, giờ đây đến điện trong ngôi nhà cũng không còn nốt. Nỗi lo sợ tên thần kinh kia sẽ nhảy vào căn phòng bất kì lúc nào không được thực tế cho lắm, khi mà tôi nhìn thấy thứ gì đã làm ngã cây cột điện, và tai dỏng lên nghe tiếng gào rú quái vật của máy móc.

Một chiếc xe ủi vàng to lớn đang rầm rầm tiến tới phía tôi, chiếc càng nhọn hoắt như cái răng nanh của nó ngấu nghiến mọi vật trên đường đi, thứ nhỏ bị nghiền làm mảnh vụn, thứ to hơn bị biến dạng không thành hình, luồng khói nó thải ra cùng với hai cái mắt đèn pha đỏ lừ, trông như con nó đang ngậm lửa trong cuống họng, phả ra luồng khí nóng đằng đằng sát khí. Vào chính cái lúc tay tôi chạm nắm cửa định tẩu thoát ra ngoài, nó húc cái hàm kim loại vào chính giữa nơi tôi đứng. Căn phòng cơ bản giống như một cái công ten nơ di động, dễ dàng bị nhấc bổng khỏi mặt đất, cùng với tôi như con kiến mắc kẹt trong cái hộp đồ chơi. Lăn tròn, các đồ vật bên trong cùng tôi mất trọng lượng, va đập và bay toán loạn vô phương, tôi có thể nhìn thấy ánh sắc lóe lên từ những kìm, cưa và kéo bị cho vào máy xay nơi tôi đang mắc kẹt, tôi cố gắng bám vào cái cửa sổ đã vỡ toan, một mảnh kính lia qua gò má, cắt sâu vào da thịt khiến tôi nghiến răng lại.

Rồi mọi thứ bỗng tạm thời yên ổn, chỉ trong chốc lát. Như một bước chuẩn bị cho sự thăng hoa của hỗn loạn, thứ duy nhất tôi còn cảm thấy tiếp theo là căn phòng tiếp đất giật lên một cái thật mạnh, tôi mất đà, bàn tay vô hình của quán tính kéo giật xuống nền đất, đầu đập phải cái gì đó, sự tỉnh táo như thế trôi tuột khỏi, tôi đã ngất đi một lúc, vẫn còn kịp nghe một tiếng rơi vỡ lớn ở đằng xa phía dưới.

Trong giấc mơ, tôi đang lặn dưới một lòng hồ yên tĩnh, có thể thở dưới nước, tôi bỗng nhận ra một cô gái giống Alice đang với tay cho tôi từ bên dưới. Tôi muốn giơ tay ra nắm lấy, những cơ thể vô dụng trôi bồng bềnh trong thứ chất lỏng bao quanh không thể hoạt động nhanh được. Ánh mắt dõi theo cánh tay hờ hững chậm chạm di chuyển, ngọn lửa suốt ruột trong lòng đun sôi làn nước, nhưng tôi không thể làm gì hơn. Có thứ gì đó thu hút sự chú ý của tôi, nhìn xuống Alice, tôi có thể thấy cô ấy đang nghẹn nước, những bọt không khí trồi ra khỏi mép nổi lên như tên bắn. Trong đống bòng bong hỗn độn ấy, tôi chợt thoáng thấy phía dưới Alice có một khuôn mặt trắng bệch, và chỉ có mỗi khuôn mặt, trông như chiếc đầu lâu lơ lửng. Thứ đó có vẻ như đang kéo Alice xuống khi cô ấy dần dần ngày một xa hơn, giống như trong một cảnh quay chiếu chậm. Bỗng đột ngột không báo trước, cả Alice và cái đầu lâu vụt đi xuống đáy hồ với tốc độ không tưởng, bị bóng đêm nuốt chửng, chỉ còn mỗi mình tôi bơ vơ trôi nổi giữa lòng hồ vô định, không còn biết đâu là trời là đất. Tôi hít thở chầm chậm bình thường, tựa như lòng hồ này được chứa đầy dưỡng khí, chỉ duy nhất không còn biết mình phải làm gì?

Không hề báo trước, làn nước lạnh giá bắt đầu tràn vào mũi, vào họng tôi. Tôi cố gắng nín thở giữ cho mình số không khí ít ỏi, nhưng lượng nước tràn vào khiến tôi phải ho ra không kiềm chế được, và mất đi nguồn sống quý giá. Mắt tôi bắt đầu liếc xung quanh để tìm phương hướng trong khi tự cảm thấy mình bắt đầu tái xanh. Tôi nhìn thấy một luồng sáng rực rỡ và tinh khiết chiếu xuống từ phía trên đầu, và nhờ nó mà tôi nhận ra mặt nước sóng sánh ở phía trên tuy có rất xa, nhưng đó là cơ hội duy nhất của tôi. Chân tay tôi bắt đầu luống cuống đạp, gồng oxi chuyển cho các cơ bắp, cơn đau đầu dữ dội tái phát khi dưỡng khí lên sọ không đầy đủ, ánh mắt tôi mờ dần với mỗi một cái đạp chân đạp tay, nhưng tôi vẫn còn đủ tỉnh táo, đủ tỉnh táo để nhận thấy càng lên gần mặt nước ánh sáng kia càng phai dần đi. Bên tai bắt đầu ong lên vang dội và nghe thấy hỗn loạn đủ thứ tiếng: tiếng thở ôxi phì lao động đường phố của một cái bình lặn, tiếng bọt khí trôi lên, tiếng sóng vỗ ngày càng to dần. Ánh sáng trước mặt tôi đã tắt nhưng các ngón tay đã cảm thấy không khí vươn khỏi mặt nước, cơ thể tôi đã đi tới giới hạn của nó.

Choàng người bật dậy hít lấy một hơi dài, tôi chợt nhận ra mình đã tỉnh lại giữa muôn ngàn ngổn ngang của đổ vỡ xung quanh. Ánh trăng len lỏi qua cửa sổ với lớp kính vỡ toang, cảm giác như những cái răng thủy tinh nhọn hoắt cắm vào da thịt của màn đêm và thứ máu lỏng xam xám đáp xuống vầng trán, chảy qua gò má của tôi. Cơn đau bên vai trái nhói lên khi tôi dùng tay chống đứng dậy, một lưỡi kéo gẫy cán đã xuyên qua lớp áo khoác, và từ đó tôi có thể thấy máu thấm ướt vải. Rên rỉ tôi lấy tay còn lại sờ nắn xung quanh chỗ bị thương, lay hoay không biết xử lí thế nào, hàm răng mài ken két lên nhau khi tôi đánh liều nhổ phựt chiếc kéo ra. Không đau lắm, lưỡi kéo xem ra chỉ cắt qua phần da, nỗi sợ hãi của tôi còn đau đớn hơn nhiều.

Tay ôm lấy miệng vết thương xấu xí, tôi bám lấy sàn nhà giờ đã dốc đứng lên, bò lồm cồm trèo qua chiếc cửa sổ bị vỡ. Quả là khá cao, cái khoảng cách mà cả ngôi nhà đã ôm trọn lấy tôi, ngã xuống từ mỏm đá phía trên đầu xuống tận dưới này. Ngoại trừ tôi còn lành lặn, ngôi nhà nhỏ kia đang ở trong tình trạng thảm hại, thứ gì không vỡ vụn thì cũng bị bẻ gãy, cào cấu rách nát, và chiếc xe ủi kia cũng vậy. Tôi chiếu đèn pin xuống một ngọn thác đổ sâu hơn xuống phía dưới, mặc dù bóng tối thăm thẳm đã buông bàn tay che dấu bớt đi, tôi vẫn có thể thấy một ngọn lửa bốc cháy dữ dội từ chiếc xe ủi. Tôi thoáng hi vọng gã Stucky kia cũng đã chịu chung số phận như vậy, nhưng tôi cũng chẳng có chút ý định nào ở lại lâu để tìm hiểu. Bỏ lại tất cả sau lưng, tôi cần tiến tới ánh sáng đèn phát ra từ trạm xăng phía trước, giờ chỉ còn cách một cánh rừng. Nhìn vào những khoảng trống đen tối vô hình lèn vào giữa những thân cây với hình dạng kì dị trước mặt, tôi biết mình không muốn đi qua cánh rừng tí nào, nhưng không có lựa chọn nào khác.

Nhưng trước tiên trải dài trước tôi, dòng nước cuồn cuộn luồn lách qua những mỏm đá chảy dữ dội về phía ngọn thác. Nhìn xuống dòng sông bên dưới, thứ gì đó ngọ ngậy thoát ra trong đầu tôi. Tôi nhận ra mình phải tìm cách vượt qua con sông này, vậy mà thậm chí đến cả nhìn xuống làn nước sâu thẳm tôi cũng chẳng muốn nữa. Giống như không có đáy và giấu diếm một thứ kinh người, cái cách nó hiện diện khiến tôi cảm thấy nghi hoặc, có trời mới biết thứ gì đang rình rập dưới cái đáy sông kia, và nhất là nó đem lại cho tôi không khí u ám, giống như đang nhìn thấy thứ gì đó. Một người đàn bà đưa đám, vợ tôi đang chìm xuống đáy hồ... tôi lắc mạnh đầu, những ảo ảnh hỗn loạn vẫn đang bám riết lấy tâm trí tôi, làm đồng bọn với màn đêm bóp méo sự minh mẫn. Những hình ảnh chợt đến chợt đi trong lúc tôi đang cheo leo vượt qua những mỏm đất trên mặt sông làm hành trình vượt sông của tôi càng trở nên nguy hiểm hơn.

Có thứ gì đó động đây ở trong bóng đêm, tôi chiếu đèn pin vào đấy và nó lại biến mất, dù tôi dám chắc rằng vài giây trước đây chính chỗ đó có một bóng đen cử động.

- Tiệm CÀ PHÊ! Nơi ta luôn đến để có thứ gì ĐẶC BIỆT!

Stucky vẫn sống, lẩn khuất trong những bóng đêm, vụng trộm bám đuôi tôi, trong tay tôi không có lấy một tấc sắt, nếu không kể đến chiếc đèn pin kim loại. Tôi tự nhủ gã Stucky có ngu mới không nhảy xổ vào tấn công tôi bây giờ, nhưng một lần nữa tôi sai lầm khi áp dụng những lý thuyết và logic của con người vào những thứ điên rồ không bình thường.

Gã Stucky đó còn muốn chơi đùa, nhưng đối với tôi cơn đau đầu và vết thương ở cánh tay đã quá đủ cho đêm nay, tôi bắt đầu e sợ đến lúc phải đối mặt với gã, và tôi e sợ một khi đã chạy trốn quá nhiều thì rồi hắn cũng sẽ có lúc bắt bài được mình. Đó là lí do tại sao tôi mang sẵn theo người khẩu súng bắn pháo sáng này, thứ mà tôi đã tìm thấy trong một ngóc ngách đổ vỡ của căn nhà bị rơi kia, giờ đang nằm yên vị trong túi áo khoác của tôi. Một quả cầu pháo sáng, kết hợp với cái chất gây cháy mà nó tạo ra, sẽ là một màn pháo hoa đón chào Stucky ra trò, cái điểm yếu duy nhất của nó là chỉ có một phát bắn, và không có cơ hội thứ hai. Tôi giấu nó trong túi, bàn tay trái thò vào ướt mồ hôi, tự cầm cự mình khỏi ham muốn rút nó ra và bắn vào một khoảng trống vô dụng trong không trung.

Ánh đèn trước mặt cứ sáng dần và sáng dần, những tia sáng lóe qua những khe hở của lá kim quệt những dải băng trắng lên khuôn mặt, và bất giác, tôi đã nhận thấy mình bắt đầu chạy nhanh về phía những tia sáng ấy, phổi bắt đầu hô hấp qua miệng nhưng có một thứ giống như nụ cười đặt lên nó. Gọi tôi là người bi quan, nhưng giống như số phận chơi đùa với con người, tôi biết trong những khoảng khắc sáng sủa như thế này thì cái bóng sau lưng sẽ càng dài ra.

- Cái quái gì ...?

Ra khỏi khu rừng, trước mặt tôi không phải là cái trạm xăng mà tôi hằng mong đợi. Thay vào đó, những chồng gỗ xếp rải rác khắp nơi, những máy móc cưa xẻ, máy nâng máy ủi im lìm: lại là một công trường gỗ nữa. Tôi không dám chắc nơi này là một địa điểm khác hay không, những cảm giác lú lẫn mụ mị cứ quấn tròn lấy tôi xoay vần, bụng dạ ọc ạch tôi cảm giác mình có thể nôn thốc nôn tháo ra đây được.

Bước vào công trường, cũng qua một cái cửa sắt lớn ai đó quên không đóng chỉ khép hờ lại. Quang cảnh kể ra so với trước cũng có lạ lẫm, có khác biệt, tôi giờ cũng không biết mình nên tin vào đâu nữa, cảm giác hoang mang lạc lối cứ thế dẫn dắt tôi đi theo con đường của nó.

Không gian xung quanh, tiếng cọt kẹt của máy móc cứ vang lên đều đặn. Tôi dỏng tai lên, mê hoặc bước chân theo dòng âm thanh khi chỉ còn đó là thứ đầu mối dẫn dắt duy nhất trong màn đêm mịt mùng. Dừng chân đứng lại trước một cái máy xẻ gỗ, lưỡi cưa đang mắc kẹt ở trong thớ thịt không dứt ra được, cứ thế cò cưa khúc gỗ phát ra tiếng động khó chịu. Một động tác đơn giản ngắt đi nguồn điện của chiếc máy, nhưng âm thanh vẫn không dứt, lại phát ra từ một hướng khác. Một con quạ đen thùi lũi giật mình bay qua đầu tôi.

- Chưa từng động đến sa-lát, một người như TAO cần món THỊT ngậy béo để SỐNG qua ngày!

Từ đầu cái cần cẩu xúc với những cái răng khổng lồ của nó, Stucky buông người ra từ trong miệng của con thú, nhảy thẳng xuống đất và khuất đi sau chồng gỗ cao lớn che mất tầm mắt của tôi. Như một phản xạ tự nhiên, không cần suy nghĩ tôi lập tức vòng ngay ra sau để tìm kiếm hắn, nhưng không có gì. Sợ rằng thứ xảy ra tiếp theo giống như những kịch bản kinh dị thường gặp, tôi lập tức quay ra sau lưng cảnh giác, nhưng cũng chẳng có gì nốt. Đầu óc tôi quay cuồng theo những ánh mắt đảo quanh giáo giác, tìm kiếm bóng đen có thể nhảy ra từ bất cứ chỗ nào. Bàn tay tôi nắm chặt hết mức vào cây đèn pin yếu ớt, đến nỗi những khớp xương của tôi có cảm giác đau nhừ.

Một tiếng gió rít qua tai, và tôi quay đầu lại phía đằng sau chồng gỗ, đập thẳng vào cả khuôn mặt tôi, Stucky đã đứng đó, vị trí mà tôi đã quan sát cả chục lần giờ đã bị lấp đầy với hình dạng của hắn. Vội vàng giương cây đèn pin chiếu thẳng vào, khuôn mặt của người đàn ông, của con quái vật này sôi lên với thứ ánh sáng hắn sợ hãi. Stucky gầm gừ lùi lại vài bước và thế là thế mạnh thuộc về tôi trong vài giây, cho đến khi cái bóng tròn trắng mà cây đèn pin phát ra bỗng nhấp nháy và rồi gần như tắt hẳn, chỉ còn lại ánh sáng yếu ớt. Tay cầm cây đèn pin đập đập liên tục lúc chân, tôi thật là ngắn nghĩ khi bật cây đèn pin suốt dọc đường tới đây chỉ để soi đường, và giờ tới lúc cần thiết thì nó lại giở chứng, giống như người lính ra trận quên nạp đạn vậy. May mắn thay, cây đèn pin liền sáng lại sau đó, nhưng thời gian nghỉ ngơi tôi đã tự nguyện tặng không cho Stucky thì không thể lấy lại. Gã bỗng di chuyển với một tốc độ siêu nhân, thứ ánh sáng tôi chiếu vào hắn trôi tuột đi giống nước đổ đầu vịt vậy. Tuy nhiên, ánh mắt tôi vẫn bám theo kịp cái hình bóng ảo ảnh của hắn, dẫu vậy, thật là bất khả thi để có thể tập trung dán ánh mắt vào nó, giống như bóng đen ấy nhảy vào một điểm mù của mắt gây nên bởi một khối u não hay là một thứ khuyết tật thị giác. Tôi hoảng sợ, mất bình tĩnh vung vẩy cái đèn pin giống như mạng sống phụ thuộc vào nó. Bỗng dưng, ánh mắt tôi dừng lại, tôi đã để lạc mất hình bóng Stucky một lần nữa.

Tiếng thở dốc của tôi trở nên quá ồn ào trong đêm tối. Cây đèn pin lại dở chứng, tôi đập nó vào ống quần, mắt vẫn không ngừng lượn vòng tròn tìm kiếm. Vấn đề là, dù thị giác không nắm bắt được, nhưng tôi vẫn có thể nghe thấy tiếng chân của Stucky cào xới vạt cỏ xung quanh, tiếng nói điên loạn của hắn về những thứ ất ơ không đâu. Cánh tay phải của tôi run lẩy bẩy, và bên vai trái chỗ bị thương thì dường như lạnh giá mất cảm ngác.

Trong khoảng khắc tuyệt vọng ấy, tôi lại nhìn thấy ánh đèn của trạm xăng sáng lên rất gần ở phía bên kia công trường. Hình ảnh chập chờn sáng lên bởi chiếc đèn neon trên biển quảng cáo của nó vươn cao qua đầu khu rừng nhỏ, cảm giác tôi có thể lấy tay giơ lên nắm lấy và kéo lại gần. Tôi bắt đầu chạy, hướng về phía tia hi vọng, tiếng chân của Stucky giờ đang ở sau lưng tôi. Nhưng hắn chạy nhanh quá, giống như con báo đang săn con trâu chậm chạm thở phì lao động đường phố vậy. Tiếng chân hắn nghe xa, vậy mà chỉ vài giây sau cảm giác giống như ngay sau lưng, ngọn gió đêm lùa bàn tay lạnh giá của nó vào mạn sườn khiến tôi nổi da gà. Ánh đèn trạm xăng không đủ gần, tôi sẽ chẳng bảo giờ tới đó kịp lúc.

Ánh đèn pin khua hỗn loạn về phía sau, tôi hi vọng làm chậm Stucky lại một chút. Đôi lúc nhụt chí, tưởng tượng chiếc đèn pin đã tắt ngúm từ lúc nào, và tôi tự biến mình thành một anh hề nghiệp dư.

- Tự thay BUGI ôtô thực ra rất NGUY HIỂM! - tiếng nói của hắn đuổi theo, giơ tay ra như muốn tóm gọn tôi.

- Mày nên giao CÔNG VIỆC cho một kẻ chuyên nghiệp!!

Stucky biến mất, ngay sau lưng tôi, tôi có thể cảm nhận được thế. Khi vẫn còn chưa định thần để hiểu được chuyện gì đang xảy ra, một Stucky điên loạn xồ ra từ bụi cây ven đường, phi thẳng thân mình vào người tôi, cây rìu được hai tay nâng quá đầu, muốn bổ đôi kẻ phía dưới hắn. Tôi co mình lại sợ hãi.

- THAY DẦU!!!

Những thứ diễn biến tiếp theo thật khó tả, tôi cũng không dám chắc tôi còn có thể tin vào đôi mắt của chính mình hay không. Nhưng có một đốm sáng hồng lớn đỏ rực, trào ra từ miệng ống kim loại, dắt theo nó những đám mây khói mù mịt cũng ánh lên sắc đỏ. Ánh sáng mạnh mẽ khiến cảnh vật xung quanh biến thành một màu hồng hoàn toàn, thiêu đốt toàn bộ bóng tối đi khỏi sự hiện diện của chúng. Nhưng trong vầng hào quang đó, cái bóng đen của Stucky cứ căng dần, căng dần lên như một trái bóng bay bị thổi, và sau cùng vỡ toang ra từng mảnh nhỏ và phai dần đi cho đến khi hoàn toàn biến mất vào không trung.

Tôi đơn độc đứng đó, vỏ đạn pháo bắn từ khẩu pháo sáng trên tay tôi đang lăn lông lốc trên mặt đất, không rõ tôi rút nó ra từ lúc nào. Bần thần như hồn đã lìa khỏi xác, ngắm nhìn ánh sáng phát ra từ viên đạn yếu dần yếu dần cho đến khi chỉ còn là vài tia sáng loang lổ trên mặt cỏ, bất giác nhận ra tôi chỉ còn một mình, xung quanh không còn dấu vết của Stucky hay bất kì dấu hiệu nào chứng tỏ đã từng có người ở đây. Biến mất, hoàn toàn, bị bóng đêm nuốt chửng.

Giờ đây cái trạm xăng kia đã ở ngay sau lưng, chỉ cách một hàng rào lưới sắt bảo vệ. Tôi đi vòng xung quanh xem xét, đẩy một cánh cửa lưới không khóa bước vào trạm xăng. Khoảng khắc đặt chân lên mặt đường rải nhựa, tôi phải đấu tranh ý chí cực khổ lắm mới kiềm chế được ham muốn quỳ xuống mà hôn lấy hôn để mặt đất. Tôi cảm thấy an toàn, thực sự an toàn.

Với các khớp xương đầu gối và khuỷu tay như bị ai đó chà cát vào giữa, tôi chậm rãi hướng thẳng về phía cái cửa hàng bên trong, chậm rãi như thể nếu tôi đi nhanh hơn thì cái hình ảnh tôi thấy trước mắt sẽ khuấy động và tan biến như màn sương đêm. Và với một cái liếc nhanh, tôi mau chóng nhận ra ai là chủ nhân của trạm xăng này: "Đăng kí phòng trọ của Stucky tại đây..." trên bảng thông báo, "Cửa hàng tạp hóa Stucky" viết to đùng trên tấm bảng, và "Trạm xăng Stucky" bằng đèn neon, là thứ ánh sáng của ngọn hải đăng mà tôi vẫn dõi mắt theo. Tiếng nói của người đàn ông yêu cầu tôi "thay dầu" vẫn còn văng vẳng bên tai, cảm giác giống như kẻ giết người vừa đến thăm đám tang chính nạn nhân của hắn vậy. Tôi xoa xoa vầng trán khi cơn nhức đầu lại nổi lên.

Gara của căn nhà là một đống lộn xộn, tôi bước vào đá phải một cái can dầu nhớt vứt bừa bãi dưới chân. Khu gara giống như bị sử dụng như là khu xả rác, hay vừa xảy ra một cuộc ẩu đả tại đây. Cái thứ dầu nhớt đổ lênh láng, ngấm vào cái tủ đồ nghề bị hất đổ úp mặt xuống dưới, chiếc xe bên trong gara bốn cái lốp xe bị tháo ra, vứt lỏng chỏng khắp nơi, mui xe giống như bị một vật nặng đầu tròn đập vào nát nhăn nhúm. Dường như chưa đủ thê lương, nguồn sáng duy nhất của căn phòng lại chỉ là những đường sọc ngang nhiễu loạn của chiếc tivi cũ kĩ đặt trên bàn gần đấy.

Tôi tiến về phía cái cửa thông sang cửa hàng tạp hóa liền bên cạnh, nhưng có thứ gì đó giữ chân lại trên đường tôi đi. Lướt người qua chiếc tivi, tôi có cảm giác kì cục mình vừa mới nhìn thấy một bóng người trên màn hình. Tôi ngoái cổ lại xem xét, không có gì cả, trên màn hình tivi vẫn chỉ là những đường sọc đen trắng chạy từ trái sang phải, biến đổi không có quy luật.

Nhưng rồi những tia sáng bắt đầu xuất hiện dày đặc, chạy tứ tung chứ không còn chỉ theo chiều ngang như trước nữa. Những đường sáng lớn dần, hóa mình cùng với nhau. Rồi ánh sáng chói lòa bắn ra từ bộ mặt thủy tinh. Có thứ gì đó đã thành hình thành dạng, rõ ràng in lên chiếc tivi.

"Mình sẽ viết. Mình sẽ tiếp tục viết. Bên ngoài chỉ còn lại bóng tối..."

Tín hiệu tivi nhiễu kêu lên rè rè. Khuôn mặt người đàn ông với râu cằm lổm chổm, mái tóc chải lỗi mốt, mặc một chiếc áo khoác xám vá khuỷu tay dí sát vào màn hình nhìn chằm chằm lại tôi. Tôi không chút khó khăn nhận biết khuôn mặt ấy, bởi người trong tivi chính là TÔI!

" ... bên ngoài căn nhà, bên ngoài câu truyện, chỉ còn bóng tối. Mình có thể cảm thấy rõ ràng sự hiện diện của cô ấy trong bóng tối..."

Kẻ trong tivi bắt đầu nhìn giáo giác khắp nơi trong căn phòng lát gỗ vẻ lo lắng. Hắn đi quanh một cái bàn bụi bặm, trên đó đặt một cái đánh máy chữ nhỏ. Trên tường, cái tượng con cú bằng gỗ đã xác định mối nghi ngờ của tôi: đây chính là căn phòng tôi và Alice đã cãi nhau tại căn nhà nghỉ Bird Leg, nơi cô ấy đặt cái máy đánh chữ.

" ... ngay bây giờ đây, Mình có thể ngửi thấy mùi nước hoa của cô ấy trong phòng. Mình sẽ tìm cô ấy. Mình sẽ sửa chữa mọi thứ. Mình sẽ mang cô ấy trở lại. Câu truyện được viết sẽ trở thành sự thật. Nếu mình dừng lại, cô ấy sẽ mất, mọi thứ sẽ mất!"

Tôi trong tivi điềm tĩnh một cách vô hồn, kéo cái ghế ra ngồi xuống bàn trước cái máy đánh chữ. Cái tivi bỗng phát ra một tiếng rú chói tai, khói bắt đầu tỏa ra từ phía sau nó, hình ảnh trên tivi lóe lên, tắt bụp chỉ còn một đốm sáng, rồi đến cả đốm sáng cũng không còn nốt.

Tôi không thể tin nổi thứ vừa xảy ra. Đúng chính đó đích thực là tôi, nói những lời linh tinh bấn loạn. Hay là tôi đã mất trí rồi?

Dù cố gắng bao nhiêu, tôi cũng không thể nào rút ra được một câu trả lời từ đống hỗn độn tôi vừa tạo. Vẫn còn cực kì day dứt, tôi đành lê bước mình đi sang phòng bên cạnh tìm chiếc điện thoại. Tôi đã gặp may, căn phòng vẫn còn bật đèn sáng đầy đủ, chiếc điện thoại trên bàn vẫn còn hoạt động bình thường. Quay số điện thoại gọi giúp đỡ, tôi để ý đến tấm áp phích treo trên tường, một kiểu lịch đếm lùi. Tấm áp phích quảng cáo lễ hội săn hươu của vùng này, với số bảy đặt ngay ngắn trên nó. Nếu như tôi hiểu đúng, thì chỉ còn bảy ngày nữa là tới dịp lễ hội, trong khi lúc chúng tôi đến đây tới tận hai tuần. Vậy là trí nhớ tôi đã tự nó xóa đi bộ nhớ của cả một tuần, tôi lo lắng không hiểu chuyện gì đã xảy ra trong thời gian dài như vậy rồi? Đứng quay số chiếc điện thoại mà chân tôi nhấp nhỏm không yên.

- Sở cảnh sát Bright Falls? - tiếng đầu dây bên kia đáp.

...

Có tiếng còi rú của xe cảnh sát bên ngoài, chỉ cần 10 phút là đã có người tới, khá nhanh. Tôi đồng thời cũng nhận ra trời đã choạng vạng sáng từ lúc nào, tia lửa của mặt trời đang liếm trên những dãy núi đằng xa xa.

Một người dáng mảnh khảnh bước ra khỏi xe, tóc búi lên có thể nhận ra là một người phụ nữ. Ánh đèn xe cảnh sát làm tôi lóa mắt, vui mừng bước ra khỏi cửa hàng.

- Ơn trời có cô cảnh sát đây rồi.

- Cảnh sát trưởng Sarah Breaker. Còn anh là...? - tay vẫn đặt vào báng súng ở thắt lưng, cố giữ khoảng cánh với người lạ mặt, một cảnh sát trưởng như Sarah thừa kinh nghiệm đối phó với những vị khách phương xa.

- Tôi là Alan. Nghe này, vợ tôi vừa mất tích, tôi cần các cô giúp đỡ...

Tôi khuỵu gối xuống mặt đường, cơn đau đầu đến không đúng lúc chút nào, một viên đá khiến tôi mất đà.

Cảnh sát trưởng Breaker, tin vào linh tính của mình, người đàn ông này vô hại. Cô vội đổi thái độ, nhanh nhẹn đến bên người đàn ông đỡ ông ta dậy, nhận thấy anh ta rách nát khổ sở như sơ mướp.

- Từ từ, anh có sao không? Trông có vẻ như anh vừa gặp tai nạn? Đầu anh đang chảy máu kia!

Tôi khoát tay đi, lồm cồm bò dậy.

- Không, tôi không sao. Nghe tôi, vợ tôi đang gặp nguy hiểm, chúng tôi sống ở đảo Diver trên hồ Cauldron, xin các cô...

- Anh bình tĩnh lại đã, trên hồ Cauldron không có hòn đảo nào cả, kể từ vụ phun núi lửa năm 1973 hòn đảo cuối cùng cũng đã chìm rồi.

"Cô nói linh tinh cái quái gì vậy?" - tôi nghĩ, nhưng không nói thành lời. Tôi đang không ở vị trí của một kẻ được yêu sách.

- Xin cô! Tôi có thể chỉ đường cho cô tới đó...

Sarah cảm thấy tôi nghiệp thay cho người đàn ông này, cách nào đó anh ta gợi nhớ tới người cha hay xa nhà của cô. Thôi thì cứ giúp anh ta, dù sao thì cũng có hại ai?

- Thôi được rồi, chúng ta có thể ghé qua trên đướng tới sở. Giờ anh có đứng lên được không?

Tôi không muốn lãng phí thêm chút thời gian nào nữa, vội vàng theo cô ta đi lên xe, tay khoác qua vai phải nhờ dìu đi. Dường như nhớ ra điều gì, Sara vội quay ra hỏi tôi.

- Anh có thấy ông Stucky ở quanh đây không? Đây là trạm xăng của ông ấy mà?

Im lặng.

- Tôi không biết.

Kinh nghiệm mách bảo Sarah phải nghi ngờ mọi thứ, nhưng vào lúc này thì không tiện tí nào, cứ tới đâu hay tới đó cái đã, cô nghĩ thầm.

*
* *​

Sarah chắc chắn biết nhìn người, nếu không cô chẳng thể làm cảnh sát trưởng duy nhất của vùng này được. Người đàn ông này có cảm giác quen thuộc, và nhìn dáng điệu của anh ta cô không chắc anh có khả năng giết nổi một con kiến.

Cô đứng đó cạnh chiếc ôtô đậu cạnh hồ, nhìn người đàn ông tìm kiếm, kết quả cuối cùng như thế nào cô cũng đã biết chắc chắn từ trước. Có thể đây là một trò đùa vô duyên của người khách lạ, nhưng cô chẳng thấy trò này buồn cười tí nào, nhất là khi thấy khuôn mặt người đàn ông hoảng loạn, chạy tới chạy lui, chảy mồ hôi hột khi nhìn xuống mặt nước bằng phẳng. Có vẻ như bỏ cuộc, anh ta kiệt sức lấy tay dựa vào lan can gỗ, rồi từ từ xoay lại nhìn cô.

Sarah gật nhẹ đầu tỏ ý xác minh. Năm 1973, đúng là đã từng có một căn nhà nghỉ tên Bird Leg trên hòn đảo Diver ở nơi đây. Nhưng sau một trận phun trào của lòng hồ vốn là miệng núi lửa này, thứ còn lại chỉ là nửa cây cầu gỗ mục nát dẫn ra đảo và mặt hồ tít tắp phẳng lặng càng thêm ma quái dưới những làn sương mờ ảo lượn lờ bên trên.

HẾT CHƯƠNG 1

CHƯƠNG 2
Bắt cóc​

New York, mùa đông năm 2000, ba tháng trước.

Quá khứ là một cái hố đen ngoác miệng.

Tại một quán bar xó xỉng tận cùng thành phố, nơi chứa chấp những cặn bã của xã hội, một người đàn ông bước vào. Tất cả cái lũ bẩn thỉu trong quán đều quay ra nhìn hắn, với ánh mắt hình con dao. Những tên thú vật ấy nhanh chóng nhận ra kẻ vừa bước vào không cùng giống loài với chúng: chiếc áo khác gió ba-đơ-xuy cùng với cái mũ rộng vành, và chúng nhận ra, hắn là một tên cớm.

Ta cố trốn chạy khỏi quá khứ, nhưng ta càng chạy, tội lỗi của nó càng sâu hoắm, miệng hố nhe răng nanh trắng nhởn dưới gót chân.

Người đàn ông kéo một cái ghế ra, ngồi sát vào quán bar. Từ dáng hình hắn bốc ra một thứ mùi, không cần cảm nhận bằng khứu giác. Đó là cách hắn đi, khuôn mặt luôn cúi gằm, ánh mắt giấu dưới chiếc mũ xùm xụp, cánh tay đút vào áo giống như hắn muốn che giấu cơ thể hắn đi khỏi những ánh mắt tò mò. Vì vậy dù có là một tên cớm, nhưng hắn chia sẻ những đặc điểm chung với những con người khốn khổ nơi đây, hắn được chấp nhận một cách rụt rè, tạm thời.

- Lại một Wishky phải không hả Robert?

Hắn không nói gì, và người phục vụ quán bar cũng đã quen với loại khách này. Dòng thời gian trôi khiến người chủ quán bạc râu hói đầu đã chỉ cho hắn biết những loại khách như thế này chỉ thích tự đắm chìm trong sự khốn khổ của mình, và nếu khiến cho bọn chúng cảm thấy dễ chịu thì chúng sẽ trở thành con nghiện của quán dài dài, ít nhất là cho đến khi những gã này nhảy lầu tự sát hay chết ở xó xỉng nào đó vì sốc thuốc. Nghĩ đoạn hắn lấy chiếc cốc thủy tinh nhỏ gần đầy whisky liệng cho người đàn ông trên mặt bàn, biểu lộ sự kinh tởm giống như khổ sở là một căn bệnh dễ lây vậy. Chất cồn trong chén chao đảo, tràn một chút ra mặt bàn.

Cơ hội duy nhất của ta là phải quay đầu lại đối diện với nó, nhưng không hề dễ dàng.

Người đàn ông ngẫm nghĩ, lưỡng lự rút từ túi quần sau của mình ra một cái ví da nâu bạc màu. Rồi hắn cứ ngồi đấy, một tay cầm cái chén đã rỗng không, tay kia nắm chặt lấy cái ví không động đậy. Đôi mắt hắn nhìn chăm chăm không chớp, như thể nó muốn thiêu đốt cái lớp da bằng nhựa bốc mùi kia, dường như hắn có thể thấy nhìn xuyên thấu qua nó mà thấy tầm ảnh ấy, tấm ảnh bị chôn vùi dưới bao nhiêu tầng lớp giấy vụn và ác mộng, nhưng người đàn bà trong đó trẻ đẹp vẫn đang vẫy tay tươi cười nhìn hắn. Và hắn cũng không thể quên được cậu bé trai mà vợ hắn đang bế, kháu khỉnh mới nửa tháng tuổi, hồng hào tỏa ánh sáng chói lọi ngủ thiếp đi êm đềm như những thiên thần trên bầu trời nhà thờ. Nhưng đồng thời hắn cũng không còn một ký ức rõ ràng nào khác về họ, giống như bụi thời gian đã phủ một lớp dày lên trên tấm ảnh. Đã ba năm nay hắn không có can đảm rút tấm ảnh ra đối diện với họ.

Cảm giác khi ấy giống như cúi đầu nhìn xuống ngôi mộ trống rỗng của người ta yêu thương... - hắn nắm lấy chén rượu, lật ngửa nó lên hớp lấy thứ chất lỏng đăng đắng còn sót lại ở đáy - ... hay giống như đặt một nụ hôn cháy bỏng lên họng súng, viên đạn rùng mình trong cái hố đen sâu thẳm, sẵn sàng thổi tung những ký ức còn đọng lại bên trong đầu.

Hắn đặt cái chén xuống, một tiếng cạch vang lên. Nhưng âm thanh đó chỉ giống như giọt mưa rơi xuống biển, bên ngoài kia con người đang hân hoan vui sướng ăn mừng cái giây cuối cùng của thế kỉ 20 vừa mới qua đi. Cái không khí trẻ trung sôi nổi đó lây lan vào trong quán, khiến không khí của những tầng lớp dưới đáy xã hội trở nên bớt khốn nạn hơn, một vài tên say bắt đầu phấn khích đập bàn đập ghế ầm ĩ, và không lâu sau những cái chai đã được ném thẳng vào hộp sọ, tứa máu. Nhưng không phải hắn, đối với hắn tiếng chuông điểm 12 giờ đêm của nhà thờ giống như một lễ kỉ niệm ba năm ngày những thống khổ của hắn bắt đầu. Hắn chợt nhớ dạo này mình quên không đi thăm vợ con thường xuyên. Nhưng cái nơi hắn sắp tới cũng có cảm giác như chiếc cổng nghĩa trang chết chóc thực sự, và hắn phải có nghĩa vụ quay về nơi ấy, cho dù chỉ là để tự đào cho mình một khoảng đất để nằm cạnh họ.

Hắn gọi thêm một ly nữa, tu ừng ực rồi đứng dậy. Công việc sắp tới của hắn cần hắn phải tỉnh táo. Hắn nhớ những đêm trước say bí tỉ không còn biết trời đất, mà sự thực thì hắn cũng chẳng nhớ gì, nhưng hắn thích cảm giác ấy. Đứng dậy, người đàn ông vơ lấy cái áo ba-đơ-xuy, nhàu nát vì không có bàn tay người phụ nữ động vào. Hắn hướng ra cửa, không quên rút ra một tập hồ sơ để xem xét. Sếp của hắn thực sự không muốn hắn nhận vụ này nên đã giao cho cảnh sát khác, ông già lo cho hắn, một thám tử đã từng đứng đầu thành phố. Nhưng cuối cùng bằng cách này hay cách khác, hắn cũng đang sở hữu tập hồ sơ trên tay, tình tiết mới, thêm vài vụ mất tích bí ẩn lại xảy ra. Hắn gọi một cái taxi, ngồi phịch xuống cái đệm ghế bốc đầy mùi xăng, yêu cầu tài xế tới trạm xe lửa.

Đêm hôm trước, hắn đã đặt một vé đêm tới thị trấn Bright Falls, hắn cảm giác mình đã quay lại cái thời gian kinh hoàng ấy. Ba năm trước, hắn đã không thể phá được vụ án này. Ba năm trước, hắn đã chứng kiến cái xác máu me của vợ hắn, và đứa con trai mà cô ấy đáng lẽ phải bế bồng không bao giờ được tìm thấy.

*
* *​

Tiếng ồn ào của những bác sĩ và bệnh nhận đi qua đi lại xung quanh chỉ giống như một mớ hỗn tạp của âm thanh và hình ảnh. Tôi ngồi trong một buồng khám, thẫn thờ suy ngẫm lại những sự kiện vừa xảy ra tối quá, và cái cách mà cả một hòn đảo to đùng biến mất giữa lòng hồ không để lải vết tích gì. Nhưng càng suy nghĩ càng thấy cảm thấy vô lí cùng cực, cuối cùng trí óc tôi đầu hàng, tự buông thả bản thân nó vào màn hình cái tivi CRT treo trên góc tường.

Tiếng nhạc nền huyền bí của chiếc tivi cất lên, tôi băn khoăn không biết khi nào cảnh sát trưởng Breaker mới quay lại tìm tôi.

"Khoa học! Nó ban sự bất tử cho những kẻ nào dám cả gan tiến lên phía trước đem lại sự tiến bộ cho con người..."

Tôi nhận ra chương trình này, Night Spring. Sự đi lên của một nhà văn không phải chỉ cần viết thứ mình thích rồi đợi nổi tiếng, đôi khi tôi cũng phải viết thuê kịch bản cho những chương trình để kiếm tiền sống, và danh tiếng cũng từ đó mà tích lũy. Night Spring là một trong những chương trình tôi tham gia cố vấn khá nhất, đến giờ tôi vẫn còn cuốn băng thu tập tôi trực tiếp đạo diễn.

" Einstein, Tesla, Newton... đấng hoàng tử của loài người. Nhưng cái giá phải trả cho sự vinh dự lớn lao đó, là bước sâu vào... Night Spring"

Đã quá quen với kiểu mở đầu của chương trình này, Night Spring là một nơi không cố định, bất cứ nơi nào những điều kì lạ xảy ra, nơi đó là Night Spring.

"Tập tối nay: Sự tự sát Lượng tử"

Cảnh phim sáng dần, tôi thấy một căn phòng trống với những cái bàn nhỏ bày ngay ngắn giống như trong lớp học. Những người đàn ông phụ nữ chạc tuổi, ăn mặc chỉnh tề cùng với cuốn sổ nhở trên tay ra dáng nhà báo, tất cả bọn họ đều hướng lên phía bục giảng, nơi có một người đàn ông đang đứng trên đó. Tiếng nói dẫn truyện phát ra trầm trầm, huyền bí.

"Giả sử nếu cuộc đời chúng ta đã được viết sẵn, định đoạt từ trước, phải là một người dũng cảm mới dám đứng lên thay đổi kịch bản..."

"Đã tổ chức một cuộc họp báo, tiến sĩ Barclay Colvin sắp sửa thực hành sự dũng cảm đó."

Người đàn ông đó mặc áo blue trắng, đeo kính cận, hói đầu và bụng phệ, một kiểu khoa học gia điển hình không lẫn vào đâu được. Ông ta bắt đầu phát biểu.

"Xin chào quý ông và quý bà nhà báo, tôi, là tiến sĩ Barclay Colvin, và tôi rất vui mừng các quý vị tới tham gia hôm nay..."

"Tối nay, tôi sẽ thực hiện một thí nghiệm chứng minh và giải thích giả thuyết 'Không gian song song' ngay tại đây..."

Nhanh chóng, người đàn ông rút ra từ gầm bàn một khẩu súng ngắn, tôi bỗng nhớ lại những bản tin của những vụ thảm sát trường học.

"Như quý vị thấy rõ..." - ông ta giơ khẩu súng lên cao - "... đây là một khẩu chín li đã lên đạn đầy đủ, nó sẽ tham dự một phần vào thực nghiệm sẽ diễn ra ngay bây giờ... Một thực nghiệm thực sự! Sự tự sát lượng tử!"

Phía dưới bục giảng bắt đầu dội lên những tiếng xì xào, những nét mặt lo lắng bắt đầu bộc lộ ra, câu "tự sát" được một số người nhắc đi nhắc lai như thể họ nghe chưa rõ. Y như đi xem ảo thuật. Người đàn ông cuối cùng phải lên tiếng trấn tĩnh lại đám đông, cho dù có vẻ ông ta cũng thấy thích thú với sự kích động.

"Xin quý vị bình tĩnh, sẽ không có rủi ro nào cả..." - gian phòng bắt đầu im lặng trở lại, chỉ còn nghe thấy tiếng thở - "... giờ thì hãy quan sát cho thật kĩ!"

Khẩu súng trên tay phải của ông được nâng lên, họng súng đặt vào thái dương của chính ông. Tôi rùng mình, nhưng một tiếng cạch vang lên, súng không nổ, người đàn ông vẫn lành lặn mỉm cười. Xem ra lâu quá rồi, tôi đã quên mất chương trình này có thể điên rồ tới mức nào.

" Giờ thì vài quý vị ở đây cho rắng súng không có đạn... không hẳn như vậy..."

Ông ta chĩa thẳng súng vào cái bàn được chuẩn bị sẵn bên cạnh - " Quan sát chậu hoa! " - nói như ra lệnh.

Những mảnh đất nung của chậu hoa vỡ tan tành, vất vưởng cả trên mặt đất lẫn mặt bàn, trong khi đó cái cây cùng đống đất đã trở thành một đống lộn xộn không thành hình. Một số phụ nữ ở dưới hoảng sợ, co cả đầu gối lại lấy tay che tai, số còn lại chia sẻ một cái nhìn kinh hãi.

Tiến sĩ Barclay Colvin, vẫn bình thản nở một nụ cười, tiếp tục phát biểu.

" Vậy là ta thấy khẩu súng này không hại được tôi. Với mỗi lần bóp cò, có hai thực tế được sinh ra. Ở một nơi, khẩu súng không nổ, nơi còn lại, nó nổ. Với chiếc máy này..." - ông chỉ vào một cái máy hình chữ nhật, trông như cái đài, dây điện giòng xuống phía dưới , không có gì nổi bật. Ông ta còn giơ súng vào trán bóp cò lần nữa, như thể để chứng minh cho sự tự tin tuyệt đối.

"Với cái máy này, tôi có thể đảm bảo 100% thực tế thứ nhất luôn được ưu tiên, và trong khoảng khắc thực tế này, tôi không thể chết. Nói cách khác, tôi đã tự tạo cho mình sự BẤT TỬ LƯỢNG TỬ! KHÔNG CÓ MỘT TRƯỜNG HỢP NÀO MÀ KHẨU SÚNG NÀY CÓ THỂ GIẾT CHẾT TÔI!" - Barclay Colvin giang rộng hai tay, cảm nhận mình như một vị thánh.

Một nhà báo có vẻ gan dạ nhất ở hàng ghế đầu, đứng lên rụt rè hỏi.

"Xin hỏi thưa ông. Vậy ý ông là mỗi lần ông bóp cò là lại ở một thực tế khác một vị Barclay Colvin ... chết?"

"À vâng tất nhiên là vậy, nhưng đó không phải là chủ đề chính..." - ông ta vội giải thích - "... luôn luôn có một số lượng vô hạn các khả năng có thể xảy ra khoảng khắc này, và, thực sự thì, nó thực sự xảy ra ở một nơi khác. Quan trọng là, trường hợp đó, không thể xảy ra, tại đây." - tiến sĩ giọng tự tin đầy thuyết phục.

Nhưng tay nhà báo lại không nghĩ vậy.

"Ông đúng là điên, Colvin!"

"Điên!?"

Bị kích động mạnh mẽ, tiến sĩ run bắn người lên nói.

"ĐIÊN!?"

Cái lòng hãnh diện của Colvin bắt đầu bị thổi phồng lên, to đến mức che đi cả tiếng phích cắm điện của cái máy bị dựt ra khi vướng vào chân ông. Một kẻ phàm trần dám nói ông là điên? Hắn mù ư? Hắn không thấy thứ gì vừa diễn ra trước mắt hắn sao?

" Lũ ngu ngốc thấp hèn! Chống mắt lên mà xem sự Bất Tử Lượng Tử đây!!"

Họng súng lạnh giá áp vào thái dương.

ĐÙNG!

Tôi giật mình với tiếng động kinh người. Cánh cửa bên phải tôi bật mở, một y tá bước vào vội vàng.

- Anh Alan phải không? - cô ta hỏi.

- Vâng, là tôi?

- Mời anh đến phòng số sáu, bác sĩ Holmes đang đợi anh.

Tôi hấp tấp đứng lên, cô y tá đã đi mất rồi, nhanh như khi cô ta đến vậy. Bước ra khỏi cửa, tôi còn chần chừ xem nốt chương trình. Giọng trầm trầm của người dẫn truyện lại vang lên.

"Tội nghiệp tiến sĩ Colvin, tự lấp đầy bản thân bởi tính ngạo mạn của mình, hay đó là do sự dốt nát của quần chúng? Đáng lẽ ông nên để yên gói quà của tự nhiên không được mở, những hạt nguyên tử phân rã không được quan sát?..."

"Sự tò mò thường giết chết những kẻ tò mò... tại Night Spring!"

...

- Anh thấy sao rồi hả anh Wake? Có bị nhức đầu buồn nôn, mất ký ức ngắn hay gì không?

Ánh đèn sáng chói của chiếc đèn pin nhỏ xíu làm tôi hoa mắt, nó chiếu quá gần.

- Anh Wake? Anh có khỏe không?

Khỏe? Sao tôi thấy khỏe cho được? Vợ tôi mất tích, tôi thức dậy giữa rừng trong một cái hộp sắt méo mó, đầu bê bết máu, bị một thằng điên cầm rìu dí cho tóe khói. Giờ ông lại hỏi tôi có khỏe không?

Những hình ảnh chớp giật cứ tua đi tua lai trong đầu, tôi giống như một cái cát-xét han rỉ vậy. Một khuôn mặt đàn bà đen tối, vợ tôi chìm xuống đáy hồ, Stucky rít lên từng hồi. Mặc dù đang là ban ngày, đầu óc tôi vẫn tối tăm, giống như cái bóng đèn tròn trong sọ tôi bị cháy dây tóc.

- Không, tôi không sao. Đầu tôi không sao.

Ánh mắt tôi không nhìn thẳng bác sĩ Holmes, ông ta cũng cảm thấy tôi không thẳng thắn. Lấy một ngón tay giơ lên di chuyển từ trái sang phải, ông chăm chăm quan sát phản xạ của đồng tử.

Tôi phải nói dối với ông ta về chứng nhức đầu và cả một tuần lễ mất trí nhớ của tôi. Ông ta sẽ gửi tôi lên bệnh viện tuyến trên, khám sức khỏe và chụp đầu óc gì đó. Tôi không thể đi đâu xa bây giờ cả, cho đến khi tôi tìm lại Alice.

- Hừm! Thôi được rồi! Tôi nghĩ anh không bị tổn thương nào quá nghiêm trọng cả, nhưng rõ ràng thần kinh anh chưa được ổn định. Nếu tôi là anh tôi sẽ nghỉ ngơi vài ngày.

Ông lấy ra vài cái băng gạc y tế, băng lại vết thương trên đầu và vai tôi. Vị bác sĩ già nhưng bàn tay nhanh thoăn thoắt, lướt qua da thịt và thế chẳng mấy chốc đâu đã vào đấy.

- Xong rồi, anh Wake. Nếu cơn đau của anh mà tệ thêm hoặc anh có thêm các triệu chứng khác nữa thì anh cứ đến gặp tôi.

Có tiếng gõ cửa.

- Anh Wake? - cảnh sát trưởng Breaker đứng ngoái người vào - anh xong chưa? Để tôi ra lấy xe? Tôi còn nhiều việc ở sở nữa. Ông Holmes, ông có cần đi nhờ xe cùng chúng tôi không?

Vị bác sĩ phẩy tay.

- Chúng tôi xong rồi. Cô không cần trở tôi đi đâu, đằng nào tôi cũng muốn xuống cái hồ sau núi đi câu cá. Anh Wake sẽ ra bây giờ đây.

Breaker mỉm cười quay đầu bước đi. Vị bác sĩ lúi húi thu dọn đồ nghề, ánh nắng buổi sáng chiếu vào chiếc áo câu cá vàng choẹt của ông làm ông sáng lên như một cái biển báo chỉ đường. Ông quay ra nắm lấy vai tôi.

- Anh đừng lo, Sarah là một cảnh sát rất giỏi, rồi cô ấy sẽ tìm thấy vợ anh nhanh thôi.

Tôi dành một khoảng khắc quan sát người đàn ông. Khoảng tầm 60 tuổi, đầu của bác sĩ Holmes đã gần như hói toàn bộ, tóc bạc hờ hững ôm lấy da đầu. Ông trông giản dị, gần như không phân biệt nổi với người dân thường ở đây. Bác sĩ Holmes có gần như đầy đủ các đặc điểm thường thấy ở một vị bác sĩ tỉnh lẻ. Tôi lưu lại một chút tò mò.

- Bác sĩ vừa nói bác sĩ sắp đi câu ở cái hồ sau núi phải không? Hồ Cauldron?

- Ồ không phải! - ông lắc đầu - một cái hồ khác, gần đây hơn. Không ai lại đi câu ở hồ Laudron cả, lòng hồ thực sự không có đến một sinh vật sống nào hết.
...

Chiếc ôtô cảnh sát lao vun vút trên con đường nhựa rộng rãi. Vặn cửa kính xuống, tôi chống tay phải vào thành cửa, lơ đãng thưởng thức ngọn gió thổi ngược lại mang hương thơm của thảo mộc và bụi đường. Trí óc tôi dường như con diều, bị gió thổi bay tít lên tận trời cao, để lại thân xác héo khô dưới mặt đất.

Vừa lúc đi ngang qua hồ Cauldron lần thứ hai, tôi cố ráp lại những mảnh kí ức của đêm qua lại với nhau. Nhưng những mảnh ghép cứng đầu, chúng kiêu kì từ chối những khớp nối xa lạ, một lỗ thủng to tướng chắn ngang đường, giá như tôi còn nhớ thêm một tí gì về sự kiện xảy ra một tuần qua. Một dục vọng dấy lên trong tôi, có thể tôi bảo cảnh sát trưởng Breaker, tiện đường có thể cho tôi xem xét lại nơi hòn đảo Diver đã từng tồn tại chăng? Nhưng tôi sẽ kiềm hãm mình lại. Lần cuối tôi tới đấy chính mắt tôi đã xem xét từng hòn đá ngọn cỏ rồi, không còn gì, không một dấu vết, đôi khi tôi cảm giác đó như một lỗi chương trình xuất hiện nhưng cả bộ máy vẫn không sụp đổ, nhởn nhơ ở đó trêu ngươi tôi.

Tôi ước đây là một giấc mơ, cái kim ngắn của đồng hồ chỉ lên số sáu vào quả chuông rít lên ầm ĩ, tôi choàng người dậy, ướt đẫm mồ hôi, hoảng loạn nhìn ra xung quanh, nhưng rồi cuối cùng yên lòng khi thấy Alice đang ngủ say sưa cạnh mình.

Tôi mơ hồ nhớ lại căn hộ của chúng tôi tại New York. Một ngày mưa nặng hạt nào đó, bảng điện bị đoản mạch, chúng tôi mang những ngọn nến ra khắp nhà, ngồi co gối trên cái ghế dài chờ thợ đến sửa.

- Em xin lỗi, Alan - Alice gối đầu lên đùi tôi, mắt mơ màng.

- Lúc mất điện em hơi phản ứng thái quá, em biết thế là ngớ ngẩn, chỉ là... - cô ngước lên nhìn tôi - nhất là khi nó xảy ra bất ngờ, anh biết không, em sợ tối lắm.

Mắt tôi chạm mắt Alice, tôi mỉm cười say sưa.

- Anh yêu em, Alice.

Alice cười lại, duỗi người ra bớt căng thẳng hơn, cô nằm sấp lại, hai chân co vào vung vẩy vào không khí. Những áng nến lấp lánh làm cho không khí lãng mạn một cách bất ngờ.

- Kể cho em một câu truyện đi anh chàng nhà văn.

- Em muốn nghe chứ? - tôi hỏi lại, đùa giỡn.

- Ừ ừm...

- Được thôi, è hèm - tôi lên giọng, như chuẩn bị diễn thuyết. Tôi lấy bàn tay vuốt lên mái tóc vàng óng ả của Alice.

- Anh cũng từng có những cơn ác mộng như thế này khi anh còn nhỏ. Bóng tối là một trong những thứ anh sợ và hay gặp lúc ngủ mơ nhất - tôi luồn tay xuống, xoa lên vai cô ấy - khi anh bắt đầu hay mất ngủ quá mức. Một hôm mẹ anh vào phòng anh, dỗ dành anh và đưa cho anh một cái công tắc đèn cũ. Mẹ anh gọi là cái Clicker.

- Clicker hả? - Alice trườn người lên, thích thú với câu truyện, tôi cũng phải tự nể tài mình.

- Ừ, đúng thế. Và mỗi lần khi anh ở trong bóng tối một mình, anh chỉ cần ấn công tắc một cái là ánh sáng thần kì sẽ xua đuổi bè lũ quái vật đi hết!

- Anh kể truyện bịa hay đấy - Alice cười rúc rích, ngồi thẳng lên buộc lại tóc.

- Anh đâu có bịa - tôi cúi xuống dưới gầm ghế, moi ra từ trong đấy một cái công tắc cũ kĩ bị đứt dây đưa cho Alice - đây này! Có khi em cần nó hơn anh đấy?

Alice ngậm cười, tất cả chỉ là một trò diễu cợt thôi, nhưng Alice yêu tôi bởi những thứ như thế. Bàn tay Alice đan vào bàn tay đang cầm cái công tắc của tôi, trong khoảng khắc mắt chạm mắt.

- Em yêu anh, Alan. Dù anh đúng là đồ nói dối.

- Này, dù chuyện gì xảy ra anh sẽ luôn ở bên cạnh em mà? - tôi nhẹ nhàng đáp lại.

Gió bỗng dưng thổi trong căn phòng kín mít, những ngọn nến chập chờn, trên trần nhà những bóng đen quái dị sống dậy.

- Nhưng bây giờ anh không ở bên em - giọng Alice bỗng nhỏ lại, thều thào, đầu cô ấy cúi gằm xuống, không cử động.

- Alan... anh ở... đâu....? Dưới này... lạnh quá...

Tôi sững sờ, nhìn vào hình dáng của cô ấy đang nằm trong vòng tay mình. Alice vẫn đó, nhưng có cảm giác cô ấy ở miền xa xăm nào vậy.

- Alan... tỉnh dậy đi...

Alan...

Alan!

ALAN!!

Tôi bật ngửa người, suýt nữa lộn nhào cùng cái ghế ra đằng sau. Văn phòng của cảnh sát trưởng Breaker nhỏ nhắn với những tủ hồ sơ và chồng giấy tờ chất ngổn ngang, công việc của cảnh sát khá bận rộn ở thị trấn nhỏ này. Tôi bỗng nhận thấy cô ta đang gọi tên tôi, khuôn mặt tỏ vẻ lo lắng.

- Anh Wake, anh không sao chứ? Chúng ta đang nói chuyện sao bỗng dưng anh không trả lời tôi nữa?

- Tôi không sao, cảnh sát trưởng Breaker. Chỉ hơi mệt thôi, từ hôm qua tôi vẫn chưa được chợp mắt tí nào cả.

Cô cảnh sát tỏ vẻ nghi hoặc.

- Cứ gọi tôi là Sarah là được rồi. Anh chắc là anh không sao chứ, có lẽ tôi nên chở anh lên bệnh viện tỉnh, ở đó anh sẽ được chăm sóc tốt hơn.

Không thể được! Tôi khoát tay đi hơi bực dọc. Đôi lúc tôi cảm thấy khá khó hiểu khi mọi người đều tập trung sự chú ý vào tôi trong khi Alice mới đang gặp nguy hiểm thực sự. Linh tính mách bảo không ai tin tôi cả, mà cũng phải thôi, đến tôi còn không tin nổi những gì mình vừa trải qua cơ mà.

Sarah có đôi chút lưỡng lự, nhưng cuối cùng cũng phải chiều theo sự kiên quyết của tôi.

- Điện thoại và đồ đạc của anh đây. Như tôi vừa nói, tôi đã nạp đầy pin cho anh rồi.

Chiếc điện thoại nằm ngay ngắn trên bàn trước mặt tôi. Tôi vươn người ra lấy, những chiếc điện thoại hãng Nokia có thời gian pin vô địch, nhưng tôi đoán điện thoại nào cũng không trụ nổi quá một tuần. Sờ mó cái điện thoại trong tay, tôi lại vội vã hỏi.

- Các cô đã bắt đầu đi tìm vợ tôi chưa, cô ấy mất tích lâu quá rồi!

- Chúng tôi sẽ tiến hành, anh Wake. Nhưng chúng tôi không thể giăng lưới mò cá được, chúng tôi cần thêm thông tin. Anh còn chút kí ức nào về việc đã xảy ra không?

Sarah không tin tưởng tôi, đó là một kiểu hỏi dò, để xem tôi có nói dối không, hay kiểm tra thần kinh tôi có gì bất ổn, đại loại như thế.

Nhưng tôi để ý thấy một thứ đáng chú ý hơn, mấy tập bản thảo tôi nhặt được hôm qua, nó nằm ngay ngắn trên chiếc bàn làm việc của Sarah, ngay bên cạnh cái điện thoại. Tôi thót tim, nếu cô ta đã đọc vài dòng rồi thì sao? Liệu tôi có trở thành thủ phạm cho những gì xảy ra với Stucky hôm qua không?

Tôi với tay ra chầm chậm cầm lấy tập giấy, cố hết sức có thể tránh bắt gặp ánh mắt tò mò phán xét của Sarah. Tôi tự thấy mình đã quá lo xa, hai tập bản thảo này không hề nhắc đến một cái tên riêng nào cả, cô ta chắc chỉ cho rằng đây là giấy tờ công việc của tôi thôi.

- Tôi không chắc lắm..., tôi không nhớ rõ. Lúc đó chúng tôi vừa mới cãi nhau, tôi chạy ra khỏi căn nhà...

- Căn nhà trên hòn đảo ở hồ Cauldron? - Sarah ngắt lời tôi.

Tôi biết, tôi biết. Cô cũng nói đi nói lại bao nhiêu lần rồi. Căn bản từ đầu không còn hòn đảo nào, không còn căn nhà nào ở đấy nữa. Nhưng lúc đó, nó đã ở đấy, rõ ràng như ban ngày, tôi chắc chắn mình không hề chiêm bao.

Sarah thở dài, thử chuyển chủ đề.

- Thế cuối cùng sao anh lại đến trạm xăng của Stucky?

Tôi biết phải nói gì đây? Rằng tôi bị mất trí nhớ trong cả một tuần dài? Tỉnh dậy trong một chiếc ôtô bị tai nạn không biết gì xung quanh? Tôi lưỡng lự nhìn Sarah im lặng không nói gì. Câu chuyện từ đầu vốn nó đã chứa đủ sự vô lí rồi. Tôi biết tôi có thể tin Sarah, dù gì cô có vẻ là một người cảnh sát mẫu mực theo như tôi thấy, và tôi muốn kể hết mọi chuyện ra, không dấu một chi tiết. Tôi đã định kể cho Sarah mọi chuyện, nhưng tôi không thể, cô ấy sẽ phải tạm giữ tôi trong vài ngày, lúc này đây thời gian không phải thứ tôi có nhiều.

Sarah nhẫn nại, im lặng nhìn tôi, vẫn chờ đợi câu trả lời. Mọi thứ xung quanh bỗng trầm cảm đến mức kì lạ, cái đe sắt như nặng dần đè lên ngực tôi.

REENGGG!!!

Chiếc điện thoại trong tay tôi rung bần bật, chỉ cần trong giây lát sự chú ý chuyển hướng sang chiếc điện thoại, tôi cảm thấy dễ chịu hơn nhiều.

- Xin lỗi, nhưng tôi phải đi nhận điện thoại.

Tôi đứng lên, quay lưng lại với Sarah. Cảm giác lúc đó gần như giống chạy trốn khỏi ánh sáng pháp luật, ánh sáng công lí, giống như cũng con chó đánh hơi sắp được thả ra để bắt lấy tên tội phạm.

Nhưng Sarah vẫn đứng yên đó, không ngăn cản.

- Alô? - số máy lạ, điện thoại không hề hiện số gọi đến.

- ALÔ? - vẫn không có tiếng trả lời

Bỗng nhiên phát ra từ đầu ông nghe, tiếng rì rào của sóng điện thoại hòa lẫn với một giọng nói quen thuộc mà lạ lẫm đến bất thường.

" Alan... anh ở... đâu....? Dưới này... lạnh quá... "

- Alice? ALICE??

" Không được nói chuyện với cảnh sát. Tao đang giữ vợ mày. Nếu mày muốn cô ta toàn mạng trở về thì phải tuân theo chính xác mọi chỉ dẫn của tao! "

Cái đếch gì ?!!

Người gọi dập máy, những hồi bíp dài kéo linh hồn tôi vào cõi vô tận. Cơn ngái ngủ ban sáng khiến vạn vật phủ lên nó một lớp màng siêu thực, mong manh và dễ vỡ, có thể cuộc gọi vừa rồi chỉ là do trí tưởng tượng phong phú của tôi tạo ra.

Điện thoại lại reo, lần này là tin nhắn.

" Bãi đỗ xe sau sở cảnh sát, bãi cỏ đi qua hàng rào, trong xác cái xe tải cũ. "

Thế thôi, một câu không hề có chủ ngữ, cụt lủn khiến người đọc phát bực. Nhưng rồi đâu đó trong tôi, mách bảo tôi nên kìm cái lòng kiêu hãnh của mình lại, rằng tốt nhất tôi nên làm theo những gì nó chỉ dẫn.

Tôi tự hỏi không biết Sarah sẽ nghĩ gì nếu tôi tự tiện bước đi như thế này, những bộ phim hình sự tôi đã xem qua trên truyền hình khiến tôi nghĩ đó sẽ là một sự phạm pháp rất nghiêm trọng. Nhưng có lẽ chỉ bước ra ngoài vài phút thôi sẽ không có hại gì, tôi tự nhủ.

Tôi quay lại nhìn cánh cửa đóng sau lưng, lưỡng lự trong giây lát rồi quyết định bước đi dọc theo hành lang. Trên bức tường hai bên, những khuôn mặt trắng đen hiển hiện trong vô vàn những thông báo tìm người mất tích, chạy dọc suốt hành lang, tờ này lấn áp tờ kia. Đôi mắt mờ mờ vô hồn của chúng bám riết theo tôi bằng một thứ keo dính vô hình. Cái cảm giác quen thuộc giống như khi tôi đến thăm một bảo tàng ở Milan, nơi những bức tranh được vẽ để tạo cho người xem ảo giác những con mắt trong tranh luôn dõi theo họ. Một số khuôn mặt trên những thông báo ấy tôi có cảm giác quen quen, không biết đã từng gặp ở đâu.

Một trong những tờ giấy đó lướt khỏi bức tường, rơi xuống tiếp đất nhẹ nhàng. Tôi mờ ảo nhìn thấy khuôn mặt mình trên đó.

Những chiếc đèn thước trên trần nhà bắt đầu chớp tắt liên tục, ánh sáng lập lòe khiến mắt tôi nhức nhối, cơn đau đầu ùn ùn kéo đến.

- Bà Weaver, tôi sẽ rất cảm kích nếu bà thôi không bật tắt cái công tắc nữa! Mấy cái đèn đóm có bị làm sao đâu?

Tôi đã tới sảnh chính của sở cảnh sát, một bà già phải đến hơn 60 tuổi lom khom ôm khư khư một cái đèn dầu bằng một tay, mắt nhìn lên ánh đèn trần như đang kiểm tra. Tôi sớm nhớ ra bà ta là người mà tôi đã gặp ở quán cà phê Oh Deer.

- Grant, tôi không có được tự tin như cô đâu . Những cái bóng đèn này cầm phải được thay sớm, nếu chúng hỏng đúng lúc cần sẽ rất nguy hiểm.

Vị cảnh sát chạc 40 tuổi, tóc nâu ngắn xoăn lên, dáng người mập mạp, tay chống nách, cô ngao ngán nhìn theo bà Weaver bước qua cánh cửa ra khỏi sở cảnh sát, bà ta vẫn còn hứa hẹn sẽ quay lại sớm để kiểm tra xem mấy cái bóng đèn có được thay mới không.

- Anh cần tôi giúp gì không, anh Wake? - cô ta quay ngoắt sang tôi, những nếp nhăn trên mặt tự tổ chức bản thân thành một khuôn mặt tươi cười hoàn toàn mới, giống như các nhà ảo thuật chỉ cần lướt bàn tay qua một cái là một cái mặt nạ khác xuất hiện vậy.

- Tôi cần ra ngoài hít thở không khí một tí, cảnh sát trưởng Breaker bảo tôi có thể ra sân sau một chút.

Tôi nói dối.

- Tất nhiên rồi. Anh có thể đi qua khu tạm giam, có một cánh cửa ở cuối hành lang.

Tôi không nghĩ rằng mình sẽ còn quay lại, sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi họ phát hiện ra tôi đã biến mất. Xem thì có vẻ tôi đã quá trầm trọng hóa vấn đề, nhưng rõ ràng đây là một vụ bắt cóc tống tiền.

Một làn gió thổi qua vai tôi. Tôi xoay người nhìn lại, cánh cửa bà già Weaver đi qua bị khép hờ. Giống như bao sở cảnh sát khác, cửa chính của sở là hai tấm kính to bản trong suốt, hay như nhiều người trong ngành thích ví von, công lí không có gì phải giấu giếm cả.

Hôm nay là một buổi sáng đẹp trời, ánh sáng dịu nhẹ làm mù lòa con mắt ngái ngủ và đường dải nhựa rộng thênh thang như mời mọc tôi chạy trốn. Không hề dối trá, tôi có thể nói mọi việc đã đi quá sức chịu đựng của một con người như tôi, luôn luôn có một ranh giới, những con số đi lại hàng ngày giữa chúng ta.

Nhưng vẫn chưa tới lúc.

Cánh cửa thình lình đẩy vào, một người cảnh sát khác đang hộ tống một kẻ dường như đã bị còng tay ra sau. Mặc một bộ quần áo thể thao trắng, hói đầu, ông ta nhăn nhó la hét ỏm tỏi.

- Lần thứ ba trong tháng rồi hả Walter? Vẫn chưa cai rượu hả? Lần này anh ta lại gây chuyện gì vậy? - Grant nguýt dài.

- Cai được đã tốt. Anh bạn đây tự dưng xông vào quán rượu đánh thằng bạn Danny của gã một trận tơi bời. Hắn cứ la hét như thế này từ lúc bị bắt - người cảnh sát dùng hai cánh tay khỏe mạnh, dốc Walter đứng thẳng lên ngay ngắn, nhưng cái hình hài ấy như một bị thịt vô dụng chỉ muốn ôm chầm lấy mặt đất.

Tiếng ken két của khung cửa sắt phòng giam vang lên trong dãy hành lang nhỏ hẹp. Người cảnh sát phủi tay như trút được gánh nợ. Tôi có đôi chút ngại ngùng khi con đường của hai chúng tôi trùng hợp, cảm giác như tôi đang theo dõi bọn họ vậy, nhưng thật ra cũng chỉ là cảm giác, người tốt thì không sợ quả báo.

- Các anh không nghe tôi gì cả... Hức. Tôi không nói dối... Hức - Walter run rẩy, bám tay vào song sắt cửa.

- Tôi buộc phải làm thế... Hức. Chúng bắt mất nàng thơ của tôi... Hức. Chúng không cho tôi lựa chọn nào khác... Hức.

Đôi mắt đỏ ngầu của người say liếc trúng tôi đúng lúc tôi đi qua. Mùi rượu bốc ra nồng nặc như một vòng bảo vệ đánh bật sự thiện cảm về khuôn mặt sáng sủa của người khác dành cho hắn.

- Mày... chính mày... Hức. Lỗi tại mày hết... Hức. Mày tắt đèn đi... chính mày... Hức. Mày làm tao không nhìn thấy gì cả... - giọng hắn hằn học, giống tiếng chó sủa hơn là tiếng người.

- Ê - người cảnh sát dùng dùi cui gõ vào song sắt - câm miệng đi Walter, đi ngủ đi!

Walter quay lưng đi, dúi đầu vào góc tường. Tôi vẫn còn nghe thấy hắn lầm bầm. "Chúng mày sẽ chết hết, tao giết hết chúng mày... Hức.".

Sân đỗ xe của sở cảnh sát, không có gì đặc biệt ngoại trừ một chiếc xe cứu thương lại đỗ nơi đây. Ánh sáng của buổi ban sớm lại thiêu đốt đôi mắt tôi và khiến cơn đau đầu âm ỉ, cuộc goi nặc danh đó bảo tôi đi tới bãi có phía sau hàng rào, có cái gì đó ở trong cái xác xe cũ.

Nó đây.

Tấm bằng lái xe của Alice được đặt trên ghế trước. Nhìn vào bức ảnh dán trên nó khiến cho ruột gan tôi thắt lại. Tên bắt cóc chắc chắn muốn một cuộc thương lượng mua chuộc.

Điện thoại gieo, số lạ.

- Thằng chó! Mày giữ vợ tao ở đâu?

- Cẩn thận cái mồm, anh Wake. Vợ anh có sống được hay không là tùy anh. Tuyệt đối không gọi cảnh sát, nếu không tôi sẽ giết cô ta. Đêm nay tại khu sinh thái Rừng Già, có một địa điểm gọi là Đỉnh Núi Tình Nhân, ta sẽ thương lượng chi tiết tại đấy. - Cạch... Tút... Tút...

- Alô? ALÔ?? ... Đị...ttt, chó đẻ nhà nó!!!

Điện thoại lại gieo, số lạ.

- ALÔ!!!

- Giời ạ! Wake! Cậu làm quái gì ở đâu thế! Tớ cố liên lạc cho cậu và Alice cả tuần này rồi! Bảy ngày trong tuần! Năm lần một ngày!

- ¬Ờ ờ... Barry đó hả? - tôi dần dần nhận ra.

- Mẹ ơi! Mất liên lạc bảy ngày mà cậu làm như không! Tớ phải mượn điện thoại của người khác để gọi đây. Tớ đáp máy bay tới Bright Falls rồi, cậu đang ở đâu?

- Barry, nghe này. Tôi đang ở sở cảnh sát, tới đón tôi, luôn và ngay, không thể nói chuyện bây giờ được!

- Al, cậu bị làm sao thế hả? ...

Tôi cúp máy. Barry xuất hiện đúng lúc này quả là một sự giúp đỡ lớn, đã quá lâu rồi tôi mới cảm thấy thực sự vui mừng khi gặp được cậu ta. Có lí do mà tôi chọn cậu ta làm quản lí tài chính của mình, trong khi tôi luôn né tránh những công việc giấy tờ quan liêu, cậu ta lại rất khá trong vụ này, ít nhất là hơn tôi. Tôi cần phải khiến cho Sarah phải thả tôi đi, cần có đủ thời gian để tôi chuẩn bị gặp mặt tên bắt cóc .

Quay lại trong nhà, tôi đẩy cửa để quay lại dãy hành lang phòng tạm giam tối tăm. Walter giờ đã ngủ say, tôi có thể nghe thấy tiếng ngáy rên rỉ thoát ra từ cổ họng hắn. Một gã khó ưa, không phải tiếp xúc với hắn thì càng tốt.

Nhưng lẫn trong tiếng thở khò khè của hắn là một thứ tiếng động khác. Chiếc tivi ở cuối góc phòng đối diện với nơi tôi đứng, treo trên cao phát ra những tiếng xì xào như sóng biển ở nơi nào đó xa xăm. Tôi không hề nhớ có chiếc tivi nào được bật ở đó lần đầu tiên tôi bước vào đây cả.

Rồi không hề báo trước, màn hình tivi lóe sáng.

" Một nhà văn là thứ ánh sáng cứu thoát thế giới câu truyện của anh ta khỏi bóng tối, ban cho nó hình dạng từ cõi hư vô, như một cái dùi chạm khắc những đường nét từ một tảng đá vô hồn... " - giống như đêm hôm qua, người trong tivi vẫn là tôi, và vẫn tại căn phòng ấy, kẻ trong đó đang ngồi ngay ngắn trước cái máy đánh chữ.

" Nếu mà bây giờ mình dừng lại, thế giới mình tạo ra sẽ chết. Bóng tối sẽ dành lấy nó!... " - cánh tay của tôi lướt nhanh trên bàn phím, những dòng chữ cứ đều đều nối tiếp nhau dài dần ra, giống như tôi đang đánh một văn bản được chép lại không cần suy nghĩ.

" Mạng sống của Alice đang ngàn cân treo sợi tóc, nhưng mình không thể lo lắng quá nhiều được, nó khiến cho thần trí bấn loạn. Sự kinh hãi dai dẳng nơi khóe mắt. Mình phải cố lên. Mình sẽ làm được. Mình sẽ hoàn thành câu truyện. Mình sẽ cứu được Alice!..." - "tôi" trong tivi ôm lấy đầu nhăn nhó, tay đập xuống mặt bàn có vẻ thất vọng. Chiếc tivi bốc khói, không còn gì khác ngoài cái màn hình đen xì cùng với mình tôi bần thần đứng đó.

Là lần thứ hai được chiêm ngưỡng hiện tượng này, đầu óc của tôi không còn đông cứng như trước, thậm chí ngược hẳn lại. Chỉ vài phút trước đây thôi, những tưởng rằng tôi đã tỏ tường mọi thứ, Alice bị bắt cóc, sự thực khủng bố. Thế mà bây giờ, tôi đứng chôn chân nơi đây, cảm giác giống hệt đêm qua, như tôi vừa tỉnh dậy sau bánh lái của một cái ôtô dúm dó khác, hờ hững và lạc lõng với những câu hỏi lại sống dậy. Hoặc là vụ bắt cóc này còn thứ gì đó ẩn chứa đằng sau, hoặc tôi đã hiểu sai toàn bộ sự kiện đã xảy ra.

Khi nào gặp hắn tôi sẽ phải làm sao cho rõ ràng. Đó là kế hoạch tương lai. Tôi bước ra khỏi gian phòng tạm giam, và dù tôi đã dự tính điều này từ trước nhưng lòng tôi vẫn không tránh khỏi bồi hồi lo lắng. Mọi người đang tụ tập lại dường như đang đổ đi tìm tôi, còn Sarah đang đứng trước mặt, tay chống nách, ánh mắt cồn cào những câu hỏi tôi không muốn trả lời.

- Anh cảm thấy ổn chưa, anh Wake? - chỉ tới khi Sarah cất những lời đầu tiên, tôi mới có thể thở hắt ra.

- Thực ra thì... tôi cảm thấy không khỏe lắm. Tôi muốn đi ngay bây giờ!

- À, thực ra tôi vẫn còn nhiều điều muốn hỏi...

- Vậy tôi đang bị giam giữ đấy phải không? - không đợi Sarah nói hết, tôi đã ngắt lời cô ta.

- Không, tất nhiên là không - Sarah ngạc nhiên trước sự thay đổi thái độ của tôi, cô khá rành rẽ các quy định của hiến pháp, và cô biết tôi có quyền được ra đi tự do, tình huống đã thế này chỉ có thể mềm mỏng - nhưng tôi cần biết anh sẽ đi đâu để liên lạc khi có việc cần.

Cô ta chắc chắn phải cho tôi đi, xem ra không cần đến Barry tôi vẫn có thể tự lo mọi chuyện ổn thỏa.

Đúng lúc này, một kẻ lạ mặt xen vào. Đứng theo dõi cuộc nói chuyện từ nãy tới giờ, ông là một người có giọng nói hơi cao, khuôn mặt sáng sủa và đầu tóc gọn gàng nhưng không hiểu sao từ cái ấn tượng đầu tiên tôi đã cảm thấy mình đã cắm một mũi tên thù ghét vào cái nụ cười tự đắc của hắn.

- Tôi là bác sĩ trị liệu tâm lí của vùng này. Tôi rất hân hạnh nếu anh có thể đến Viện điều trị Hồ Cauldron ở, nơi đấy anh sẽ nhận được đầy đủ sự chăm sóc y tế cần thiết.

- Bác sĩ Emil Hartman đây rất khá - viên cảnh sát Grant tiếp lời - ông ấy làm trong lĩnh vực chuyên điều trị các nghệ sĩ, tôi thấy đó là ý kiến hay đấy!

Thực ra lời nói của viên cảnh sát hoàn toàn không lọt vào tai tôi, chính xác là tôi chỉ nghe được một chữ. Cái tên Hartman. Ha! Bằng cách nào đó không phải mọi cảm giác của tôi đều vô lí do.

- Ông là Hartman?

- Phải chính tôi.

Tôi chỉ thẳng ngón tay vào mặt hắn.

- Có phải chính ông đã nói chuyện với vợ tôi không??

Giọng vẫn điềm tĩnh như không có chuyện gì, hắn hất hàm như nhơn nhơn trêu ngươi tôi.

- Tôi thực sự rất mừng có dịp được thảo luận với cô ấy về tình hình của anh. Chính tôi đã đưa lời đề nghị mời các vị tới đây. Viện điều trị của tôi là nơi tuyệt...

Một số người luôn thắc mắc về những người hay gây gổ, họ nghĩ gì mà tự thích đâm đầu vào rắc rối. Alice cũng từng hỏi tôi nhưng điều tương tự như vậy, nhưng tôi không trả lời, tôi không biết, đơn giản là vì những lúc như thế tôi chẳng nghĩ gì cả. Hộp sọ rỗng không như một căn nhà hoang không người.

BỐP!

Gia tốc nhanh bị dừng đột ngột chuyển thành động lực lớn. Các khớp ngón tay tôi đau rát. Điều tiếp theo tôi biết là máu của gã Hartman bắn ra thảm trải sàn, và cảm giác thích thú khi tôi nghe thấy tiếng sụn của hắn kêu răng rắc. Không ai xung quanh thấy trước điều này cả, Sarah chỉ vừa kịp ngăn tôi tung ra cú đấm thứ hai, còn viên cảnh sát Grant đang bận giúp đỡ Hartman đứng dậy, cú đấm thẳng vào sống mũi của tôi khiến hắn mất thăng bằng quỳ sụp xuống đất. Tình hình rất hỗn loạn, như mọi khi tôi lại là kẻ tự chuốc vạ vào thân.

Cánh cửa sở cảnh sát mở tung ra.

Những khoảng khắc này là lí do vì sao tôi vẫn cần Barry.

- Ê, TẤT CẢ ĐỨNG YÊN! Cô kia, bỏ tay ra khỏi thân chủ của tôi!!

Sarah sốc, không phải bởi kinh hoàng mà bởi sự quái dị có chân đang đứng trước mặt. Như một cái đèn lồng biết cựa quậy, Barry mặc một chiếc áo gió nhồi lông chim hay bất cứ thứ gì phồng tướng lên, khiến cậu ta đã mập mạp lại càng trương phình to tướng. Dường như không đủ, cậu ta lại để một kiểu đầu đinh nửa mùa, toàn thân cậu ta như mẩu đất sét được vo tròn. Cuối cùng chiếc quần nửa ngố nửa dài để hở đôi tất thể thao trắng kết thúc một giọt nước chanh nhỏ vào mắt quan khách.

- Anh là ai?? - Sarah hỏi, vẫn không thể rời mắt khỏi cậu ta.

- Tôi là Barry Wheeler, đại diện của ông Alan Wake - giọng cậu ta dõng dạc, như thể tuyên bố mình là thủ tướng vậy - các người muốn gặp ông Wake, các người phải nói chuyện với tôi trước!

Barry nhìn xuống Hartman lồm cồm vẫn chưa bò hẳn dậy, cậu ta thoáng nhìn là biết tôi lại gây rắc rối, nhưng giải quyết rắc rối là công viêc của Barry.

- Mấy thằng nhà quê vô học, chúng bây nghĩ mình là vương làm tướng ở đây được hả? Ta mà búng ngón tay cho luật sư đến, kiện cho chúng bây đi tù mọt gông, rồi tha hồ mà xem lỗ đít nở hoa nhé!

Barry nói như thể Hartman mới là người đấm tôi chứ không phải ngược lại. Cái bài dọa dẫm này cũng cứu thoát chúng tôi đôi ba lần, nhưng thường nó lại chuốc cho chúng tôi nhiều phiền nhiễu hơn.

- Không sao, không sao - gã Hartman cười xuề xòa, đặt một tay lên vai Sarah - tôi không sao, Sarah. Tôi không muốn căng thẳng - gã giả vờ rộng lượng, cứ như tôi cần hắn bào chữa cho tôi vậy.

- Anh Wake. Lời đề nghị của tôi vẫn còn đó, xin anh suy nghĩ kĩ càng - đôi khi tôi có cảm giác gã không có liêm xỉ vậy.

Ném cho gã một cái nhìn bực dọc, tôi đi nhanh ra cửa, Barry theo sau. Tôi biết chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi Barry nổ còi.

- Cái quái gì thế hả Alan? Cậu ngồi không rỗi việc quá hả? À hay lại một quả maketing bằng xì-căng-đan như vụ hành hung phóng viên hồi trước? Tớ ủng hộ thôi, nhưng tớ bảo đừng lạm dụng quá kẻo lại giống như mấy con mắm ở Hollywood đấy. Hiểu ý tớ không? Hả? - cái khiếu hài hước tệ hại của Barry tôi không hiểu là bẩm sinh hay do tập luyện - Cười lên nào chàng!? Hú hồn, tớ tưởng bà cảnh sát kia sẽ bắt cậu lại cơ đấy.

Một người bước ra từ tình cảnh như tôi sẽ không có đủ cơ mặt để mà cười, vẫn còn bao thứ bộn bề đáng lo hơn.

- Cậu để xe ở đâu? - tôi hỏi.

Barry chỉ sang phía bên đường, tôi rảo bước sang phía bên đó, gần như đang chạy. Bởi một lẽ, giống như Sarah, Barry cũng có hàng vạn câu hỏi tôi chưa muốn trả lời.

- Alan, nói với tớ đi, cho tớ biết có chuyện gì xảy ra thế? Tớ là bạn cậu mà.

- Lên xe mới nói được - chưa thôi.

Sarah nhìn theo hai bóng người đang dần mất hút. Thật kì quặc, chỉ vừa lúc trước anh ta làm nhặng xị cả sở cảnh sát lên vì người vợ mất tích, mình còn bao nhiêu câu hỏi cho anh ta. Thế mà bây giờ anh ta lại vội vã bỏ đi, thậm chí không hề nhắc tới việc tìm kiếm nữa, như anh ta đã biết vợ mình ở đâu rồi vậy. Có gì đó thay đổi, có gì đó đã diễn ra trong lúc cô không để mắt tới Alan. Mặc dù linh tính mách bảo hoàn toàn ngược lại, nhưng cô cần đưa Alan vào diện tình nghi, cô cần phải để mắt tới anh chàng kì cục này, và bỗng cô nhận ra, cô đã quên không hỏi Alan định đi đâu.

*
* *​

Tôi biết câu truyện của tôi điên rồ, rằng không ai có thể tin được nếu không tận mắt chứng kiến, nhưng tôi phải kể với một ai đó. Ít ra, với Barry, tôi có thể chắc rằng dù không tin, cậu ta vẫn nghe tôi nói. Tôi kể với Barry tất cả mọi thứ. Đúng như tôi nghĩ, thoạt đầu Barry tưởng tôi đang lên cơn mất trí, nhưng khi nghe đến đoạn các trang bản thảo, Barry tỏ ra hứng thú thấy rõ. Cái việc tôi đã viết được cái gì đó, dù tôi hoàn toàn chẳng có tí kí ức nào về nó, là đã đủ thỏa mãn cậu ta. Barry ngửi thấy mùi tiền. Tiện thể cậu ta cũng tin rằng Alice đã bị bắt cóc. Ngoài những thứ đó ra, các chi tiết còn lại lại là một câu truyện hoàn toàn khác.

Tên bắt cóc đã hẹn tôi tới công viên quốc gia Khu Rừng Già, nơi nào đó gọi là Đỉnh Núi Tình Nhân vào lúc nửa đêm, cho nên chúng tôi cho rằng thứ khôn ngoan để làm trước tiên là thuê một nhà nghỉ ở khu vực đó. Tôi đoán những địa điểm thu hút khách du lịch như thế này luôn có một khu nhà nghỉ ở gần. Tới trước cổng khu nhà nghỉ tọa lạc dưới chân núi được cả công viên hình cánh cung ôm trọn lấy, suốt dọc đường Barry cứ lải nhải cố gắng khẳng định những gì tôi nói là ba láp, đến tận khi xoay nắm đấm của vào khu nhà chính rồi vẫn không buông tha.

- Tớ không thích chuyện này, Al. Tớ không thích tí nào hết. Chuyện cậu kể cứ kì dị thế nào ấy.

Có người tiến tới, Barry lắm mồm nhưng cũng biết lúc nào nên câm lặng. Nhưng người tiến tới không phải ai xa lạ, Rose, cô phục vụ tại quán cà phê hôm ấy.

- Anh Wake! - cô ta thích thú reo mừng, còn tôi thì không được thoải mái như thế

- Chào Rose... - Barry lên tiếng trước, giọng điệu lả lơi một cách kì cục.

- ANH BARRYYY!!! Anh tìm được anh Wake rồi hả? - có thứ gì đó kì quặc xảy ra giữa hai người này, tôi cảm thấy mình đang xem bộ phim về mối tình mẫu giáo vậy.

- Ồ anh Wake, anh vẫn khỏe là tôi vui rồi. Tôi chỉ tiện đường mang cho Rusty chút cà phê ấy mà. Anh ấy làm việc ở đây, đang chăm sóc Max, khổ thân nó.

Vâng, cứ ba hoa đi, làm như tôi chẳng còn việc gì quan trọng khác để làm ấy.

- Thôi nhé, tôi phải đi đây. Chào anh Barry, chào anh Wake, bao giờ mình gặp lại nha!

Bao giờ mình không bao giờ gặp lại nha!? Tôi ước vậy. Nhìn cái điệu bộ Barry nháy mắt rồi Rose tươi cười lại, tôi thà thuê một cuốn phim Hàn Quốc sướt mướt xem còn hơn.

- Max là ai thế nhỉ?

- Người yêu cô ta, chắc thế - Barry cố phát ra một điệu cười giả vờ rõ to với trò đùa của tôi.

Gian sảnh chính, tôi tưởng mình lạc vào một viện bảo tàng được dựng lên bằng gỗ, khắp nơi tôi nhìn treo những tranh ảnh, những tiêu bản ép khô của hoa và bướm, những đầu hươu và đồ lưu niệm treo trên tường, và quả là thiếu sót nếu không kể đến cái hiển hiện trước mặt: một khung xương voi khổng lồ đúng kích thước thật dường như được làm bằng nhựa, một loại ma mút Columbia gì đó theo như những gì viết trên bảng chỉ dẫn.

- Cô ta đúng là đồ đầu rỗng tóc vàng, hợp với cậu lắm Barry ạ - chỉ cần nhìn thoáng qua là tôi biết Barry nghĩ gì, đôi lúc tôi cảm thấy mình như muốn gây sự với bất cứ ai tôi gặp.

- Con lạy ông nội, ông nội tháng này bị táo bón hay sao mà khó tính thế? - cậu ta đốp lại - đâu phải lỗi của cô ấy, cô ấy rất tử tế là đằng khác. Hơn nữa - Barry nhấn mạnh - cô ta là fan nữ, có hẳn một website cho anh đấy, cô ta còn giúp tớ tìm cậu nữa.

Và như thế chủ đề chính đã chuyển sang tôi, dù tôi đã cố gắng né tránh.

- Tớ nghiêm túc đấy, Al. Bây giờ cậu có còn tự lắng nghe xem mình nói gì nữa không đấy? Cái thứ cậu kể với tớ trên xe ấy? Cậu bắn chết một gã? Rồi xác gã tự động biến mất? Mấy ngày cậu chưa ngủ rồi hả Al? Cậu đang dùng "thuốc" phải không? Cậu đang lên cơn phê hay lên cơn say đấy?

Giời ạ. Tôi ước vào cái đêm hôm qua cậu ta đã ở đấy bị Stucky đuổi cho xoắn hết cả đít lại thì mới tin. Tôi không mong đợi gì nhiều ở Barry, nhưng chí ít ra cậu ta không nên phủ nhận hoàn toàn những gì tôi nói chứ?

- KHÔNG!!? Nghe này Barry, tôi bị mất tích một tuần, và có ai đó bắt cóc Alice, và rồi...

Barry đã ra dấu tay dừng lại trước khi tôi kịp kết thúc câu nói.

- Không, cậu mới phải nghe này. Cậu biết kiểu ăn nói như thế giống người gì không? Đừng hiểu lầm, tớ là bạn cậu, quan trong hơn, tớ là ông bầu của cậu. Những thứ đấy có thể làm nên một cuốn sách tốt, thậm chí bán chạy là đằng khác. Nhưng khi mà cậu bắt đầu lẫn lộn giữa viễn tưởng và thực tế, cậu chuẩn bị đi ăn cơm ở Châu Quỳ được rồi đấy!

Tôi bắt đầu cảm thấy hối hận khi kể cho Barry biết mọi chuyện. Biết rằng cậu ta luôn hỗ trợ tôi dù có chuyện gì xảy ra bởi tôi chính là người viết séc trả tiền lương cuối tháng, nhưng thói lắm mồm của cậu ta cũng khiến tôi bực mình, tôi không cần có người kè kè bên hông để nói cho tôi biết mọi sự điên rồ đến cỡ nào, điều đó tôi rõ hơn ai hết. Dẫu vậy tôi cũng chẳng thể nào phản bác được Barry bởi cậu ta cũng chẳng nói gì sai cả.

- Thôi thôi cậu đứng đợi đây cho tôi nhờ!

Barry biết ép quá cũng không dẫn đến kết quả gì, cậu ta lo lằng đứng đằng sau nhìn tôi bước đi. Tôi cần yên tĩnh một lát, để có thể nhìn thông suốt những chuyện đã xảy ra và các khả năng bên cạnh có thể khác. Đôi lúc tôi cũng cực kì nghi ngờ sự minh mẫn của mình, nhưng tôi tuyệt đối tin tưởng vào cảm giác bản thân, dẫu sao đến tôi nay, mọi chuyện sẽ được rõ ràng hơn.

Rusty ở đâu đó xung quanh đây. Người kiểm lâm mà trước đây tôi gặp ở quán cà phê lại là người quản lí khu nhà nghỉ này, quả là một sự trùng hợp. Tôi ngày càng thấy thị trấn này nhỏ lại, giống như bạn không thể ra đường mà không gặp được những người bạn đã quen từ trước. Đi nghỉ ở đây thì còn được, chứ nếu mà phải sống ở đây từ năm này qua năm khác thì tôi buồn đến chết mất.

- A, chào anh Wake!

Tôi tìm được Rusty ở ban công phía ngoài khu nhà. Anh ta đang lúi húi băng bó cho một con vật nằm trên bàn, đang rên ư ử vì đau.

- Nhẹ nhàng thôi cậu bé. Ta sắp làm xong rồi.

- Xin lỗi anh, tôi muốn bắt tay anh nhưng tôi đang bận ở đây một chút - Rusty phân trần.

- Anh Rusty, có phải anh cho thuê phòng trọ phải không? - tôi bỗng sực nhớ là tôi không mang theo nhiều tiền mặt, nhưng có thể Rusty nhận thẻ tín dụng, hoặc cùng lắm tôi sẽ mượn tiền Barry.

- Ồ tất nhiên, nhưng lại phải xin lỗi anh lần nữa, phiền anh lấy hộ tôi bản đăng kí ở trên bàn trong kía với, đối diện với bộ xương con ma-mút ấy. Tôi vẫn còn dở tay.

Nhìn thấy ánh mắt tò mò của tôi với chú chó đang nằm trên mặt bàn, một chân bị thương, Rusty vội giải thích.

- Bọn thợ săn khốn nạn. Chú chó Max đây bị dẫm phải một cái bẫy gấu. Khu rừng này đã bị cấm không săn bắn, nhưng mấy thằng rác rưởi vẫn cứ mặc kệ. Cứ đến tối là tôi nhìn thấy nhiều bóng đen lẩn khuất trong khu rừng, nhưng đến khi tôi mang đèn xuống kiểm tra thì lại chẳng có ai cả.

Tôi có một vài phán đoán lờ mờ, nhưng tốt nhất không nói cho Rusty.

- Dù sao trông Max có vẻ cũng ổn rồi phải không? - tôi nói một câu cho có lệ, bước đi khỏi. Tôi không biết Rusty nghĩ gì chứ chẳng lẽ khách hàng không quan trọng bằng một con chó?

Tôi lại quay lại chỗ Barry lắm mồm, không biết có phải vậy không, nhưng ngay khi nhìn thấy tôi, cậu ta lại ngay lập tức mở máy miệng, như chưa bao giờ dừng.

- Tớ nói thật đấy Al! Cậu không thể cứ thế mà tay không đến gặp tên bắt cóc được. Hắn ruốt cuộc sẽ hại cậu bằng cách nào đó, lấy rìu bổ đôi đầu cậu chẳng hạn?

Cậu phải báo cho cảnh sát!

Giờ thì cuộc đối thoại bắt đầu vượt qua giới hạn của nó. Tôi biết Barry nói vậy chỉ vì quan tâm đến tôi, nhưng không ai thoải mái khi người ngoài xía mũi vào chuyện riêng tư của mình cả.

- Alice là vợ tôi và tôi là chồng cô ấy! Đây là quyết định của TÔI!

Tôi cúi đầu thở dài, cố tự trẫn tĩnh mình lại, một đằng tôi lại giơ tay ra hiệu cho Barry đừng nói gì nữa.

- Nghe này, chúng ta bàn chuyện này sau, được không?

Ngừng một lúc để biết chắc Barry không nói nữa, tôi vớ vội lấy cái bảng đăng kí trên bàn. Cậu ta im lặng trông giống một quả bom, chỉ chờ chực nổ. Khoảng thời gian còn lại mọi việc diễn ra khá suôn sẻ, Rusty cuối cùng cũng trao cho tôi chìa khóa phòng nghỉ và lời chỉ dẫn đường đi lên Đỉnh Núi Tình Nhân, không quên căn dặn chúng tôi cẩn thận với đám thợ săn ăn trộm vào ban đêm. Cơn dằn dỗi của Barry vẫn chưa dứt, cậu ta thậm chí còn không thèm nhìn vào mắt tôi. Phải đợi đến khi tôi mở cửa bước đi khỏi, cậu ta mới lẽo đẽo theo sau, giữ một khoảng cách lạnh băng bất biến.

*
* *​

Trong những giây phút im lặng hiếm có, giác quan của ta được cường hóa lên, da tiếp nhận những cái vuốt ve của không khí sởn gai ốc, đôi tai dỏng lên cảnh giác với những hạt bụi cọ sát vào nhau. Trong lúc bước theo Alan tới bãi đỗ xe, Barry bất thần nhận ra ở phía đầu bên kia bãi đỗ một bóng đen có dáng một người đàn bà vận đồ tang, Barry nghĩ rằng người đó đang nhìn chằm chằm về phía mình.

Nheo mắt lại để nhìn cho rõ, bằng một cách kì diệu nào đó cái bóng đen thay đổi, chỉ còn là một đống lá cây lay động trong gió. Barry lắc đầu cười thầm vì sự ngớ ngẩn của mình, anh nghĩ có lẽ mình lúc nào đó nên ghé qua chỗ Rose làm một tách cà phê. Thiếu chất caffein chảy trong mao mạch làm Barry cảm thấy mình bị dễ bị tác động bởi sự hoang tưởng của Alan hơn. Không có gì đáng sợ ở đây cả, Barry tự trấn an mình, cố gắng dẹp yên nỗi lo sợ mới hình thành, nhỏ nhoi và cứng đầu không chịu biến mất.

*
* *​

Sự lạnh nhạt vẫn còn kéo dài ngay cả khi tôi và Barry đã ngồi chung khoảng không gian chật hẹp bên trong chiếc ôtô, cùng một hàng ghế trước. Barry mở cửa sổ, tay chống cằm hướng mặt ra ngoài trong khi tôi đang tập trung lái. Đôi khi tôi cảm giác cậu ta nhìn trộm tôi, đôi khi cậu ta lại hạ tay xuống quay mặt lại như muốn nói gì đó, nhưng rốt cuộc lại đưa tay kia lên chống cằm mơ màng tiếp. Lời nói của tôi có thể gây tổn thương, và tôi biết rõ mình có lỗi với Barry, nhưng tôi lại muốn lợi dụng những khoảng khắc im lặng hiếm có với Barry như thế này, những khoảng tĩnh lặng để tôi có thể bình tâm suy tính bước tiếp theo.

Chiếc ôtô đánh phanh cái két, Barry bất ngờ theo quán tính ngã ra trước, nhưng cái thân cử tạ của cậu ta làm nhiệm vụ tốt hơn cái túi hơi bảo hiểm xe, đã đỡ toàn bộ trọng lực của khổ chủ. Tôi ngắt chìa khóa ôtô, mở cửa ra, lạnh lùng không nói câu nào bước xuống xe trong khi Barry vẫn chưa đứng nổi dậy để hiểu truyện gì đang xảy ra.

- Ê Al, cậu đi đâu đấy!?

Chỉ ghé qua nơi này một chút thôi, Barry không cần biết tường tận làm gì. Hơn nữa tôi không muốn có người biết tôi đã đến đây, trong khi Barry là cái máy thu hút chú ý bẩm sinh. Tôi dừng lại, đứng dạng hai chân, chắc chắn là Barry không đi theo tôi, trong khi ngước cổ lên nhìn tấm bảng nêon không còn phát sáng vào ban ngày.

" TRẠM XĂNG STUCKY "

Những giác quan trong cơ thể tôi dựng đứng hết cả lên. Những gì xảy ra đêm qua với tôi là thật, và dù không có bằng chứng nào để xác minh, tôi luôn có nỗi sợ hãi chân thật của mình làm đồng minh biện hộ, nhất là khi càng bước chân lại gần, cái cảm giác ấy trong tôi lại càng hiển hiện, rõ ràng hơn. Nhưng hôm nay tôi không đến đây để tìm một nhân chứng cho sự trong sáng vốn có của mình.

Đẩy cánh cửa của tiệm tạm hóa, tôi bước vào, mọi thứ ở nơi đâu vẫn yên vị chỗ ấy. Tôi rảo bước qua quầy tính tiền, vô tình ánh mắt chạm vào cái tivi màn hình lồi ở gian gara bên cạnh. Tôi chăm chăm vào nó một hồi, tỏ ra như vị học trò muốn lắng nghe thuyết giảng, mong rằng một thứ kì lạ, một thứ phép màu sẽ diễn ra giống như cái đêm hôm qua. Chỉ cho đến khi nhận ra mình thật ngớ ngẩn, tôi mới giật đứt được sự tò mò của mình khỏi cái màn hình đen thui. Có thể Barry nói đúng, tôi đang dần dần mất trí. Nhưng tôi có thể cam đoan một điều, những gì tôi đã trải nghiệm là thật, và nếu có ai ở trong tình cảnh của tôi mà không mất trí thì kể cũng lạ.

Đóng cánh cửa lại nhẹ nhàng vụng trộm, tôi chuẩn bị dời đi sau khi tìm được thứ mình muốn. Tôi cảm thấy kì lạ khi cảnh sát vẫn chưa biết đến sự mất tích của Stucky, suy xét đây là một thị trấn nhỏ nơi người biết người. Và như thế tôi lại càng bồn chồn hơn, không thể biết lúc nào một chiếc ôtô gắn đèn xanh đỏ sẽ đến đây bất thình lình và bắt gặp tôi tại trận được. Sự có mặt của tôi tại hiện trường có thể không đủ để kết tội tôi nhưng một cái lịch tạm giam vài ba ngày đã là quá xa xỉ khi tính mạng của Alice ngàn cân treo sợi tóc. Giữa chốn heo hút, tôi hi vọng không ai nhìn thấy mình.

Một ánh mắt có thể là vô hình nhưng lại có sức nặng của riêng nó, tôi cảm giác như có ai đâm một mũi lao qua gáy. Quay đầu lại, cái cảm giác lạnh cóng ấy dẫn dắt ánh mắt tôi tới một hình dáng người đàn bà bé nhỏ đứng ở đầu bên kia trạm xăng, quan sát tôi với thái độ dò xét đè lên ngực khiến tôi khó thở.

Đó là bà già quái đản tôi gặp ở quán cà phê và đồn cảnh sát, bà Weaver. Tôi dụi mắt nhìn lại cho kĩ, nhưng bà ta dửng dưng không có thái độ gì, cỏ cây dường như cũng lặng im theo. Bất thình lình, bà ta quay đi, ung dung ôm cái đèn dầu đi theo con đường mòn vào khu rừng hun hút phía sau lưng, biến mất như chưa từng tồn tại.

Đúng là mụ già quái dị, tôi nghĩ. Nhưng thật ra đó cũng chẳng có gì to tát lắm, chắc cũng không có ai tin lời một bà già lập dị đâu. Nghĩ đoạn tôi quăng mình xuống đệm sô pha ôtô, Barry ngồi bên cạnh khoanh tay tỏ vẻ giận hờn, đợi một lời giải thích.

- Alan, cậu biến đi nơi quái nào vậy? Tớ tưởng cậu đi sống với muôn thú rồi cơ đấy? Cái gì trong túi áo cậu kia? MỘT KHẨU SÚNG?!

Barry đã nhìn thấy ánh lấp lóe từ ổ đạn kim loại trong túi áo tôi, tôi không hề có ý định cho cậu ta biết. Đêm hôm qua trong lúc đợi xe cảnh sát tới, tôi vô tình phát hiện một khẩu lục ổ đạn xoay được lấp dưới những giấy tờ kinh doanh và quảng cáo linh tinh khác, cùng với một hộp 16 viên đạn đặt ngay ngắn bên cạnh.

Vào thời khắc lúc ấy, tôi không hề có một dự định nào, tôi đã an toàn, ấm áp trong ánh đèn của cửa hàng. Vì vậy, tôi đóng ngăn kéo lại để yên khẩu súng ở nơi nó thuộc về. Một phút sau, cảnh sát Breaker đến và tôi bước khỏi dường như đã quên tiệt về khẩu súng. Nhưng đến sáng nay, một cuộc điện thoại đã làm thay đổi ý định của tôi. Tên bắt cóc giữ Alice, và ngăn cấm tôi không được gọi cảnh sát. Có thể tôi bắt buộc phải nghe lời hắn, nhưng ít ra khi đến tối nay gặp mặt, kẻ mà hắn gặp sẽ không phải là một nạn nhân yếu đuối thụ động nữa. Tưởng tượng về khoảng khắc ấy. tôi mím môi, nắm chặt tay lại.

Tôi biết Barry rất kinh ngạc, và ngay khi miệng cậu ta mấp máy chuẩn bị nói thì tôi đưa một ngón tay lên môi ra dấu im lặng.

- Không phải ở đây! Về tới nhà nghỉ cái đã!

Buổi chiều tối, mặt trời hất mái tóc óng ả và hoang dã xõa lên nền đất, ánh nắng vàng buông xuống mắc kẹt vào những khe lá ngọn cỏ rối răm, và với mỗi bước đi khuất núi của quả bóng lửa đỏ rực rỡ, những sợi tơ mềm mại vô hình thô bạo và vô tình cào sới, kéo theo nó nụ cười của cỏ cây, đến khi thứ còn lại chỉ là bóng tối ma quái bao trùm, phủ thứ vải đen đúa lên vạn vật. Nhưng vẫn còn lóe sáng, ánh trăng yếu ớt trên cao buông bàn tay bạc lấp lánh xuống xoa dịu đi sự thê lương, cố gắng tuyệt vọng không bị xóa nhòa đi trong màn đêm, thu mình chờ đợi bình minh mới.

Thấp thoáng trong khu rừng thông dày đặc, chúng tôi tìm được khu nhà nghỉ của mình. Không như các khu du lịch sang trọng hào nhoáng khác, phòng nghỉ của chúng tôi là hẳn một căn nhà gỗ riêng. Giản dị và không hoa mĩ, chỉ giống như căn nhà gỗ của ông nông dân hay bác tiều phu, nhưng tôi phải công nhận ngôi nhà hòa mình vào khung cảnh một cách hoàn hảo. Mặc dù xung quanh căn nhà của chúng tôi còn vài chục ngôi nhà gỗ khác nữa, nhưng chỉ cần bước chân vào thôi tôi đã cảm thấy không gian êm ả tách biệt, giống như mình là một vị hiền triết lập dị sống ẩn dật trong rừng vậy.

Tôi tuột giày ra văng trên sàn nhà, cái túi xách da rơi đánh uỵch xuống dưới đất, mắt tôi liến thoắng khắp nơi tìm cho mình một cái giường êm ái hoặc thậm chí một cái ghế sô pha cũng đủ. Căn nhà gỗ một tầng có đầy đủ tiện nghi, từ bàn ghế, tủ sách, tivi, thậm chí xoong chảo vẫn còn đặt trên mặt bếp trông rất tự nhiên. Giống như vài giây trước khi chúng tôi tới, căn nhà này vẫn còn người ở. Barry đang phàn nàn không khí bụi bặm trong nhà có thể khiến căn bệnh hen xuyễn từ tuôi ấu thơ của cậu ta tái phát. Một tấm thảm chùi chân đặt trước thềm cửa viết " Thiên nhiên tươi đẹp "

- Tớ ghét thiên nhiên! - Barry càu nhàu.

Sau khi vào nhà tắm một cái, nước nóng khiến đầu óc tôi sảng khoái, nhưng không khiến những bế tắc trong tôi được giải thoát. Mặc lại bộ quần áo cũ khi mà toàn bộ quần áo khác của tôi đã chìm xuống đáy hồ, và muôn đời tôi cũng không chịu mượn quần áo với kiểu mốt kì quái của Barry. Kiệt sức, tôi lăn mình xuống nệm giường êm ái, nhưng mỗi lần nhắm mắt lại tôi lại tưởng tượng ra một gã cầm rìu đen đúa đứng cạnh giường, đang vung cái thứ vấy máu ấy trên đầu tôi, nhưng mỗi lần tôi hé mắt ra nhìn thì hắn lại biến mất. Mặc dù vậy, tôi lại chìm vào giấc mộng nhanh một cách kinh ngạc, giống như là buông xuôi bỏ mặc mạng sống của mình vậy.

Tôi lái một chiếc xe cảnh sát chạy băng băng trên đường, cảnh vật xung quanh chỉ có hai màu trắng đen giống như những bộ phim Noir cũ trên tivi. Tôi có thể nhìn thấy ánh sáng phát ra từ chiếc đèn xanh đỏ trên nóc xe chiếu xuống mặt đường đen kịt, nhưng không có một tiếng còi hú nào, im ắng tới mức tôi dường như có thể tự nghe thấy tiếng đế giày của mình cọ trên sàn xe.

Chiếc xe tự nguyện dừng lại, ngồi bất động trên xe phải đến năm phút tôi mới biết. Bần thần, tôi mở cửa xe ra, dẫm xuống nền cát trắng xóa với miền mặt nước xa xôi vô tận trước mặt. Tôi tiến tới, chiếc xe cảnh sát sau lưng tôi bỗng biến thành cát bụi, hòa xuống mặt cát trắng, tôi tiến thêm bước nữa, chiếc cầu mục nát gẫy một nửa tôi đi qua cũng tan biến nốt. Bỗng nhiên, ở đằng xa xa tôi bỗng thấy một dáng người đang vẫy vẫy ánh sáng trắng thu hút sự chú ý. Chính lúc người đó quay lưng lại chạy đi, tôi phát hiện mình đang đứng giữa mặt nước bao la, bốn phía không thấy bờ, giống như chúa Jesus đi bộ trên mặt nước trong thần thoại. Ba chân bốn căng chạy theo, tay đưa ra chơi vơi, tôi cố đuổi theo con người bí ẩn đó. Khoảng cách của chúng tôi ngày càng gần lại một cách đáng ngạc nhiên, giống như người đó thực sự cũng đang chạy lại phía tôi vậy. Chúng tôi chỉ còn cách nhau 500 mét, 300 mét, 100 mét, và tôi nhận thấy người đó trông giống tôi một cách kì lạ, kiếu tóc rối bù, khuôn mặt râu lởm chởm, chiếc áo kaki xám với miếng vá ở khuỷu tay. Tôi đứng lại anh ta cũng đứng lại, tôi giơ một tay lên anh ta cũng giơ một tay lên. Thu lấy hết can đảm, tôi tiến tới giơ một ngón tay ra phía trước. Khoảng khắc hai đầu ngón tay chúng tôi chạm nhau, giống như đang soi vào một cái gương trong suốt, hình ảnh người đàn ông bỗng thay đổi, méo mó rung động như mặt nước gợi sóng. Hình ảnh anh ta tan vỡ, những mảnh vụn nhỏ dần cho đến khi không còn gì cả, tan biến như làn sương mù. Nhưng chưa dừng tại đó, những gợn sóng ảo ảnh lan rộng, ăn vào không gian, bao vây lấy tôi. Làn sương mù trắng tinh trong ánh sáng đen trắng, uốn éo chuyển mình. Và trước khi tôi nhận biết được chuyện gì đang xảy ra, ở đằng xa xa tôi đã nhìn thấy căn nhà gỗ trên hòn đảo Bird's Leg, dần dần hiện ra từ cõi mờ mịt.

Thế là tôi lại chạy, chân trái lên trước, rồi lại đến chân phải. Hình ảnh càng ngày càng gần, nhưng ngôi nhà nhợt nhạt mỏng manh, cứ như chỉ cần một hơi thở thô lỗ là nó sẽ cuốn đi cùng làn gió. Không còn bầu không khí im lặng, những tiếng động âm thầm vang lên. Lúc đầu còn nhỏ, không lớn hơn tiếng đập thình thịch của con tim tôi, nhưng với mỗi lúc tôi lại gần căn nhà, nó càng ngày càng rõ hơn. Những tiếng lách cách đều đặn vang lên tiếng kim loại giống như ai đó đang gõ một cái máy đánh chữ. Tiếng động lúc đầu còn nhỏ nhẹ , càng về sau càng nặng nề chết chóc, vang lên như tiếng trống, cái dùi cui vô hình đập thình thịch vào lồng ngực. Cường độ của nó ngày càng mạnh, như tra tấn lỗ tai của người nghe, trong đầu tôi tưởng tượng ra cảnh một thằng bé 10 tuổi ngồi ở góc phòng, khoanh tay úp mặt vào đầu gối, chơi trò bập bênh với cơ thể của mình.

Rồi đột nhiên mọi thứ dừng lại, không còn người đàn ông xa lạ, không còn căn nhà gỗ cũng như âm thanh rùng rợn. Tất cả mọi thứ biến mất trong khi bầu trời tối xầm lại. Bàn chân rời khỏi mặt đất, tôi bỗng nhận ra cơ thể mình mất dần trọng lượng, đang lơ lửng bay về miền trời âm u bên trên. Nhìn xuống mặt nước nơi tôi vừa từ biệt, thật kì lạ cái bóng phản chiếu của tôi lại không phải chính tôi. Alice đứng đó, cúi đầu xuống tươi cười nhìn lại, giơ tay lên vẫy chào. Khi nhận ra bầu trời trong xanh ở trên đầu cô ấy, những bọt khí nổi lên từ môi tôi, và tôi biết mình đang chìm dần xuống đáy hồ.

*
* *​

Mắt hấp háy mở ra, tôi từ từ tỉnh dậy khỏi cơn ác mộng. Cơn chợp mắt nhất thời dường như chỉ khiến cho đầu óc tôi càng thêm rũ rượi chứ chẳng khá khẩm gì hơn. Giơ cánh tay lên trước mặt, cái đồng hồ có dạ quang cũng giúp ích đôi chút. Đã 10h đêm, cuối cùng thời điểm đấy cũng đã đến. Tôi ngáp dài đứng dậy, bước khỏi giường, Barry vẫn ở phòng chính dựa đầu vào ghế sa lông nghiêng sang một bên như vẫn đang ngủ. Tôi nhón chân nhẹ nhàng, tay phải tôi thọc vào túi áo khoác, nhưng thật kì lạ, khẩu súng đã không còn ở đây.

- Tìm cái này hả Al?

Cái dáng ngồi chiễm chệ tự đắc trên ghế sô pha của Barry quả là không thể nào ưa được. Cậu ta lấy hai ngón tay cầm vào cán súng, treo tong teng nó trước mặt như khẩu súng là một con dao đã dính máu.

- Trả cho tôi đây, Barry!

Tôi bực tức đưa tay ra chộp lấy, nhưng trước khi kịp sơ múi được gì, cậu tay đã nhanh nhẹn thu tay về.

- Sau khi cậu phải lắng nghe tớ đã!
- nuốt cơn giận trong người, tôi quanh mặt ra cửa sổ hướng ra khu rừng u ám phía bên ngoài, chờ đợi Barry thuyết giảng.

- Như tớ nói từ trước
- cậu ta bắt đầu mở máy - tớ nghĩ cậu tốt nhất phải báo cáo chuyện này cho cảnh sát, hoặc thậm chí cho FBI, tớ nghĩ mấy gã nhà quê ở đây không giải quyết nổi chuyện này đâu.

- Khỉ thật, Barry! Hắn sẽ cắt cổ cô ấy!!
- cánh tay giận dữ vung vẩy mạnh trong không trung, tôi gạt đổ một cây đèn ngủ đứng bên cạnh. Điều này tôi đã nhấn mạnh với cậu ta bao nhiêu lần rồi, Barry cứ cứng đầu không chịu hiểu là sao nhỉ?

- Thế này nhé - Barry giơ hai tay ra trước, như muốn làm nguội cái đầu đang bốc hỏa của tôi - giả sử cậu đến gặp tên bắt cóc, rồi sao nữa?

- Cứ cho là cậu đồng ý cho hắn thứ hắn muốn đi? Nhỡ hắn lại muốn nhiều hơn thì sao? Hắn cứ thế được đà vắt sữa cậu tiếp thì sao?

- Nghe này Barry! Không còn có gì phải bàn bạc nữa... - tôi ngắt lời.

- Cậu cứ từ từ! Bây giờ cho rằng cậu cầm khẩu súng này đến đe dọa hắn đi. Thì sao nào? Chẳng lẽ hắn thì không có súng chắc? Đó là chưa kể hắn có thể còn có tòng phạm bắt giữ Alice làm con tin, lúc đấy thì cậu làm gì hả?

- Nhưng mà...

- Còn điều cuối cùng và quan trọng nhất đấy. Nếu chẳng may Alice thấy mặt bọn chúng, mà điều này thì rất có thể, thì 100% khả năng cô ấy chết chắc! Cậu biết có bao nhiêu phần trăm các vụ bắt cóc kết thúc với máu của con tin không? 67%! Alan, hai phần ba cơ đấy!!

Các con số tự bịa ra luôn luôn mang một sức nặng đe nẹt nhiều người, nhất là những người đang băn khoăn lo lắng.

Một khoảng khắc im lặng trong không khí.

- Alan!?

- Có khi cậu nói đúng - tôi bất ngờ lên tiếng.

- Thật á?! - Barry trợn tròn mắt, ngửa cả người ra sau - vậy là cậu sẽ cùng tớ tới đồn cảnh sát trình báo?

- Tất nhiên rồi! Cậu nói chuyện rất lôgíc và có lí! Tớ thực sự đã chưa suy nghĩ thấu đáo như thế đấy!

Barry không tin nổi mình, đứng lên mà cảm giác như loạng choạng muốn ngã.

- À... ừ... Cảm ơn cậu? Ờ... ý tớ là... tốt? Thế là tốt! Chỉ có điều tờ chưa bao giờ gặp tình huống như thế này? Hơi sốc, giống như cậu cãi nhau thắng trên Internet ấy - cậu ta cười đứt đoạn ngớ ngẩn - Úi chà, đúng là cột mốc đáng nhớ trong lịch sử!

- Thế thì ta đi luôn chứ? - tôi hết sức giữ bình tĩnh nói.

- Bây giờ á?... À không! Ý tớ là... càng sớm càng tốt!

Tôi vội rảo bước đi trước Barry tới cảnh cửa, cố không chạm mặt với cậu ta càng tốt. Khi vừa bước ra nền đất bên ngoài, tôi đột ngột dừng, quay lại dừng trước cửa nhìn Barry.

- Cậu lấy thẻ điện tử chưa đấy, quên thẻ là cửa khóa mở từ trong ra cũng không được đâu.

- Đây đây, tớ nhớ mà, tớ đang cầm ở tay đây! - nói đoạn cậu ta rút chiếc thẻ từ trong túi ra giơ giơ trước mặt.

Chỉ đợi có thế, tôi thô bạo giằng lấy nó, nhanh chóng luồn người qua, kéo nắm đấm cửa kéo cái rầm.

- Alan!? Cậu làm gì thế hả!? Thả tớ ra!

Tôi hét vào cánh cửa, giọng như muốn gầm lên.

- NẾU KHÔNG MUỐN GIÚP TÔI THÌ Ở YÊN ĐÂY!!! ĐỪNG CÓ CẢN TRỞ !!!

Lạnh lùng bước đi, tôi biến mất vào con đường mòn tối tăm.

*
* *​

Gã đẩy cửa bước vào, chuyến xe lửa đường dài đã làm hắn mệt lử, đôi vai tì lên lớp đệm ghế cứng mỏi lừ và dạ dày như muốn tự móc họng tống nó ra ngoài. Đồn cảnh sát này vẫn không có gì khác nhiều so với lần viếng thăm trước của hắn. Nếu có gì khác, thì chẳng qua, theo những gì hắn biết, cô con gái của viên cảnh sát trưởng Breaker đã lên thay cha cô ta, y như thời phong kiến. Hắn tự mỉm cười với mình, ở cái nơi khỉ ho cò gáy này thì có gì lạ? Mọi thứ ở đây khiến hắn muốn mửa ra, cái mùi, hình ảnh và kí ức. Không hẳn nơi này tệ đến thế, thậm chí nó lại có cảm giác yên bình là đằng khác. Nhưng bóng ma quá khứ luôn có cách bám riết theo hắn, hắn nghe thấy tiếng răng rắc thì thầm khắp nơi của chúng trong bóng tối. Hắn nổi điên khi mọi người, mọi vật đều khiến hắn nhớ lại những thứ kinh khủng ấy, cho dù tất cả chỉ là do hắn tưởng tượng ra.

Hắn gặp Sarah, tỏ ra trịnh trượng giơ cái thẻ FBI của mình ra, tuy vậy trong lòng hắn lại cảm thấy lo sợ. Từ lâu hắn đã bỏ FBI mà quay về NYPD tại New York, có lẽ do hắn cảm thấy dấn thân vào những ống cống thối tha của thành phố hào nhoáng ấy, tiếp xúc với những bệnh tật ghẻ lở và nghiện ngập thì xứng đáng với hắn hơn là làm công việc bàn giấy điều hòa máy lạnh tại trụ sở FBI. Nhưng khi tới đây thì cái danh hiệu cũ có vẻ có tác dụng dọa vỡ mật mấy thằng nhà quê ở đây hơn. Chẳng phải thế mà trên chuyến tàu hỏa hắn dành hẳn nửa tiếng trong toa lét lấy cồn kì cọ cái dấu đỏ đóng trên cái thẻ.

Mặc dù vài nếp chữ đỏ "ĐÃ HẾT HIỆU LỰC" vẫn còn có thể thấy lờ mờ, nhưng Sarah không hề mảy may để ý. Hắn không phải người lạ đối với cô. Ba năm trước khi mà cha cô vẫn làm việc ở đây, cô đã gặp hắn, một người đàn ông dễ thương, và cô mất vài đêm day dứt mất ngủ, thương tiếc cho tai họa đã giáng xuống gia đình anh ta. Vụ án đấy xảy ra ngay tại đây, tại địa bàn của cô, và dù cảnh sát địa phương cùng đơn vị FBI của anh ta đã điều tra ráo riết, tất cả manh mối đều dẫn tới ngõ cụt. Ba năm không gặp, cô thấy hắn thay đổi nhiều quá, nhưng không phải theo kiểu khổ sở, trông hắn như bị mục ruỗng từ bên trong ra vậy. Cái mùi rượu hôi hám bốc ra từ áo khoác của hắn khiến cô thấy khó thở.

- Đúng, anh ta vừa mới ở đây. Chúng tôi vừa mới gặp anh ta xong. Tuy nhiên anh ấy đi khỏi rất vội vã, tôi chưa kịp hỏi anh ta sẽ đi đâu! - Sarah chìa tấm ảnh trả lại cho Nightingale, trên ảnh là một người đàn ông trung niên, đầu tóc bù xù lỗi mốt và râu cằm lởm chởm.

Ta biết ngay mà, lũ cảnh sát non nghề chẳng được cái tích sự gì cả. Mọi việc đang rất khẩn cấp, vậy mà hắn không biết bắt đầu từ đâu. Giờ thì đến mạng sống của hắn cũng bị đe dọa. Hắn phải hành động ngay, phát lệnh truy nã, tung cảnh sát đi tìm kiếm, đăng báo... bất cứ giá nào cũng phải làm.

Có một tên nhà văn mà hắn nhất quyết phải bắt cho kì được!

*
* *​

Barry chưa bào giờ quá thân với Alice, nhưng đủ biết Alan yêu cô ta cực kì, thậm chí yêu một cách kinh khủng. Giờ đây, Alice đã xảy ra chuyện... còn Alan, tay lăm lăm cầm súng, nói lảm nhảm những điều vớ vẩn, lại còn nhốt mình trong căn nhà tối thui này. Mọi chuyện cứ như là người bạn thân nhất của Barry đang trải nhiệm một câu truyện tâm thần mà cậu ta hay viết, và hoàn toàn không còn nhận thức được đâu là sự thật nữa rồi. Barry sợ rằng sự bao che của mình dành cho cậu ta sẽ làm sự việc càng thêm tồi tệ.

Điện thoại của Barry nhận được tin nhắn rung lên. Alan gửi tin nhắn, ở yên đây, và nếu đến sáng cậu ta không quay về, hãy báo cảnh sát.

Mình còn làm được gì hơn nữa đây? Barry nghĩ thầm. Dựa lưng xuống ghế sô pha, Barry định nghỉ ngơi đến sáng hôm sau rồi hẵng tính, nhất định mình phải kiên quyết với Alan hơn nữa.

Bên ngoài màn đêm tối thui, gió bắt đầu nổi lên.

*
* *​

Gập đôi chiếc điện thoại bỏ vào trong túi, tôi lại tiếp tục lộ trình của mình. Nhốt Barry lại là một hành động hết sức bộc phát, tôi chưa suy nghĩ thấu đáo. Nhưng tên bắt cóc bảo tôi phải đến đó một mình, hắn gọi cho tôi nghay tại sở cảnh sát, chứng tỏ hắn không có đùa. Với lại để Barry ở lại trong nhà an toàn hơn là lang thang trong rừng, nhất là với những mối nguy hiểm cậu ta không hề biết tới.
Nhìn lại chiếc đồng hồ, vẫn còn hơn một tiếng rưỡi nữa mới tới nửa đêm, thế mà mặt trăng đã lên cao quá đầu. Những làn mây đùa rỡn chậm chạm trên bầu trời khiến ánh trăng vẽ lên trên nền đất những nét tối nét sáng, giống như cây cỏ đang tự nó chuyển động. Tôi có thể thấy ánh sáng của khu nhà tiếp tân ở đằng xa, có thể ở đó họ sẽ cho tôi mượn dùng một cái đèn pin. Nếu những gì tôi tin là đúng, thì không có gì mạo hiểm hơn là đi trong buổi đêm thế này mà không có một nguồn sáng nào cả.

Dường như quạ là thứ chim chóc duy nhất ở vùng này, những cái bóng đen nho nhỏ ở trên cao nhìn xuống với đôi mắt đỏ, cào bộ móng sắc của chúng vào thân cây kêu răng rắc. Rồi một cơn đau đầu khác kéo đến, như thể lũ chim quạ kia đang bới móc bên trong đầu tôi. Mặt đất bắt đầu rung chuyển, ban đầu chỉ là chấn động nhỏ, nhưng dần dần dữ dội hơn đến mức cuối cùng tôi phải víu vào một thân cây mới đủ sức đứng vững. Những bóng đèn chiếu sáng trên đầu tôi nổ tanh tách, vụn thủy tinh rơi xuống và thế là chúng trở nên tối tăm im lìm. Trong phút chốc tôi tưởng mình đã thấy khuôn mặt của Alice phủ một tấm mạng đen giống khăn tang.

Mọi thứ bình thường trở lại. Ngay trước khi tôi kịp tự hỏi liệu có phải mình vừa mới tưởng tượng ra mấy thứ vừa xong không, tiếng la hét và súng nổ, ánh sáng lóe lên từ cửa sổ khu nhà tiếp tân đã khiến tôi lo sợ.

- KHÔNG, KHÔNG... ĐỨNG LẠI... SAO MÀY KHÔNG CHẾT?!!

Rusty?

Tôi nhận ra giọng nói của người kiểm lâm.

- Đợi đấy Rusty! Tôi tới đây!
- hẳn một thân cây thông đổ gục trước mặt tôi, đè nét chiếc xe để giữa đường, tôi chật vật leo qua nó.

- Có ai không? CỨU TÔI VỚI?!

Thêm một vài tiếng súng nổ. Mặt tiền của căn nhà trước mặt tôi như bị bão quét qua, mái vòm gỗ sập một bên đè xuống chiếc ô tô bên dưới, chiếc biển treo trước của gẫy làm đôi, dây điện lòng thòng rũ xuống đất, tia lửa phát ra từ nó rơi xuống mặt đường, nảy tưng tưng lên như có lò xo.

Khi tôi bước vào bên trong, ánh đèn pin chiếc vào mắt tôi khiến tôi chói lóa. Một người đàn ông đang ngồi dựa lưng vào cái cửa kính lớn đằng sau.

- Ai đấy?! Anh Wake phải không? Tạ ơn trời!

Rusty ngồi run rẩy trong đống máu của chính mình. Tôi có thể thấy một vệt máu kéo dài từ giữa sàn nhà cho tới tận đây. Hơi thở anh ta gấp gáp, một phần do sợ hãi, một phần do cơn đau đớn đang chảy ra từ vai và chân anh ta qua miệng vết thương.

Rusty ho khù khụ, cố hít lấy một hơi dài

- Nó xảy ra... giống hệt như miêu tả trong mấy tờ giấy... tôi tìm thấy... là sự thật
- anh ta ho một tràng dài - hắn biết... tối quá. Hắn sẽ quay lại... quay lại lấy mạng tôi... anh Wake.. anh phải cứu tôi.. tôi cầu xin anh đấy!

- Bình tĩnh lại Rusty! Cái gì tấn công anh?!

- Chính nó! Kia kìa!!

Rusty chỉa tay ra phía cửa, tôi vội vàng quay laij, nhưng chẳng có gì cả, chẳng có gì ngoài bộ xương con voi ma mút tôi thấy ban sáng, giờ đang lập lòe dưới ánh sáng tia lửa điện.

Rusty muốn hét lên vì đau đớn, nhưng sức cạn, thứ thoát khỏi môi anh ta chỉ là tiếng rên rỉ. Vết thương quá sâu, đang chảy máu ướt hết sàn nhà, nếu không đến bệnh viêbj kịp thời rất có thể anh ta sẽ mất mạng. Tôi hối thúc anh ta.

- Rusty! Anh có xe không? Tôi xe chở anh tới bệnh viện!

Anh ta đầu cúi gằm xuống, đang bị cơn đau đớn ăn mòm mất lý trí. Chú chó ban sáng anh ta băng bó ngồi ở trong chuồng bên cạnh, thu mình vào một góc run rẩy, rên lên ư ử.

- Rusty!! Tỉnh lại đi! - tôi lấy tay lay bên vai không bị thưởng của anh ta - anh để xe ở đâu!?

- Ở trong gara đằng kia - anh ta yếu ớt trả lời - chìa khóa ở trong ổ... anh đi mau lên... đây - Rusty đẩy cái đèn pin và khẩu súng cho tôi - anh đi mau lên!

Cầm chắc lấy cây đèn pin trong tay, tôi cầm lấy tay Rusty.

- Tôi quay lại ngay lập tức đây! Anh cầm lấy - tôi lấy ngón tay yếu ớt của Rusty nắm chặt lấy báng súng hướng ra trước mặt - nếu thấy kẻ nào định hại anh, bắn hắn! Anh rõ chưa? Cố lên nào anh bạn, tôi mang xe đến ngay đây, rồi anh sẽ không sao đâu!

Rusty mỉm cười vô hồn. Tôi đứng lên vội vã chạy đi, thời gian không còn đủ, tôi cần phải tìm ra cái xe trước khi anh ta bất tỉnh.

*
* *​

Cặp mắt Rusty dõi theo Alan khi anh biến mất sau cánh cửa. Không biết Alan có biết không, nhưng Rusty biết Alan là một người tử tế, với cái cách đối xử của anh ta với mình vừa rồi, mặc dù Alan có thể bất cần mọi người khác nghĩ về mình như thế. Rusty cố dùng hai tay dựng thẳng người lên, nhưng vô dụng, cái chân bị bẻ cong ngoặt vao trong, động đậy chỉ khiến cơn đau càng thêm dữ dội khi đầu xương gẫy đâm vào da thịt của anh từ bên trong. Đột nhiên, Rusty lo sợ phải chết cô đơn.

Trong những khoảng khắc tỉnh táo cuối cùng, Rusty nghĩ về Rose, cô nhân viên ở tiệm cà phê. Anh lớn hơn cô ấy kha khá tuổi, và Rose cũng chỉ vừa 18. Nhưng cô ấy khiến anh cảm thấy mình như sống lại và có thể quên đi cuộc hôn nhân lạnh nhạt vô vọng mà anh đã phải chịu đựng bao năm.

Anh vẫn còn đeo cái nhẫn cưới, cái vết sẹo trong anh lộ ra ngoài. Nhưng Rusty hi vọng một ngày nào đó chính Rose sẽ bảo anh bỏ cái nhẫn ấy ra.

Nhưng giờ thì anh không còn cơ hội nào nữa.

*
* *​

Tôi gân hết cơ bắp trên cơ thể kéo cái cửa gara bằng gỗ vừa to vừa nặng ra. Cái bản lề cửa bằng sắt han gỉ kêu lên ken két khiến toàn bộ lỗ chân lông trên cơ thể tôi tê tái như bị chích điện. Ngay khi mở được một khoảng trống vừa đủ cho ôtô lùi ra ngoài tôi vội vã nhảy lên xe.

Đúng như Rusty nói, chìa khóa đã ở trong ổ, có thể khi xuống xe anh ta đã để quên ở đây. Nhưng có một vật gì đó, hình một thanh gỗ cắm vào mui xe mà đáng lẽ ra nó không nên ở đây.

Máy không nổ. Tôi chạy xuống kiểm tra. Cái thanh gỗ mà tôi nhìn thấy trước đó, hóa ra là một cái rìu to tổ bố, cắm sâu vào trong động cơ xe mà giờ đây giồng như một đống sắt vụn vô dụng hơn. Chiếc xe này không đi đâu cả.

Thở dài, tôi định quay lại chỗ Rusty, nhưng trước khi kịp quay lưng khỏi, thứ gì đó vướng vào tầm mắt tôi. Ở đầu lưỡi rìu, có một tờ giấy trắng được gim ở đấy. Tôi kéo nó ra, lật mặt sau lên đọc những chữ được viết trên đó.

"Cơ thể Rusty bắt đầu cảm thấy tê dại, thậm chí anh còn không còn cảm thấy đau nữa. Thứ duy nhất giữ cho anh biết mình còn sồng là đôi mắt vẫn còn nhìn thấy nền đất đen trước mặt và vết máu đang loang rộng ra.

Anh ước gì mình không hèn nhát như thế. Anh ước nếu trời cho anh một cơ hội sống, cho anh quay ngược lại thời gian, anh sẽ ngay lập tức bày tỏ tình yêu của mình với Rose, cho cô ấy biết anh yêu cô đến dường nào, dù cô có chấp nhận anh hay không, lúc đó thì anh chết cũng được.

Có tiếng kim loại cứa vào nền đất ở rất gần. Cây súng trên tay anh run lẩy bẩy, anh thậm chí chưa chắc có sức kéo cò.

Rusty cười, cười chua cay. "Giá mà...", "Nếu như...", "Ước gì..." ... rặt những điều nhảm nhí người sắp chết nghĩ. Kể cả có cho anh cơ hội thứ hai, anh cũng vẫn sẽ làm y chang như cũ, vì anh là anh, con người vốn không thể thay đổi. Chúng ta đều tự tạo ra những lựa chọn, nhưng đến cuối ngày những lựa chọn ấy lại tạo nên chúng ta. Và tự nhiên, với những ý nghĩ ấy, cái chết đối với anh bỗng nhẹ như lông hồng.

Lưỡi rìu bạc sáng loáng vung lên."

Ôi không! Rusty!

Có tiếng đổ vỡ rầm rầm ở đằng xa, và nếu nghe kĩ, bạn có thể nghe thấy tiếng la hét của một người đàn ông lẫn trong ấy.

Khi tôi chạy tới nơi thì đã quá muộn, Rusty đã không còn ở đấy nữa. Khắp nơi giờ đây chỉ là những vết màu quệt ngang dọc, những vết tay đẫm máu in trên cửa kính đưa một luồng gió lạnh luồn qua lỗ chân lông khiến tôi rùng mình ớn lạnh. Không gian tĩnh lặng xung quanh làm tôn lên cái cô độc của tôi trong màn đêm hoang vắng.

Tôi đưa ánh đèn pin dẫn theo một vệt máu dài và đậm nhất, không tin nổi vào mắt mình khi nhìn thấy bức tường bên cạnh. Trên nền gạch vữa, lỗ thủng khổng lồ giống như một bức tranh có chiều sâu siêu thực dính chặt vào bức tường. Những mảnh gạch vỡ nhô ra từ khóe miệng của nó, giống như hình ảnh lồng ngực của một người đàn ông bị xé tung bởi con dao cùn vậy, với thịt và xương dập gẫy mở toang hoác. Thật khó có thể nghĩ rằng lỗ thủng là do sức người tạo ra chỉ trong một thời gian ngắn như vậy, với suy nghĩ ấy, linh tính ngớ ngẩn của tôi khiến tôi quay lại nhìn chăm chăm vô ích vào bộ xương voi khổng lồ còn nguyên lành trong khi mọi thứ khác đều đổ nát.

Đỉnh Núi Tình Nhân nằm ở cuối con đường mòn du lịch của khu này, và mới trùng hợp làm sao, con đường đất ấy giờ đây lại trải dài trước mặt tôi, qua cái lỗ thủng to đùng ấy. Dẫu sao đêm nay mục đích ban đầu của tôi vẫn là cuộc hẹn của tên bắt cóc đáng nguyền rủa ấy. Không có ích lợi gì khi khóc trên mộ người chết, Rusty đã đi rồi, giờ tôi có muốn cũng chẳng làm gì được, có lẽ chưa bao giờ tôi có thể làm gì được. Cảm giác ngột ngạt như một thứ vẫn được gọi là số phận, đôi khi tôi cảm thấy mọi thứ xảy ra chỉ là một bộ phim quay sẵn, một bóng đen vang vọng của cái tự do thực sự.

Tôi bước chân ra khỏi ngôi nhà, cảm giác những ngọn cỏ cọ sát lên mặt giày của tôi đem đến một cảm giác yên lòng kì lạ. Phải. Rusty đã chết rồi. Nhưng đó không phải lỗi của tôi. Ít ra Alice còn sống. Cô ấy thì vẫn còn hi vọng. Tôi tiến nhanh về phía con đường.

- XIN ĐỪNG...!

Rusty?

Anh ta vẫn còn sống?

Tiếng chó sủa dự dội bỗng vang lên không biết từ đâu, nhưng chỉ vài giây sau lại im bặt, bắt chợt đi cũng như nó bất chợt đến.

- Xin đừng...! Xin đừng... XÂM PHẠM MÔI TRƯỜNG!!!

Tiếng của Rusty bỗng rú lên thất thường, như chiếc đĩa nhạc bị vấp. Chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra, một cái xác đẫm máu bỗng rơi phịch xuống bên cạnh tôi. Hình dáng nhỏ và kì quặc, không hề giống một con người tí nào. Một con sóc? Một con chồn? MỘT CON CHÓ!

- TUÂN THEO MỆNH LỆNH... kiểm lâm!!!

Bất chợt dưới ánh trăng lung lay, một bóng đen nhổm dậy từ trên mái nhà. Nhanh như cắt, hắn uốn người đáp xuống mặt đất mặt đối mặt với tôi, nhẹ nhàng như thể cơ thể được tạo ra từ khói bụi, chân thậm chí chỉ hơi chạm đất. Mặc dù khuôn mặt bao bọc trong lớp bùn đen nhớp nhúa chầm chậm chảy xuống, tôi vẫn dám chắc đó chính là người kiểm lâm qua bộ quần áo xanh lá.

Một chút lúng túng, nhưng tôi đã kịp giơ cây đèn pin chiếu vào mặt hắn ta trước khi cây rìu của hắn kịp bổ xuống. Giống như đỉa phải vôi, bóng đen vội vàng, giật lùi lại giận dữ, lấy một tay che mặt. Ánh đèn chiếu sáng làm lớp khói đen quấn chặt lấy người đàn ông giãn ra, tôi có thể thấy lớp da nhợt nhạt của Rusty dưới ánh sáng leo lét. Họng súng đen ngòm chĩa thẳng vào vầng trán của anh ta, tôi có thể cảm nhận thấy mồ hôi toát ra từ lòng bàn tay tôi khiến báng súng chỉ muốn trơn trượt.

- Tôi rất xin lỗi, Rusty.

ĐOÀNG!!!

Xa xa trong khu rừng tối hun hút, những đàn quạ trừng con ngươi đỏ màu máu của mình. bay toán loạn hót những tiếng hét chói tai.

Không ngừng nã đạn vào cái hình hài trước mặt, cái thứ mà đã từng là người kiểm lâm thân thiện. Chỉ đến khi làn khói đen biến mất hẳn trong đêm tối, tôi mới dám hạ tay xuống nghỉ hít lấy một hơi dài. Trong ổ đạn còn đúng hai viên. Khi tay cầm từng viên đạn lên đút vào ổ, tôi mới nhận ra bàn tay mình run run. Cười thay cái sự trớ trêu. Đây không phải lần đầu tiên tôi bắn chết một "người" như thế này. Cái gã Stucky, tôi chưa từng gặp mặt hắn, những kí ức duy nhất của tôi về hắn là cái ngôi nhà mà hắn cho tôi thuê và cái đêm hắn bám riết theo đòi nếm máu tôi. Thực tình, hắn bám chặt lấy tôi như con đỉa, như thể cái bóng ma trong tủ quần áo mà bất cứ đứa trẻ nào cũng run sợ.
Rusty có thể nói là một người tử tế, điều có thể thấy ngay khi nhìn vào đôi mắt anh, và cái cách anh thương yêu động vật. Không ai có thể biết trước mình chết như thế nào cả. Ngẫm lại, bị biến thành một thứ đồ vật không có gì giống mình ra ngoại trừ bề ngoài, và chỉ với một phát súng lóe lên là đi vào cõi hư vô, cảm giác không hề dễ chịu. Đã có một khoảng khắc, khi ngón tay tôi chạm cò súng, tôi đã lưỡng lự. Biết đâu trong cái hình hài thú vật kia, đâu đó bên trong vẫn còn tâm hồn và lí trí của một con người, biết đâu anh ta vẫn có thể được cứu rỗi.

Lương tâm luôn dẫn dắt ta trong những bóng tối của thời gian.

Lương tâm đúng là đồ dối trá.

Với không chút chậm trễ, tôi bắt đầu hành trình của mình theo tuyến đường mòn vào khu rừng tối tăm, tới địa điểm đã hẹn trước. Tôi bước những bước dài gần như chạy, vừa nóng lòng vừa e ngại cuộc hạn lúc nửa đêm này. Tự tra tấn mình bằng hàng loạt những kịch bản có thể hoặc có thể không xảy ra, những câu hỏi liên miên không có lời giải đáp. Và bỗng tôi nhận ra, mình hoàn toàn chẳng có một kế hoạch hay ho nào, hay đúng như Barry từng nói, TÔI CHẲNG BIẾT MÌNH ĐANG LÀM GÌ NỮA.

Bất chợt nhảy ra chắn giữa đường tôi là một con vực sâu hun hút vô đáy. Cảm nhận làn gió thổi qua mang tai, bị cái miệng nứt nẻ toác ra trên mặt đất nuốt chửng lấy, thật là kì lạ khi tôi vẫn còn muốn đi tiếp và vượt qua nó. Đường đi thì chỉ có một thôi, một cây cáp treo dùng để chở du khách từ bờ này sang bờ kia của vực. Nhìn sợi dây thép mỏng manh, tôi biết mình không thích phải làm thế này tí nào hết.

Nhưng rốt cuộc tôi vẫn nhấc được mông mình lên chiếc ghế sắt treo lủng lẳng trên mép vực. Khi tiếng cót két bắt đầu vang lên trong đêm tôi, cũng là lúc tôi đẩy chân vào bờ đất tự đưa cơ thể mình ra xa. Cảm thấy dường như mình nhỏ bé lại trước biển bóng tối rộng mênh mông mà tôi đang đánh đu ở trên, hai tay tôi quấn chặt lấy, bám dính vào cây cột sắt đã han gỉ bên cạnh.

Tôi luôn tự nhủ không được nhìn xuống dưới. Nhưng ý chí như một con ngựa bất kham, chống đối lại cả những lí lẽ tuyệt vời nhất. Kì ảo và đầy mê hoặc, chỉ cần hé mắt một chút để nhìn xuống thôi, tôi bỗng như bị thôi miên. Không chút sợ hãi, tôi nhìn chăm chăm xuống cái vũ trụ đen thui phía dưới, cảm thấy đê mê và say mềm như người bị chốc rượu. Mắt tôi bắt đầu đờ đẫn và đầu óc tôi trống rỗng. Tự hỏi rằng cái màu đen huyền bí kia có giấm giếm những gì tuyệt đẹp? Một ngọn lửa cháy bỏng trong tôi, cái thăm thẳm kia sâu bao nhiêu? Giờ tôi chỉ có một ước ao, được chạm tới đáy của nó, không còn gì khác trong đời tôi khao khát hơn.

Buông một tay ra, tôi vắt vẻo như nghệ sĩ diễn xiếc, bàn tay buông thõng xuống như muốn chạm vào thứ gì đó vô hình. Chỉ cần xuống thêm một tí nữa thôi, một tí nữa thôi, tôi thở dốc theo con tim đang loạn nhịp vì phấn khích. Một chân tôi đã rời khỏi chiếc ghế sắt, giơ ra phía không gian xung quanh như muốn cống hiến toàn bộ thể xác.

Bỗng tôi thấy một thứ gì đó chuyển động phía dưới đáy vực. Một thứ gì đó cũng đen thui hòa vào không gian xung quanh mà chỉ có thể nhận thấy bằng ánh trăng mờ loang loáng chiếu xuống. Lúc đầu còn nhỏ, ở xa. Nhưng nó càng ngày càng tiến lại gần, gần đến nỗi tôi có thể thấy khuôn mặt trắng bệch của nó ẩn dưới lớp khói mù lay động theo gió trông giống như một chiếc khăn đen.

Một làn gió bạo lực thổi vút lên từ phía dưới làm tôi choáng váng. Bất thần nhận ra hành động ngu xuẩn mình đang làm, tôi vội vàng co tay co chân lại ôm chặt lấy cái ghế đang đung đưa trong gió. Chiếc ghế rung lắc dữ dội, không dứt, bị những ngọn gió mạnh mẽ không hiểu bất ngờ từ đâu tới chơi đùa, vậy mà nó mới có đi được nửa quãng đường. Những bàn tay vô hình như muốn kéo tôi ra khỏi chiếc ghế, nhưng tôi vẫn cứng đầu, hai tay quàng lấy thanh sắt nhất quyết không chịu rời.

Trong phút chốc tôi tưởng tôi đã thắng.

Những tiếng răng rắc phát ra từ đầu bên kia của khe vực. Một thân cây thông nặng nề, bị gió bẻ gẫy thân cây, đang từ từ đổ rầm xuống trên đầu tôi. Tôi nhắm mắt lại chờ lưỡi rìu của đao phủ hạ xuống đầu mình. Nhưng thay vào đó, thân gỗ to lớn lại đổ vào đầu dây cáp bên kia bờ vực, nảy chồm lên rồi lao xuống lỗ đen bên dưới. Tôi có thể cảm thấy đoạn dây thép căng ra, trùng xuống khủng khiếp trước khi bật tưng lên như dây đàn ghi ta. Cơ thể tôi không thể cưỡng lại quán tính quá sức lớn, đến khi dây cáp không còn rung bần bật nữa, tôi tự thấy cơ thể mình đang treo lơ lửng giữa mênh mông vô định chỉ với một tay bám vào thành ghế.

Các cơ bắp yếu ớt gượng sức kéo phần thể xác nặng nề còn lại lên, tệ hơn nữa, cây cáp treo đã không còn chuyển động, mắc kẹt và đứng im thin thít tại chỗ. Chơ vơ bất động giữa bóng tối bủa vây xung quanh, tôi tự nhủ phải chăng cuộc đời mình sẽ kết thúc ở chốn khỉ ho cò gáy này.

Nhưng có thứ gì đó xảy ra, không biết là may mắn hay xui rủi. Cây cáp treo bắt đầu chuyển động lại, nhưng nó phát ra những tiếng động quái dị, bất an. Giờ đây không còn một ngọn gió, một thân cây đổ nào nữa, nhưng chiếc ghế sắt co giật liên tục, tiếng động ken két vang lên từ phía bờ vực bên kia như một con quái vật với bộ hàm kim loại rỉ đang nghiến răng chờ đợi tôi tới mà ngấu nghiến.

Và rồi đoạn dây đứt phựt, không hoàn toàn có gì là ngạc nhiên lắm. Chiếc ghế sắt ôm cả tôi lao xuống phía dưới, nhưng bờ đất đã ở phía trước rồi, gần tới mức tôi tưởng tượng có thể chạm vào nó chỉ bằng ánh mắt.

Thế là tôi đu người nhảy, lao về phía trước không khoan nhượng.

Mặt đất đầy đá sỏi đập vào cơ thể tôi như một cú đấm chí mạng vào đầu. Choáng váng, tôi dần dần ngất đi, tiếng đổ vỡ vang vọng lên từ đáy vực.

Tôi mơ hồ thấy một chiếc máy đánh chữ trước mặt...

- Nhà ngươi đây rồi!

Tôi bàng hoàng cố mở mắt ra, giọng nói đó thì thầm réo rắt như vang lên từ dưới mộ sâu. Giong nói của một người đàn bà, dù chậm rãi và bình thản, tôi vẫn cảm nhận được sức ép đáng sợ của nó.

Qua khóe mắt đóng hờ và tầm nhìn mờ ảo, tôi có thể thấy một bóng đen mặc áo xanh lá đang tiến dần về phía tôi. Đó chính là Rusty, cầm rìu, và không chỉ có một mình hắn, tôi bị cả một đám người đen đủi bao vây lấy xung quanh, lăm lăm vũ khí, vòng vây càng ngày càng xiết chặt lại. Mùi cá tanh tưởi bốc ra từ chúng.

Vội vàng quơ quạng khắp mặt đất, khẩu súng ban nãy tôi đã làm rơi xuống vực rồi, giờ tôi chỉ còn cái đèn pin là thứ duy nhất để chống cự, mà nó lại nằm chỏng chơ trước mặt Rusty. Vội vã vươn người ra lấy, nhưng Rusty đã nhanh hơn tôi một bước, hắn lấy chân thô bạo đạp mạnh xuống, chiếc đèn nhỏ nhắn gẫy làm đôi, lớp kính vỡ làm từng mảnh vụn long lanh. Hoảng sợ, tôi chống hai tay xuống bò lùi về phía sau không biết phải làm gì. Nhưng cái hình bóng kia ngày càng đến gần, còn sau lưng tôi lại là mép vực chơi vơi. Một tên nhanh nhất đã đến sát gần tôi, chiếc liềm sắc nhọn vung lên, tôi nhìn lưỡi liềm nhọn hoắt dưới ánh trăng, tưởng tượng đến lúc nó lúc sâu vào da thịt, cào xé lòng ruột ra, vậy mà tôi chỉ biết giơ tay lên đỡ tuyệt vọng.

Cùng lúc ấy, từ đằng sau đám quái vật hung dữ, tôi thấy một luồng sáng đỏ rực lóe lên cuồng nhiệt, rực rỡ, như phát ra từ một đám cháy. Luồng khói dày đặc màu đỏ hồng tỏa ra khiến những gã đen đủi kia choáng váng, gào rú thảm thiết. Bọn chúng đều bị ánh sáng kia đốt cháy, từ người bốc ra những tàn tro lơ lửng lấp lánh ánh bạc thả mình vào không gian. Tiếp đó, nhưng tiếng súng đinh tai khiến tôi có cảm giác bị người khác lấy búa đóng đinh vào đầu. Nhanh chóng, bọn chúng tan biến cùng làn khói vào trong không khí, chỉ còn lại thứ mùi nồng nặc trong không trung.

Khi chưa kịp hiểu gì, một người đàn ông bước ra từ trong đám khói cuồn cuộn hồng. Từ dưới ngước nhìn, ánh sáng rực rỡ tôn lên cơ thể và khuôn mặt anh ta, trông dáng dấp như một vị thánh cứu sinh.

Tôi với tay nắm lấy bàn tay anh ta đang xòe ra trước mặt cho tôi, được kéo lên giống như vừa mới thoát khỏi địa ngục cô độc vậy.

- Đứng lên nào, Wake! Chúng ta phải đi mau lên! Bọn chúng sắp quay lại rồi!

Đó là một người đàn ông trung niên không có gì đặc biệt lắm, xét theo cách ăn mặc thì có lẽ là một người bản địa. Anh ta đội một chiếc mũ lưỡi trai trắng, và thứ phát ra tiếng động sấm sét ban nãy là khẩu súng ngắn anh ta đang cầm lăm lăm.

Người đàn ông nói và hành động như thể tôi đã quen anh ta từ mười thế kỉ trước vậy. Vẫn còn ngơ ngác cố động não nhớ xem anh ta là ai, chân tôi đá phải cây đèn pin dưới đất. Trông nó thật thảm hại, dây nhợ thò hết ra ngoài qua đoạn bị gãy làm đôi, tôi cầm nó lên mà những mảnh kính vỡ thi nhau trượt ra ngoài qua lỗ thủng, rơi loẻng xoẻng xuống nền đất.

Người đàn ông nhìn mớ rác tôi cầm trên tay, liền đưa cho tôi một cái túi xách da mà anh ta vừa khoác trên vai.

- Đây! Mày sẽ cần mấy thứ này!

Từ trong chiếc túi da, tôi rút ra một vài những thanh nhựa đỏ có nắp ở một đầu, tựa như cái bút dạ lớn, những quả pháo sáng cầm tay. Thứ này tôi đã từng thấy trước đấy trên tivi, người ta thường dùng nó làm ánh sáng báo hiệu hoặc kêu gọi cấp cứu.

Tò mò cực đại, tôi cất tiếng hỏi.

- Anh cũng nhìn thấy được bọn chúng hả?

- Trời đất quỷ thần ơi! Ai mà không nhìn thấy cơ chứ? Thôi nào, đi theo tao mau lên! - anh ta hối thúc.

- Đi đâu chứ?

Người đàn ông bật tiếng cười ha hả tự mãn, tôi không có cảm tình lắm với anh ta.

- Đi đâu câu truyện nói ta phải đi, tất nhiên rồi! - người đàn ông quay người đi trước.

Tôi cứ nghĩ mãi, không hiểu anh ta là ai. Dù cũng phải mất một lúc, nhưng cuối cùng tôi cũng nhận ra. Tôi nhận ra anh ta, cái ngày mà tôi với Alice vẫn còn ở trên phà trên đường tới thị trấn này, anh ta cũng ở đó, mắt thám thính như đang theo dõi vợ chồng tôi. Hắn biết tên của tôi. Cả hai người chúng tôi đều cùng một lộ trình hướng tới Đỉnh Núi Tình Nhân trong đêm tối heo hút này. Không hề có một sự ngẫu nhiên nào cả, hắn chính là kẻ đã bắt cóc Alice.

- Mau lên nào Wake, tao không chờ mày đâu! Buổi tối nay tao còn nhiều việc phải làm lắm!

Cái thái độ thản nhiên và không thèm đếm xỉa đến tôi của hắn khiến máu tôi sôi lên.

- Mày đâu rồi!!? - tôi hét to lên, cảm giác muốn giết gã bằng một con dao cùn.

Tôi đi lên tới một mỏm đất trống, nhô từ sườn núi nhìn ra khu rừng phía bên dưới, từ dưới dốc chạy lên, tôi thở hồng hộc, cuối cùng cũng đuổi theo kịp tên bắt cóc. Hắn đang đứng yên, dường như đang quan sát một cái gì đó.

- Mẹ khiếp! Wake, ném một quả pháo ra đây mau lên!

Đứng bên cạnh hắn, tôi mới thấy rõ thứ gì khiến hắn bàng hoàng. Một bóng đen to lớn, phải cao hơn hắn và tôi hẳn một cái đầu, cơ thể vạm vỡ, hai tay nâng một cái rìu lớn đang chầm chậm tiến lại, Không chần chừ, tôi rút vội một quả pháo sáng từ trong túi ra bật nắp, tia lửa lóe lên từ một đầu của nó, sáng đến nỗi tôi phải giơ nó xa khỏi mắt mình, và thứ này sinh ra lượng khói lớn khỏi phải bàn.

Gã to lớn lập tức giật nảy người, lấy tay che mặt, thậm chí còn bắt đầu sợ hãi đi lùi lại. Tên bắt cóc bắt đầu nã súng. Một phát, hai phát... phải đến phát thứ năm, tên khổng lồ mới gục ngã tan biến.

Đúng lúc đó cây pháo sáng trong tay tôi cũng hết cháy. Nó yếu dần đi chỉ còn vài tia lửa mỏng manh phụt ra, chẳng bao lâu sau tắt lịm đi trả lại không gian đen tối và ảm đạm cho khu rừng ban đêm.

Tôi lo lắng cất tiếng.

- "Nó" đã chết chưa?

Một lần nữa hắn đáp lại tôi bằng nụ cười, một nụ cười khinh khỉnh nửa mép.

- Bọn chúng không bao giờ chết cả! Khi nào bà ta muốn, thì chúng sẽ lại xuất hiện ngay tức thì. Một khi đã bị bóng tối điều khiển, mày không thoát được dễ dàng thế đâu!

Khỉ thật!

Hắn thốt lên, tiến về phía cây đèn tối um trên một cái sàn gỗ ở mép mỏm đất. Một vết chém sâu còn hiển hiện trên thân cột, lòi cả dây điện ra ngoài.

- Mẹ khiếp, mẹ khiếp...! Trong mấy tờ giấy đâu có viết như thế này? Phải làm sao đây? Phải làm sao đây? Khoan, chờ chút! Có thể tao sửa được cái này! Ê Wake! Trông chừng sau lưng giùm tao được không?

Hắn cúi xuống lúi ha lúi húi. Tôi chỉ muốn lấy chân đạp cho hắn một cái chỏng gọng trong tư thế ấy, nhưng đồng thời tôi cũng có hàng tá câu hỏi đang chực chờ. Lúng túng không biết thế nào, tôi quay định mở miệng hỏi hắn trước.

- Lạy hồn mày Wake! Lo trông chừng cho tao đi!

Đó gần như một sự bảo đảm của hắn, tôi sẽ nhận được các câu trả lời sau. Đồng thời lúc ấy, gió lớn bắt đầu nổi lên, rừng cây rung lắc mạnh mẽ dưới ánh trăng mờ ảo bị mây mù và gió cát lấp đi phần nào, tạo nên những hình nhân kì dị nhảy múa.

- Bà ta đến đấy! - gã nói, đưa tay lên trán quệt mồ hôi, mắt vẫn không dời khỏi mấy đoạn dây điện.

Từ khắp những bụi cây và góc tối, hàng chục cái bóng đen lao ra, trên tay cầm nào là cuốc, xẻng, rìu, dao phay đủ kiểu... sáng lóe dưới ánh trăng, kêu lên sắc lạnh ghê người khi cứa xuống đất. Bọn chúng tới quá đông, tôi có cảm giác như bị một cái chăn chồm lên phủ lấy người cho ngộp thở. Tim tôi đập loạn xạ.

Tia sáng lóe ra từ đầu quả pháo tôi ném xuống trước mặt, những hình dáng đen thui bắt đầu giãn ra một chút chừa cho tôi một chút không khí để thở. Mặc dầu ánh hồng của quả pháo phát ra mạnh mẽ, nhưng tôi vẫn cảm thấy dường như nó không còn sáng như trước nữa so với bóng đêm đang bao quanh tôi.

- Đưa tôi khẩu súng mau lên! - tôi gào lên.

- Ha! Còn lâu nhé cưng!

- Anh đùa hả? Đưa khẩu súng cho tôi mau!

Bọn chúng lại bắt đầu thắt chặt vòng bao vây, cây pháo vừa nãy đã sắp tịt ngòi. Tôi đặt cái túi da xuống, rút ra một ít, tháo nắp một cây giơ lên cao, các tia lửa lăn trên vai tôi rơi xuống đất. Lần này bọn chúng không lùi lại nữa, những tên to lớn vẫn lừ lừ tiến đến, còn những tên nhỏ con hơn nấp sau lưng chúng an toàn.

- Mẹ mày! - tôi tiến lại phía tên bắt cóc.

- Mày làm gì thế, Wake?

Tôi cúi xuống nắm lấy báng súng gắt ở thắt lưng phía sau của tên bắt cóc rút ra, vẫn giơ cây pháo sáng lên quá đầu. Nhưng nó bị kẹt cứng, hắn giữ nó chắc quá. Tên bắt cóc ngay lập tức chuyển người, lấy chân đạp mạnh vào ngực tôi một cái khiến tôi ngã ngửa. Cây pháo trên tay tôi rơi xuống đất, đầu sáng của nó cắm xuống tối om.

Chỉ đợi có thế, lũ bóng đen nhất loạt xông vào, khát máu. Tôi vội đứng dậy, bật thêm một quả pháo nữa, nhưng chúng đã đến gần tôi quá rồi, tên gần nhất không cách quá tám bước chân. Chúng bắt đầu dồn tôi vào góc bên trái, đằng sau lưng là dốc đen dựng đứng.

Tôi tự xem lại, trong tay tôi giờ chỉ còn hai quả pháo. Chiếc túi da lúc nãy đang ở bên cạnh tên bắt cóc, tôi không có cách nào với tới nó được.

- Ê! Vứt cho tôi cái túi! Mau lên!

Hắn không trả lời. Vòng vây ngày càng xiết chặt, tôi thấy khó hiểu khi bọn chúng chỉ đuổi theo tôi mà mặc kệ hắn.

Đột ngột, tôi cảm thấy có thứ gì ở đằng sau mình. Có một tên bóng đen thừa lúc tôi không để ý, trèo từ dưới dốc lên ra sau lưng tôi. Hắn chỉ vừa mới thò tay lên, tôi vội lấy quả pháo sáng trên tay đâm thẳng vào mắt hắn. Tiếng rú kinh khủng dần dần tiêu biến dưới con dốc dựng đứng khi hắn rơi xuống.

Đám còn lại vội ùn ùn xông tới. Đến khi tôi kịp bật một quả pháo nữa, chúng đã tới sát gần tôi lắm rồi. Ánh sáng hồng chiếu lên khuôn mặt kéo dài và nhợt nhạt vô hồn của chúng, con ngươi trắng xóa trợn ngược. Cho dù trong tay tôi vẫn còn một quả pháo nữa, thì cũng đã quá muộn để sử dụng.

Bỗng nhiên ánh sáng thiên thân từ đâu chiếu xuống, tỏa khắp một vùng rộng lớn. Lúc đầu chiếc bóng đèn còn nhấp nháy và mờ mờ, nhưng chỉ chưa đến một giây sau nó đã chiếu sáng hết công suất. Tôi nhìn ra xung quanh, những bóng đen lúc nãy đang mờ dần đi, rồi biến mất, giống như đang nhìn thấy ảo ảnh trên sa mạc. Chẳng mấy chốc, nơi đây chỉ còn mình tôi với tên bắt cóc.

- Thấy chưa? Tao đã bảo mày là tao sửa được mà! - hắn cười hoan hỉ.

Đứng dậy phủi bụi quần áo, vết giầy của hắn vẫn còn in trên ngực áo tôi. Không còn giằng dai nữa, tôi phải làm mọi chuyện cho ra nhẽ trước khi thêm một đợt bóng đen tràn tới.

- Trả lời tôi luôn và ngay! Anh giữ vợ tôi ở đâu?

Tên bắt cóc đưa tay chống xuống lan can gỗ mục nát gần đó, vẻ trầm ngâm như nhà thơ. Trước khi tôi kịp nói thêm điều gì, hắn đã lên tiếng trước.

- Tao biết mày sẽ nói như thế này Wake ạ! Tao đã đọc hết trước rồi! Mày đúng là nhà văn có tài năng trời phú! Chúc mừng mày, Wake! Mày sẽ là người đem lại những thứ vĩ đại hoặc kinh khủng, nhất là khi chúng tao... biên tập lại câu truyện của mày hợp lí một chút!

Bây giờ hắn lại nói những thứ điên rồ khó hiểu ở đâu đâu. Thứ tôi muốn là lời giải thích.

- Anh nói cái quái gì vậy? Alice đâu?

Hắn quay lại phía tôi, chỉ thẳng tay vào mặt.

- Tao muốn toàn bộ số bản thảo còn lại! Nếu mày không làm theo thì vợ mày sẽ phải chết! - hắn đưa bàn tay duỗi thẳng ngang qua cổ, ra dấu hiệu đe dọa.

- Thằng chó đẻ! Mày mà dám động vào Alice thì...

Tôi vung một nắm đấm lấy hết sức lực táng vào mặt hắn. Cảm thấy hả hê trong lòng, tôi đã muốn làm thế này cả đêm nay rồi.

Nhưng một lần nữa tôi lại làm hỏng bét hết mọi chuyện.

Chiếc lan can bằng gỗ phía sau không chịu nổi sức nặng sau khi một đấm của tôi làm hắn bật người vào đấy, vỡ nát ra từng mảnh. Bị lỡ đà, tôi lao theo hắn xuống sườn dốc dựng đứng tối om.

Những mẩu đá nhỏ nhô ra trên sườn núi khiến chúng tôi bầm dập khắp thân thể khi lao từ đỉnh xuống, cứa vào da thịt đau nhói. Tới khi chạm tới được mặt đất bằng phẳng, cả tôi và hắn đều kiệt quệ sinh lực. Tay chống cơ thể, đầu gối rớm máu, đau đớn khắp người, nhưng ít ra tôi biết tên bắt cóc cũng chẳng khá khẩm gì hơn.

Quờ quạng trong bóng tối xung quanh, cố xác định xem mình đang ở đâu, tôi chạm tay vào thứ gì đó. Sắc lạnh và ánh lên ánh bạc trắng, tôi nhận ra đó là khẩu súng ngắn mà, có lẽ trong lúc ngã xuống tên bắt cóc đánh rơi ra. Đúng là thần may mắn mỉm cười với tôi, nhưng cũng đúng lúc tôi với tay ra nhặt khẩu súng, mắt tôi chạm mắt hắn, và hắn luống cuống đứng dậy chạy đi mất.

Đến lúc tôi đứng vững được trên hai chân, chĩa súng về phía kẻ bắt cóc, hình dáng hắn đã mất hút trong khu rừng từ lúc nào.

- Thằng khốn! Mày chạy đi đâu!?

Tôi vẫn giữ lăm lăm khẩu súng hướng về phía trước, tôi lao vào bóng tối bất chấp tính mạng. Tiếng gió gào thét bên tai, tôi cảm thấy mình như con thú dữ gầm lên thèm khát con mồi. Tôi chạy băng qua rừng, nhảy qua suối, giật đứt các cành cây cản đường, để gai nhọn xé rách quần áo mình. Đôi lúc nhìn thấy những bụi cây xếp giống hình người, tôi nã vài phát súng vô ích vào đấy. Rừng cây ban đêm im ắng bỗng chốc sáng lóe và nổ tưng bừng như người ta tổ chức một cuộc đi săn.

Rồi tôi chạy được đến một khu cắm trại lớn. Nơi đây vắng tanh, không bóng người. Khi chưa kịp nghỉ lấy hơi, tôi đã nghe thấy tiếng bánh xe rít cách đây không xa. Đó chắn hẳn phải là tên bắt cóc, tôi thầm nghĩ. Vội vã chạy theo tiếng động đó, chỉ để thấy một chiếc xe phóng ra đường cái, đánh cua phát ra tiếng ken két trên mặt đường, rồi xì khói và đất cát ra dằng sau, lao vào con đường tối tăm.

Phải đuổi theo hắn ngay lập tức! Tôi vội chạy đôn chạy đáo khắp nơi, tìm kiếm một chiếc ôtô khác, nhưng khắp nơi chỉ toàn lều trại nhấp nhô, im ắng rợn người như thể muốn trêu ngươi tôi. Khi chạy đến một căn nhà lơn hơn gần đó, tôi phát hiện ra bên cạnh nó có một cái gara nhỏ chứa một chiếc ôtô đang nằm im lìm bên trong. Gara có cửa lưới sắt, khóa lại bằng một ổ khóa trông khá dày dặn. Tôi lấy tay che mặt, hướng thẳng khẩu súng vào ổ khóa bóp cò. Phát thứ nhất tôi ngắm trượt, viên đạn găm xuống mặt đất gần đó. Phát thứ hai tôi bắn trúng vào ổ khóa, nhưng một tiếng keng kêu lên, viên đạn bật nảy ra như gắn lò xò. Tức giận, tôi tuyệt vọng bóp cò liên tục, nhưng đáp lại chỉ có tiếng lách cách của băng đạn trống rỗng, ban nãy khi còn trong khu rừng, tôi đã lãng phí gần hết đạn.

Máu trong người tôi sôi sùng sục. Tôi liệng mạnh khẩu súng vô dụng xuống đất, bắt đầu lấy chân đạp cật lực vào chiếc khóa. Phải đến phát thứ ba, bản lề của cánh cửa lưới sắt han gỉ mới bật ra, tôi luồn người qua đoạn lưới thủng vào bên trong gara. Chiếc xe Royce màu đỏ, lớp bụi mỏng trên mui xe cho biết nó đã không được sử dụng một thời gian. Tôi chạy lại gần giằng tay kéo xe ra, vô ích, cửa xe đã bị khóa lại.

Không chần chừ, cùi chỏ đập mạnh vào cửa kính, mảnh vụn rơi cắm vào đệm ghế bên trong. Tôi ngoắc chân vụng về chèo vào, cảm thấy các vụn thủy tinh kêu loảng xoảng dưới đế giày.

Và khi tới cái khoảng khắc tưởng chừng như thành công tới nơi rồi, tôi lại không tìm thấy chìa khóa khởi động xe đâu.

Tôi tìm sau kính chiếu hậu, sau vô lăng,dưới thảm trải xe, trong ngăn kéo đựng đồ, nhưng cái chìa khóa chết tiệt không nằm ở đó. Tuyệt vọng, tôi bới cả ngăn gạt tàn thuốc lên. Những mẩu đầu lọc vàng vọt, kẹo cao su, giấy rác, tiền xu, nhưng cái thứ tôi cần thì tuyệt nhiên không thấy. Tức giận, tôi lấy cả hai tay giằng ra cho bằng được, bàn tay tôi cảm nhận được cái khung sắt bên trong gẫy vụn. Gần như thô bạo ném nó lên đùi, tôi bắt đầu bới tung rác rưởi bên trong lên, như một con chó khổ sở đang đào đất tìm cục xương cho mình.

Tôi cứ bới mãi, bới mãi, thậm chí không còn muốn tìm cái chìa khóa nữa, sự thật là tôi không hề còn biết mình phải làm gì. Lạc lõng, vô phương.

Rồi tự nhiên tôi nếm thấy vị đắng trong miệng mình. Bỗng nhận ra giọt nước mắt đang lăn trên má mình, tôi thút thít, khuôn mặt nhăn nhó cố kìm nén cảm xúc, dường như thấy mình đang từ đào mộ cho Alice, tôi có thể thấy khuôn mặt trắng bệch của cô ấy bị lấp dần lên bởi rác rưởi.

Thế rồi sức lực trong tôi tiêu biến mất. Tôi đổ gục xuống vô lăng ôtô, như giọt mưa rơi xuống mặt đất. Chúa ơi! Tôi cúi đầu áp mặt vào vô lăng thút thít như một đứa trẻ con, một đứa con gái choai choai vừa mới thất mối tình bọ xít. Tôi bỗng cảm thấy căm hận đời ghê gớm, nhưng thậm chí còn thù ghét bản thân kinh khủng hơn. Muộn rồi! Quá muộn rồi! Không còn cứu vãn được nữa! Mình đã để mất Alice! Chính mình gây ra! Không có ai để đổ lỗi! Tại sao! Tại sao! Tại sao? Tại sao lại là mình? Giờ trắng tay không còn gì cả! Phải sống ra sao đây? Làm sao còn sống được nữa đây?

Tôi cuộn tròn lại trên đệm ghế ôtô, cố gắng thu nhỏ mình lại hết sức có thể. Bên trong chiếc xe này là không gian tội lỗi của riêng tôi, nó nhỏ bé, ấm áp và khá tử tế. Tôi chỉ muốn từ giờ đến cuối đời chui lủi trong xó xỉnh này, chết cô độc không phải gặp bất cứ ai. Giống như tôi phải sống để chịu đựng hình phạt cho tội ác của mình.

Nhưng chỉ vài phút sau đó, tôi bị lôi khỏi chốn thiên đường trong tiềm thức của mình. Đơn giản, sau một lúc im lặng quý giá, tôi lấy lại được khả nămg giữ bình tĩnh và suy nghĩ rõ ràng hơn. Cố gắng sáng suốt, tôi ngả lưng vào ghế, giữ cho mình được thoải mái một chút. Gạt vài giọt nước mắt còn vướng trên khóe mắt, lấp đầy cái đầu mình bằng các suy tính, giữ cho nó được bận rộn. Tôi phải làm gì tiếp theo đây?

Kiểm tra lại các chỗ giấu chìa mà tôi có thể bỏ qua lúc trước trong cơn tuyệt vọng. Không có gì cả, tôi rút ra kết luận sau khi rà soát toàn xe đến lần thứ hai. Giờ ít nhất cũng ra được khỏi khu rừng tìm đến đường cái, tôi phải tìm bằng được chìa khóa cho chiếc xe này, chứ đi bộ giữa đêm với không đèn đóm cùng với khẩu súng hết đạn, tôi không thích tí nào. Điều bây giờ tôi nên làm, tôi phải quay lại căn nhà chỗ Barry và chờ đợi điều tiếp theo sẽ xảy ra không quá khủng khiếp. Cố gắng nghĩ đến phía sáng sủa, nếu những bản thảo đó thực sự do chính tôi viết, và hắn cần đến nó. Điều đó có nghĩa tôi là hi vọng duy nhất của hắn. Có lẽ giờ đây hắn cũng đang tuyệt vọng như tôi khi con mồi không chịu làm theo những gì được sắp đặt. Hắn sẽ gọi lại sắp xếp một cuộc thương lượng mới ngay thôi.

Bỗng tôi hướng trí tò mò đến một tờ giấy kẹp ở cửa kính xe. Rút nó lên, tôi mở tờ giấy ra để đọc dòng chữ viết bên trong.

"Gửi Tom

Chìa khóa xe ở phòng thay đồ trong tủ quần áo của cậu, ngày mai cậu mang xe lên thành phố kiểm tra động cơ hộ, có tiếng hơi nước xì ở bên trong.

Kí tên
Zane"


Vậy là bỗng nhiên tôi tìm được chiếc chìa khóa một cách dễ dàng. Mừng rỡ, tôi lại thầm ước giá như mình tìm được nó sớm hơn. Nhưng điều gì xảy ra cũng đã xảy ra rồi.

Nhưng vẫn còn nữa, tôi quay mặt sau tờ giấy ra hiếu kì xem những dòng dày đặc chữ ở đằng sau viết gì. Có lẽ người chủ chiếc xe này trong lúc vội vã đã lấy tạm một tờ giấy nào đấy viết tạm lên mặt sau.

Đó chính là một trang bản thảo của tôi!

"Khi Barry nhìn thấy những bóng đen tấn công vào khu nhà tiếp tân, từ xa qua ô cửa sổ, anh ngay lập tức tin vào những gì Alan đã nói như một lời lí giải duy nhất. Người bạn thân của anh đã không tưởng tượng ra mọi chuyện, cái bóng đen biến mất khi Alan nổ súng không phải chỉ là một gã bản địa nóng nảy.

Bằng cách nào đó, toàn bộ thế giới xung quanh Barry thay đổi hoàn toàn theo góc nhìn. Giống như một chương trình truyền hình trên tivi bị đổi kênh bất ngờ. Bạn tưởng mình đang xem một kênh giải trí nhảm nhí nhưng thực sự ra đang đóng vai trong một bộ phim kinh dị.

Barry nhảy lên giường, chùm chăn kín lại giống như bọn nhóc ba tuổi làm khi sợ ma. Khi anh nghe thấy tiếng cửa kính vỡ ở sau ngôi nhà, Barry không ngạc nhiên, chỉ sợ vãi đái ra quần"

Tôi đứng đực ra một lúc.

Ôi không! Barry!

Chiếc xe rú ga, gầm lên bụi đất bắn tung tóe dưới bánh, lao đi đâm đổ cánh cửa lưới, làm sập một nửa cái gara dựng bằng tấm lợp nhôm. Đánh ngoặt tay lái sang một bên, thân xe vẽ một hình cầu vồng khói bụi trên mặt đất, nghiền nát và cào xới và nghiền nát những lều trại vải dựng giữa đường tôi đi. Xoong nồi và chảo sắt bị hất tung lên, đập mạnh vào thành, cửa kính xe. Mặc dù tôi có thể cảm nhận được tiếng răng rắc nứt vở của cửa kính ôtô trước mặt, nhưng bàn tay vẫn nắm chắc vào vô lăng vững tay và hai mắt vẫn mở to chăm chú vào con đường phía trước. Tôi ước gì những gì trên tờ giấy kia có một tấm biển nho nhỏ viết những thứ nó viết sẽ xảy ra chính xác vào ngày tháng năm, giờ phút giây nào. Có trời mới biết đấy, có thể tôi chỉ còn một giờ, nửa tiếng, hay vài giây nữa thôi. Có khi nó đang xảy ra ngay bây giờ, ngay lúc này đây, hoặc thậm chí nó đã xảy ra rồi. Tôi có cảm giác mình đang vờn nhau với một bóng ma thoắt ẩn thoắt hiện.

Chỉ đến khi màu đen mênh mông của con đường nhựa trải dài vào ban đêm trước mặt hút tầm mắt, tôi mới rút chiếc điện thoại trong túi quần ra xem thử. Đúng như tôi nghĩ, vùng này hoàn toàn không có sóng, dưới vết nứt xòe móng vuốt sắc nhọn lan ra trên mặt kính, ngọn tháp giản đơn với biểu tượng không tín hiệu.

Như thông thường, tôi luôn giật mình khi nhớ lại những tác hại hành động của mình, những hậu quả khi nó đã xảy ra không cách nào quay ngược, như ám ảnh nhìn kim giây đồng hồ quay. Barry có thể đã tuyệt vọng gọi cho tôi cả chục lần, kêu gọi giúp đỡ, nhưng chẳng qua cũng là nỗ lực vô ích. Mặc cho tiếng kêu thảm thiết của cậu ta có vang vọng cả khu rừng chăng nữa, cũng không thể nào vươn quá những nơi nào sóng điện thoại không thể chạm tới, cũng như sự vô tâm của tôi. Nghiến chặt răng, chân nhấn mạnh vào bàn đạp ga. Cảnh vật xung quanh mờ đi như thể tan vào bóng đêm hun hút trước mặt.

Dọc theo khuôn mẫu điển hình của một cơn ác mộng, dường như tôi có làm gì thì cũng đã quá trễ. Mặc dù bánh xe đang chạy bon bon trên mặt đường, bằng cách nào đó tôi cảm thấy mình đang ngồi bất động, trong một không gian hỗn độn không chỉ là của các xúc giác, mà là còn là của tâm trí. Để cố gắng tuyệt vọng thay đổi thứ gì đó, giống như vươn bàn tay qua những bánh răng chuyển động khổng lồ của cỗ máy hiện thực, để những chiếc nanh đồng cắn sâu vào từng thớ thịt trong khi mê hoặc với tới những mộng ảo tuyệt đẹp.

Nhìn vào hộp số tốc độ, tôi ngạc nhiên khi cái kim đã chỉ tới hơn 90km/giờ. Và tôi bỗng nhận ra, đây là con đường mà vào cái ngày vừa mới tới đây, tôi đã cùng Alice đi trên con đường này, cũng trong một chiếc xế hộp màu đỏ. Tôi thì luôn muốn đi thật nhanh trên con đường vắng vẻ, nhưng lúc nào cũng vậy, Alice luôn có cách để khiến tôi đi chầm chậm theo ý cô ấy. Dường như với nghề nhiếp ảnh của mình, cô ấy luôn tìm thấy vẻ đẹp trong từng cành cây ngọn cỏ nhỏ nhất. Mỗi một chuyến đi với Alice, không còn chỉ là một cuộc hành trình từ điểm A tới điểm B, mà còn là một chuyến phiêu lưu kì thú. Kìa đỉnh núi kia giống như chiếc sừng cầu vồng của một con ngựa thần thoại. Còn đám mây đang bay lơ lửng trên đầu, chẳng phải có hình dáng giống một mụ dì ghẻ đang dùng gậy xua đuổi đứa con riêng của chồng hay thấy trong những câu truyện cổ tích sao? Sự thơ ngây của Alice thật nực cười, nhưng đôi khi nó cũng khiến tôi phải ngẫm lại những thứ tuyệt diệu, nhỏ thôi nhưng tôi lại vô tình bỏ qua trong đời. Khi nhìn lại tuổi thơ bị lãng phí của mình, tôi biết ơn Alice vì đã trao cho tôi một cuộc sống đúng nghĩa.

Và giờ đây cô ấy không còn ở bên tôi. Kí ức dường như nhạt nhòa theo thời gian. Cảm giác kì ảo luôn khiến tôi phân vân liệu những gì chúng tôi đã trải qua có là thật, hay cô ấy chỉ là một tác phẩm hoàn hảo khác do trí não tôi tự tạo ra? Không có thật giống như những cuốn sách mà tôi viết?

Con đường dải nhựa ở chốn khỉ ho cò gáy không tránh khỏi hư hỏng không đáng có. Chiếc xe vấp phải một ổ gà, nhỏ thôi, nhưng cú vấp khiến cho tôi giật mình mất tay lái. Tôi lúng túng đạp chân ga, quả là cả một sai lầm khi chiếc xe đang lao đi với tốc độ gần 100 cây số một giờ. Giống như con thú bị chọc cho điên tiết, chiếc xe hung hăng lồng lên, cào móng vuốt xuống mặt đường rú rít. Đôi khi tôi nghĩ sâu trong thâm tâm mình, tôi không còn thiết sống nữa.

May mắn thay, chiếc xe không bị lật. Cú đạp phanh chỉ khiến cho nó quay vài vòng trên mặt đường rồi lao xuống bụi cây bên cạnh. Cú va chạm không mạnh lắm, nhưng khói mù từ động cơ đã tỏa ra, và tôi không có cách nào khiến cho nó khởi động lại được.

Chán nản, tôi bước xuống xe, bâng quơ đá vào lốp xe vài cái. Bỗng nhiên tiếng động cơ lại rú lên, nhưng ngay sau đó tắt lịm. Sau một tràng nổ liên khúc của tiếng máy móc, ánh đèn pha phía trước chói sáng, rồi nổ bốp một cái. Giờ thì không còn chút tiếng động và ánh sáng nào, cả cơ thể tôi hòa tan vào trong không gian đen tối xung quanh.

Liền sau đó, tôi nghe thấy tiếng sột soạt của bụi cây sau lưng. Giật mình quay lại, tôi luống cuống để rơi cây đèn pin xuống đất. Ánh đèn chạm xuống nền đất cứng, cái hình tròn trắng sáng nảy tưng tưng khắp nơi. Tôi cố cúi xuống nhặt nhưng chiếc đèn pin đã kịp lăn quá xa.

Chỉ đến khi chiếc đèn pin nằm yên một chỗ không còn động đậy, tôi mới nhổm người dậy, không phải để đi tới nhặt chiếc đèn pin, mà bởi vì tôi đã nhìn thấy nó.

Ánh đèn sáng chiếu thẳng vào vào khu rừng tăm tối, kéo dài một cái bóng kì quái lên nền tranh được làm từ lá cây và cành khô ở đằng sau. Đó là một thứ mang hình dáng của một con hươu, nhưng tôi dám chắc nó chỉ là một con quái vật đội lốt. Với con ngươi đen đặc của nó, một cảm giác kì quặc xâm chiếm lấy cơ thể tôi. Đứng trong một bụi cây rậm rạp, nó thò mỗi cái đầu lên, nhìn tôi chằm chằm không chớp mắt, ánh đèn pin trắng nhấp nháy khiến cho hình ảnh của con vật trông nhợt nhạt và mờ ảo cùng với màn sương lung lay. Con vật chầm chậm dướn người về phía trước, ánh sáng chiếu vào mắt nó khiến cho con ngươi đỏ ngầu.

Chiếc đèn pin bỗng tắt phụt. Tôi giật mình vội với tới trước nhặt nó lên. Lấy tay đập vào thân cây đèn vài phát, ánh sáng ấm áp lại quay trở lại, nhưng con hươu đã biến mất từ khi nào. Ánh đèn pin trên tay tôi đang chiếu thẳng vào khu rừng, nơi ánh mắt chết người của con vật nay chỉ còn bạt ngàn cỏ cây và tiếng chim muông ở đằng xa xa. Tôi tự nhủ với mình, có lẽ con vật khi nghe thấy tiếng động đã chạy mất, dù tôi không hề nghe thấy tiếng động nào cả, kì lạ thật.

Không hề báo trước, ánh đèn ôtô bỗng chói sáng, phóng những tia nhọn hoắt thẳng vào con ngươi tôi. Tôi vội vàng lấy tay che mặt, tự hỏi cái cảm giác này có giống như lúc những tên bóng đen kia nhìn thấy ánh sáng đèn pin của tôi không? Sau một lúc khi đã quen dần, tôi để ý đến những tiếng thì thào khe khẽ bên tai, dường như phát ra từ bên trong chiếc xe.

Rón rén lại gần, âm thanh ấy lại càng lớn hơn, tôi rụt rè chầm chậm mở cánh cửa xe ra. Bên trong chiếc ôtô trống rỗng, một khoảng không gian sâu thẳm bên trong, không có gì ngoài ánh sáng phát ra từ cái màn hình GPRS đang treo lủng lẳng trên một sợi dây điện thu hút sự chú ý của tôi, hậu quả của vụ đâm xe vừa nãy.

"Một câu truyện không phải là thứ máy móc, thứ làm theo bất cứ mệnh lệnh nào của nhà văn một cách vô hồn..." - một lần nữa, tôi lại tự thấy mình trên màn hình, đi đi lại lại trong căn nhà gỗ, tay cầm một xấp giấy có vẻ đang rất bực tức.

"... mỗi câu truyện là một con quái thú, với linh hồn và mạng sống của riêng nó. Ta có thể sáng tạo, có thể nhào nặn nó, lúc ban đầu... nhưng, nó càng trưởng thành, nó càng tham lam muốn có những thứ cho riêng mình để thỏa mãn cơn đói khát. Thay đổi dù chỉ một chi tiết nhỏ thôi, và thế là ta đã gây ra cái hiệu ứng dây truyền của các sự kiện, lây lan ra khắp nơi, biến đổi mọi thứ. Những nhân vật trong truyện phải sống thật với bản thân. Những sự kiện phải đi theo một sự logic phù hợp với câu truyện. Một lỗi nhỏ thôi và sự kì diệu sẽ mất."

Đây không phải là một trò chơi cho trẻ con. Bằng cách nào đó, tôi cảm thấy thay vì mình là người đi cứu Alice, mọi việc tôi làm chỉ là dấn thân vào nguy hiểm..."

Màn hình chiếc GPRS bốc khói rồi tắt phụt đen ngòm.

alan_wake_in_the_b_w_forest_by_kook231036-d4yebaj_zpse423d7c3.jpg

Nếu thực sự có một thông điệp nào đó muốn được gửi gắm cho tôi qua những đoạn hình ảnh này, thì đó quả là một sự hổ thẹn. Nếu có ai đó đơn giản hóa nó cho tôi thì còn may ra.

Nếu lạc quan một chút, dù sao chiếc xe cũng đã hộ tống tôi trên một quãng đường khá dài. Từ vị trí tôi đứng, tôi đã có thể nhìn thấy ánh đèn nhấp nháy lúc chớp lúc tắt từ gian nhà tiếp tân đằng xa, hậu quả của vụ tấn công. Quay lại đây khiến cho tôi nhớ lại những kí ức không hay ho gì, giống như bản thân đang tự trải qua một kiểu deja-vu, nhìn thấy những thứ tôi không thể tin nổi có thể xảy ra nữa. Liệu có phải tôi đang mất trí không?

Đi tới khu nhà chính, cảnh vật vẫn ngổn ngang như cũ, cây cột điện trước sảnh chính đã đổ sập, đè nát phần mái của ngôi nhà. Đứng từ bên ngoài, tôi vẫn còn nhìn thấy vết máu kéo dài trên sàn nhà.

Bỗng dưng chiếc di động trong túi quần tôi rung lên, thực sự bất ngờ.

- AL! Ôi chúa ơi Al, cậu đây rồi!

- Barry!?

Chiếc điện thoại đã có sóng lại, tuy nhiên rất yếu, giống như tiếng vọng lại từ thế giới bên kia vậy.

- Suỵt suỵt! Be bé cái mồm hộ tớ cái! Cậu biến mất tích đi đâu đấy hả? Al! Cậu có thấy chuyện gì vừa xảy ra ở phía khu nhà tiếp tân không?

Bàn chân tôi đang chạm đất ngay trước khu nhà sụp đổ.

- Thôi quên đi Barry ạ? Chắc mọi chuyện chỉ do tớ tưởng tượng ra thôi nhỉ? - giờ thì ai mới là người điên đây hả, Barry?

- Ôi không không! Al! Tớ đã tưởng cậu mất trí rồi! Tớ ước là cậu mất trí rồi! Nhưng không...! Mấy thứ ấy, bọn chúng đang đuổi theo tớ. Tớ phải chạy ra khỏi nhà rồi, đang trốn trong nhà kho, nhưng tớ biết bọn chúng vẫn lảng vảng đâu đấy.

- Thôi được rồi, Barry. Tớ sắp đến rồi, cậu cần phải trốn đi, tìm chỗ nào có ánh sáng...

- Ôi má ơi, khỉ thật...! - đường truyền đột ngột ngắt, chỉ còn tiếng bíp bíp kéo dài.

Nghe giọng nói của Barry, tôi nửa mừng nửa lo. Cậu ta vẫn còn sống, nhưng được bao lâu?

Điện thoại lại rung lên, nhưng lần này là của tên bắt cóc.

- Thằng khốn nạn! Mày giữ vợ tao ở đâu? - tôi hét vào điện thoại như muốn nổ tung.

- Ăn nói cho cẩn thận, anh Wake! Tao đã cố mềm mỏng với mày, nhưng mày không biết điều. Ngày mai dưới chân cầu Bright Falls, mời mày đến nhận xác vợ mày dùm cho.

Hắn đánh trúng tim đen của tôi.

- Xin đừng, tôi hứa sẽ làm theo bất kì diều gì anh muốn. - tôi gần như quỳ gối xuống cầu xin

- Như tao đã nói, mày phải giao nộp toàn bộ các bản thảo câu truyện mày mới viết, không được sót một tờ nào. Sự kiên nhẫn của tao là có hạn đấy, đừng đùa với tao. Và tên tao là Mott, không phải " Thằng khốn nạn".

Toàn bộ bản thảo? Giờ tất cả những thứ tôi có là vài tờ giấy lẻ tẻ, thậm chí không đủ dày để kê chân bàn.

- Toàn bộ?! Nhưng mà tôi... Nghe này, tôi vẫn chưa viết xong câu truyện, tôi cần thời gian để viết nốt đoạn kết.

- Vậy là nó vẫn chưa hoàn thành? - xem ra hắn có vẻ tin lời nói dối của tôi.

- Đúng vậy, tôi cần thêm thời gian nữa, chắc phải mất... một tuần.

Một sự im lặng đáng sợ xen giữa chúng tôi.

- Hai ngày, hai ngày là thời hạn cuối cùng của mày. Buổi chiều tại khu hội chợ bỏ hoang phía nam thị trấn. mày đưa tao toàn bộ số bản thảo, và mày sẽ có lại cô vợ. Còn nếu không... mày biết rồi đấy. Rõ chưa?

- Tôi muốn nói chuyện với vợ tôi!

- Còn tao muốn cái tao muốn, làm càng nhanh thì chúng ta càng sớm thỏa mãn, đừng có phung phí thời gian nữa.

- Thôi được, tôi rõ rồi.

Xem ra tôi không thể làm hắn khoan nhượng hơn được nữa. Tôi cúp máy, lần đầu tiên tôi được cúp máy trong mấy đêm này chứ không phải bị ngắt giữa chừng.

Cảm thấy mình như đang chạy đua với thời gian, tôi tiến về phía khu nhà nghỉ của chúng tôi để tìm Barry. Đêm nay quả là một chuỗi của các sự kiện hỗn loạn cái này nối tiếp cái kia. Kiệt sức cả về tâm hồn lẫn thể xác, cơ thể tôi cảm thấy như mình vừa bị một hàm răng nhai ngấu nghiến rồi nhổ toẹt ra.

Cây đèn pin đã là vật hộ mệnh phòng thân, giờ đang là gánh nặng mỗi giây trôi đi càng kéo gì bả vai của tôi xuống. Nhưng ít nhất giờ tôi cũng đã tới gần được căn nhà, chưa có gì kì quái xảy ra và điều đó có thể được hiểu như một dấu hiệu tốt.

Đó là lúc tôi nghe thấy tiếng máy cưa.

Người ta nói ánh sáng luôn đi nhanh hơn âm thanh, nhưng phản xạ của tôi khi nhìn thấy thân cây to lớn đổ về phía mình thì thật là chậm chạm. Có vẻ bộ não tôi đã tự nó điều chỉnh để bớt tin tưởng vào nhưng gì đôi mắt nhìn thấy hơn. May mắn thay, tôi đã kịp bước sang bên cạnh đúng một bước, vừa kịp để tránh ngọn cây nhọn hoắt đổ xuống.

Một gã to lớn bước ra từ sau cái gốc cây bị cắt ngọt lịm, trên tay cầm chiếc cưa đang chạy rầm rĩ. Khuôn mặt và cơ thể hắn, dĩ nhiên, cũng phủ đầy thứ chất lỏng đen đặc. Hắn khua cái cưa máy lên quá đầu, tiếng ầm ầm phát ra không hiểu từ chiếc cưa hay hắn đang gào thét nữa.

Nhưng hắn không phải chỉ có một mình, chỉ một lúc sau, cả một toán người chạy ra từ bụi rậm phía sau lưng hắn. Có tên lớn, tên nhỏ, trên tay chúng cầm đủ thứ từ rìu, búa, liềm, đinh ba... mọi thứ có thể làm tổn thương tôi. Trong số đó, tên cầm cưa là to con nhất, đang lừ lừ tiến thẳng về phía tôi trong khi những tên khác nhỏ con hơn tỏa ra mọi phía hòng bao vây lấy tôi. Giống như một đám dân làng giận dữ xua đuổi vị khách lạ vậy.

Một tên nhanh nhẹn nhất, hai tay cầm hai con dao găm, đã chạy lên sát gần tôi. Bàn tay tôi nâng khẩu súng và chiếc đèn pin lên ngang tầm mắt, chĩa thẳng vào hắn. Tiếng súng vang lên và cú giật nảy của khẩu súng làm đau cánh tay tôi đồng thời tên nhỏ con lóe sáng biến mất, như lúc người ta đốt vàng mã. Nhưng chưa kịp vui mừng, ba bốn tên bóng đen khác đã ùn ùn kéo tới, đập tan cái tàn tro đang lơ lưng trong không khí chưa kịp tiêu biến hẳn mà xông lên.

Tôi phải vừa lùi vừa nổ súng, nhiều phát bắn chỉ là dọa dẫm khi viên đạn bị luồng không khí đen bốc ngùn ngụt xung quanh chúng văng bật đi, giống như bắn vào một tảng đá, dù chí ít cũng khiến bọn chúng chậm chân. Chiếc đèn trong tay tôi lia đia khắp mọi nơi, khiến nhiều tên chói mắt mà lùi lại. Tuy nhiên tôi luôn để dành một tên không chiếu đèn. Và khi hắn tiếp tới cách tôi một khoảng đủ gần, tôi đột ngột quay sang ngắm bắn hắn thật nhanh, chỉ cần một hai viên đạn đã tiễn hắn lên đường.

Với chiến thuật hữu dụng như vậy, tôi chia tách bọn chúng, không để cho chúng lợi dụng được lợi thế số đông. Hết tên này đến tên kia, những bóng đen kia đều lần lượt làm mồi trước họng súng của tôi.

Nhưng bất ngờ, tôi bỗng nhận ra cái gã to lớn kia đã tến sát tới gần. Một gã cục sức lực điền, mặc chiếc áo bảo hộ đỏ cùng chiếc mũ bảo hiểm, thậm chí chiếu đèn thẳng vào mặt hắn cũng không khiến hắn lùi bước. Ánh sáng chỉ thiêu cháy được một lớp mỏng của dòng bùn đen trên mặt hắn, làm nó biến dạng không giống bất kì một khuôn mặt người nào tôi đã từng gặp cả. Hắn đang nâng chiếc cưa máy lơn lên trên cao, tôi biết chắc chắn không ai có thể sống sót nếu lĩnh trọn một phát chém của cái cưa ở cự li gần như thế cả.

Chợt nhớ tới vài cây pháo sáng tôi nhặt được của tên bắt cóc làm rơi trong khu rừng, tôi vội rút ra, bật cái nắp để những tia sáng tóe ra từ một đầu. May mắn việc đó đã có hiệu quả, hắn đã phải nhăn nhó lấy tay che mặt mà lùi lại. Và không chỉ có hắn, những tên còn lại cũng dạt ra hết.

Súng của tôi đạn không phải là vô hạn, nhưng bọn chúng chỉ còn có ba bốn tên. Tranh thủ lúc quả pháo hãy còn cháy sáng, tôi chiếu đèn xử lí nốt những tên nhỏ bé còn lại. Sau ba phát súng ngắm chuẩn, giờ chỉ còn lại duy nhất tôi và cái gã cầm cưa đối đầu với nhau.

Quả pháo đã tắt ngúm, gã đô vật không còn gì để sợ. Bực tức, hắn bỗng rú lên rồi cắm đầu nhắm thẳng vào tôi mà húc. Bị bất ngờ, tôi ngã ngửa ra mặt đất đằng sau trong khi hắn đang đứng thẳng phía trên, cái cưa giơ lên không trung sẵn sàng bổ xuống.

Đầu cưa cắm xuống mặt đất khi tôi lăn người né qua một bên, đất bắn tung tóe. Tôi lấy hết sức đâm thẳng cái đèn pin vào mặt hắn, hắn rú lên đau đớn khi toàn bộ phần bùn đen trên đầu hắn bị đốt cháy đi mất.

Chớp lấy cơ hội của mình, tôi nã toàn bộ đạn còn lại trong ổ súng vào hắn. Phải đến phát thứ ba trúng đầu, cơ thể khổng lồ của hắn mới sụp đổ trên hai đầu gối, từng phần cơ thể hắn tan vào không khí rồi biến mất hoàn toàn.

Tôi hoảng hốt chống tay đứng dậy, vụng về với hai cẳng chân của mình. Cái đám khói đen từ chỗ tên bóng đen đang tan dần. Tôi rụt rè vớ lấy cái đèn pin đang lăn tròn trên mặt đất, như thể hắn có còn quay lại. Vỗ vỗ vài phát, tôi phát hiện ra mình có làm gì cũng là vô dụng. Bên trong lớp kính trên bóng đèn, nếu tôi lắc mạnh, có thể nghe thấy tiếng leng keng khe khẽ của dây tóc đã đứt bên trong.

Bỗng nhiên dù không có ngọn gió nào, bụi cây bên cạnh tôi khẽ rung lên. Tôi phản xạ nhanh chóng, giơ cái đèn hỏng chiếu vào bụi cây như một gã khờ. Bụi cây ngày càng rung mạnh hơn, tôi có thể nghe thấy tiếng chân nện thình thịch trên mặt đất.

- Barry!? Thần thánh ơi, cậu làm tớ sợ hết hồn...! - tay tôi vẫn còn chĩa thẳng khẩu súng vào cậu ta.

Trông Barry thảm hại, lá cây bám khắp người, vài cành cây khô cắm vào áo.

- Chạy đi Alan!

- Cái gì...!? - Barry chạy vụt qua người tôi, thở hổn hển không nói thêm lời giải thích.

Bỗng tôi nghe thấy tiếng xào xạc từ đằng xa, lúc đầu còn nhỏ, rồi càng ngày càng to dần, xào xạc như tiếng lá cây cọ mình trong gió. Lúc đầu tôi cứ tưởng bầu trời đang biến mất dần, từng ngôi sao một cứ thứ tắt phụt đi. Nhưng rồi nó ập đến, một tấm thảm đen lúc nhúc những sinh vật kị dị kéo tấm màn che khuất bầu trời. Tôi đã tưởng chúng là những con dơi lớn cho đến khi tôi nghe thấy tiếng kêu chết chóc của loài chim báo tử. Chúng hét vào mặt tôi. Chúng gào thét khi vần vũ xung quanh tôi.

Khi tôi chưa kịp phản ứng, một vài con vật tách khỏi đàn, nhanh nhẹn lao đến phía tôi. Một làn gió lướt qua với con ngươi đỏ ngầu, cảm giác đau nhói, tôi nhăn nhó nhìn xuống một vết cắt dài trên cẳng chân, xuyên qua cả lớp quần bò, đang rỉ máu.

Một tay ôm lấy vết thương, tôi ngước lên nhìn cái đám mây đen đủi đang bay lượn xung quanh mình, hệt như tại trung tâm của một cơn lốc xoáy. Thỉnh thoảng, một vài đám quạ tách đàn bay ra, tôi cố lấy súng bắn chúng, nhưng cũng chỉ như bắn vào sương mù. Đến khi tiếng lách cách của ổ đạn vang lên trên tay, tôi mới nhận ra mình phải làm gì, chạy.

Nhảy xuống một con đường mòn trong khu rừng, tôi chạy thục mạng. Tiếng chân nện thình thịch xuống mặt đất trong khi tôi có thể cảm thấy đàn quạ khổng lồ đang rẽ đám lá cây trên cao mà đuổi theo tôi. Khẩu súng hết đạn tôi đã vứt vào xó xỉnh nào đó trong khu rừng, giờ tôi đang chạy trốn trần truồng không có vũ khí chống cự, như đứa trẻ sơ sinh trước nanh vuốt của sói ác.

Đến một ngã ba, tôi cảm thấy mình lưỡng lự, đường nào cũng dẫn vào rừng cây âm u không lối thoát, tôi đang nghĩ đến việc quay lại, liều chết xông qua đám quạ đen háu đói, hi vọng tìm thấy một căn nhà nào đó để có thế nương thân.

Bỗng có cái gì đó cuốn lấy chân tôi, lạnh toát và chết chóc. Nó kéo mạnh ra sau khiến tôi ngã bổ chửng. Nằm sấp, tôi có thể thấy nó đang kéo tôi vào một góc tối sâu hoắm, đen thui như cái quan tai. Tôi cố chống cự, vùng vẫy, hét lên, nhưng nó trói chặt tôi, bịt mồm tôi lại.

- Suỵt, yên nào Al!

Tôi dừng chống cự, yên lặng một lúc. Tôi có thể nghe thấy những tiếng đập cánh của lũ tiểu quỷ ở bên ngoài. Nhưng chúng không biết chúng tôi ở đây, tiếng xôn xao xa dần đến mất hẳn.

- Cậu định ôm tôi đến bao giờ thế?

Tôi đẩy Barry ra, không phải tôi có ác ý gì, chỉ là tôi thấy hơi kì thôi.

- Ây dà! Không cần cảm ơn đâu nhỉ? Tớ chỉ mới cứu cái mạng của cậu thôi mà? - chúng tôi cố thì thào nhỏ nhất có thể.

- Cái quái gì đang bay lượn ở ngoài kia thế hả Barry? Sao cậu lại chạy ra khỏi nhà?

- Bình tĩnh Al! Cậu đừng để cho bọn chúng nghe thấy.

Barry nhìn vào cái chân rớm máu của tôi, nhưng có vẻ vết thương ấy hòa mình một cách hoàn hảo vào cơ thể rách rưới thảm hại.

- Có người phá cửa sổ đột nhập vào nhà, tớ sợ quá chạy ra ngoài mất. Al! Cậu vừa đi đâu mà trông xơ mướp thế kia...?

- Suỵt!

Tôi ra dấu cho Barry. Ở bên ngoài, tôi có thể nghe thấy những tiếng xào xạc tiến lại gần, ngày càng lớn, nhưng rồi sau đó đám chim chỉ lướt qua chỗ chúng tôi rồi bay đi chỗ khác mất. Có vẻ xem ra bọn chúng vẫn chưa biết chúng tôi ở đâu cả.

- Cậu thấy căn nhà kia không? - Tôi chỉ vào một cái chòi gỗ, có thế thấy ánh sáng le lói chiếu qua cửa sổ, xuyên qua các tán lá thưa vào khu rừng.

- Khi nào tôi bắt đầu chạy, cậu phải bám sát ngay sau tôi nhé!

- Nhưng mà Al...?

Đến khi Barry cất tiếng, tôi đứng thẳng người trên hai chân, chui ra khỏi chỗ nấp hướng về cánh cửa.

Tiếng chim chóc đột ngột xôn xao giận dữ sau lưng tôi, nhưng tôi không quay đầu nhìn lại. Ba chân bốn cẳng chạy chối chết, tôi húc thẳng người vào cánh cửa gỗ, vội vàng xoay nắm đấm làm cánh cửa bật tung ra.

- Al! Đợi tớ với!! - Barry đang lật đật chạy. Tôi có thể nhìn thấy những chiếc mỏ sắc nhọn háu đói đang ở cách cậu ta không xa.

- Nhanh chân lên Barry!

Tôi giữ cánh cửa đợi. Chỉ đợi Barry chạy qua mình, tôi vội vã đóng sầm nó lại. Ở mặt ngoài ngôi nhà, tôi có thể nghe thấy tiếng phầm phập cắm vào mặt gỗ giống những mũi tên sắc nhọn.

Tôi quay lại nhìn Barry, cậu ta đang thở không ra hơi, mồ hôi nhễ nhại. Anh chàng kiệt sức, buông mình xuống ghế so pha như một quả tạ. Sau một hồi im lặng, chúng tôi cười phá lên vang khắp nhà, một phần vì trông tình trạng thảm hại của nhau, một phần kích động vì những sự kiện xảy ra đêm nay.

- Al này! Xin lỗi, trước tớ cứ tưởng cậu phát điên rồi cơ.

*
* *​

Tại khách sạn "Hoàng Gia", cái tên mà người ta mong muốn nó được như thế, nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược. Giờ đã là nửa đêm, hắn mới được ngả lưng xuống giường sau một ngày làm việc vất cả. Nhà nghĩ này bốc mùi, thậm chí khổng phải kiểu bốc mùi đặc trưng ở Chicago. "Hoàng gia" cái đít tao ấy, hắn nghĩ.

Quán cà phê thực sự không phải là một ý kiến tồi, nơi hắn có thể giả vờ đội một cái mặt nạ thân thiện để thu nhập thông tin từ dân địa phương. Thậm chí ở đó còn có một tấm bìa các-tông tạo hình tên Wake với kích cỡ y như người thật nữa, có lẽ một trong những cô phục vụ là fan lớn của hắn, băn khoăn không biết cô ta sẽ phản ứng thế nào khi biết được những gì mà hắn đã gây nên nhỉ? Hắn lấy tay bóp trán, nhớ hồi còn trong trường huấn luyện cảnh sát hắn cũng phải tập bắn vào những cái bia to y như thế.

Làm thế nào để bắt được "cậu bé" của chúng ta trước khi hắn làm hại thêm ai nữa? Một câu hỏi trị giá triệu đô mà câu trả lời dường như quá đơn giản, vậy mà không ai có. Hắn đã dò hỏi nhiều người hết sức có thể, nhưng cái hắn đạt được chỉ là cảm giác nghi ngờ có thứ gì đó khủng khiếp xảy ra sau những khuôn mặt tươi cười thân thiện nơi đây. Tất cả mọi người đều khai cùng một câu truyện nhảm nhí và thối hoắc một cách nhàm chán. Hắn đã gặp tình huống này nhiều rồi, những tên đàn em của trùm ma túy khi bị bắt luôn luyên thuyên như một cái máy giống chư chúng đã được huấn luyện, được sai bảo phải nói gì từ trước, giống như huấn luyện một con chó. Nhưng bây giờ, là cả thị trấn ở vùng heo hắt này, thật là điên rồ.

Tất cả bọn chúng đều biết nhiều hơn những gì chúng nói, hoặc chỉ đơn giản là chẳng biết gì cả. Điều đó, đối với hắn, còn đáng sợ hơn gấp ngàn lần. Hắn có cảm giác mình phải đang phải đơn độc đối đầu với một tên trùm siêu tội phạm. Chắc chắn tên Wake phải ghê gớm lắm mới khiến cho người dân ở đây câm miệng trước những tội ác mà hắn gây ra. Đi qua ba đám tang hồi sáng nay khi trên đường đến quán cà phê. Tiều phu bị cây đổ đè chết ư? đặc sản cục! Hắn biết là phải có gì đó đang âm thầm xảy ra.

Hắn ngáp dài, xoay mình trên giường, cố ru mình vào giấc ngủ. Có tiếng loạt soạt bên ngoài nhà nghỉ, nhưng hắn mặc kệ. Đêm nào cũng vậy, có lẽ đó là tiếng thú vật trong khu rừng, cũng có một lần hắn đứng dậy cầm đèn pin đi kiểm tra rồi, kết quả chẳng có gì, và hắn lạc nửa tiếng trong khu rừng. Phải cố ngủ đi, thao thức cả đêm khiến cho ánh sáng ban ngày làm hắn đau đầu.

Mỗi lần hắn nhắc tới tên Wake ở sở cảnh sát, hắn có thể cảm thấy một khoảng lặng đáng sợ trước khi đám gà mờ ấy phun ra những thứ vô bổ không đầu không đuôi. Biết đâu tên Wake còn có đồng bọn, hắn hẳn không toàn năng đến mức tự một tay mà gây nên bao nhiêu truyện như thế này được.

Hắn không thể tin vào bất cứ ai ở đây cả. Xem ra tất cả những gì hắn có thể dựa dẫm vào chỉ là vận may. Hắn tự nhủ với mình, chỉ cần ông trời cho hắn một cơ hội, thì bằng bất cứ giá nào hắn cũng sẽ nắm lấy. cho dù máu có phải đổ đi chăng nữa.

*
* *​

Chúng tôi để đèn ngủ quên đến sáng, thỉnh thoảng trong đêm giật mình vì những tiếng động nhỏ. Sau bữa ăn bắt đầu ngày mới ở trong thị trấn, tôi và Barry chia nhau ra, chúng tôi cố thử tìm kiếm các tài liệu về các sự kiện siêu nhiên đã từng xảy ra ở thị trấn này, hi vọng tìm được một lời giải thích xác đáng, tên bắt cóc là ai, hòn đảo và căn chòi gỗ biến mất trên hồ Cauldron. Tôi tới thư viện còn Barry ở nhà lên mạng tìm hiểu, dù sao cậu ta cũng biết nhiều về internet hơn tôi.

Bỏ cuộc sau một lúc mò mẫm, khoảng chục năm trước thư viện cũ đã cháy rụi trong một trận hỏa hoạn lớn, toàn bộ những văn kiện cổ đã mất trong vụ tai nạn đó. Vài năm trở lại đây khi du lịch phát triển, người ta mới dựng lại một thư viện mới khang trang bóng loáng trên nền tro tàn cũ, những thứ trên kệ sách chỉ là những cẩm nang hướng dẫn du lịch hoặc những cuốn tiểu thuyết của các tác giả không tên tuổi bày tràn lan.

Tôi đi qua phòng nghỉ, ở đây người ta có đặt một máy đánh chữ, có vẻ để tạo vẻ cổ kính giả tạo hơn là để dùng, bụi bám mỏng trên phím. Tôi ngồi xuống trước bàn, lấy một tờ giấy trắng trên cái xấp để bên cạnh cho vào máy. Có thể tôi sẽ đánh linh tinh thêm vài trang, nhảm nhí thôi cốt để cho tên bắt cóc tin tưởng. Gì chứ nếu không cần chăm chút, một ngày tôi đánh vài chục trang không phải là vấn đề.

Nhưng ngay khi tôi đặt tay xuống chiếc máy, ngay lập tức mắt tôi bị cái màu trắng sáng của tờ giấy thô làm chói là, ít ra là tôi cảm thấy thế. Cảm thấy như não mình như đang bị vắt thành nước, tôi đành phải giật mình lùi lại lấy tay che mặt.

Bực tức vì sự vô dụng của mình, tôi lấy tay đập mạnh xuống bàn phím. Tiếng động lớn phát ra khiến người thủ thư không lấy gì làm thiện cảm. Đối với tôi, những thứ siêu nhiên được tưởng tượng ra chẳng là gì ngoài những câu chữ, những phép tu từ, vỏ bọc cho những thần kinh của con người, một công cụ để dùng cho viễn tưởng. Giờ thì nó thực sự xảy ra ngay trước mắt, và tôi thậm chí không thể viết nổi lấy một chữ.

Điện thoại của tôi bỗng reo lên. Số lạ, có thể của tên bắt cóc, dù bình thường số của hắn bị ẩn đi. Tôi cẩn thận nghe máy.

- Alô!

- Ôi anh Wake, may quá, tôi cũng tìm được anh! Tôi tìm anh khắp nơi nhưng cứ như anh biến khỏi mặt đất này rồi ấy! - Người đầu dây bên kia mừng rỡ.

- Ai đang gọi đấy? Sao anh biết số máy của tôi?

- Tôi đây mà! Tôi là Clay Steward đây, anh còn nhớ chứ? Chúng ta chưa từng gặp nhau nhưng anh và tôi đã cùng chia sẻ những giấc mơ mà? Nghe này, anh phải nghe tôi nói, anh phải tin tôi!

- Đây là một trò đùa hả? - tôi nhăn mày.

- Không không! Rất nghiêm túc! Anh nghe này! " Tất cả chỉ là dối trá! Tất cả chỉ là dối trá!". Anh hiểu không?

- Cái gì dối trá cơ?

- Tôi không biết... - người đàn ông trả lời chửng hưng.

- Xin lỗi! Nhưng tôi hkông thấy trò đùa này vui chút nào. Tôi gác máy đây!

- Không! Anh Wake! Anh phải tin tôi!

Tiếng tút kéo dài.

Có lẽ đó chỉ là một fan quá khích nào đó mà thôi. Thường thì hồi ở New York Barry là người xử lí những cuộc gọi kiểu như thế này, nhưng tôi không hiểu làm sao ông ta lại có số của tôi nữa.

Chiếc điện thoại lại rung lên. Một số máy lạ khác.

- ALÔ??

- Tôi là Rose.

- À à! Rose đấy hả! - tôi thấy lạ khi cô bồi bàn cũng có số máy của tôi, nhưng tôi chắc không lạ gì tính Barry nữa.

- Tôi có bản thảo của ông, Alan.

- Hả, cái gì? À, vâng, đó là của tôi. - Rose không khỏi khiến tôi bất ngờ.

- Liệu ông và Barry có thể đến lấy không? Tôi sống ở một khu trại bên ngoài thị trấn.

- Ừm, được rồi! Chúng tôi sẽ đến trong vòng một giờ. À, cảm ơn cô.

Không có tiếng đáp lại, tôi dập máy. Thật là quá may mắn, Rose có được thứ đúng lúc tôi cần nhất.

Quá may mắn.

*
* *​

- Chúc một ngày... vui vẻ. Mong ông... sẽ quay lại... sớm. Chào mừng tới... quán cà phê... Oh Deer.

Rose, mặt không còn cảm xúc, giờ mới từ từ đặt ống nghe xuống dù nó đã kêu bíp bíp suốt từ ban nãy.

- cÔ gÁi Ngoan!

Một người đàn bà đứng bên cạnh, tay đặt lên vai Rose. Khuôn mặt bà bị lớp vải đen mỏng che phủ, nhưng vẫn có thể nhận ra được nụ cười thỏa mãn.

Rose không hề biết người đàn bà này lọt vào căn trại của mình từ lúc nào, cũng như từ khi nào. Nhưng trông bà ta thật... kì quái, bằng cách nào đó.

Người đàn bà nhe răng ra khi nở một nụ cười nhếch mép, và bắt đầu dí một ngón tay trỏ lên gò má của Rose. "dỄ tHƯơng Lắm!"- bà ta nói.

Rose cảm thấy mình như đang chìm vào giấc ngủ, nhưng đầu gối cô vẫn đứng vững. Mụ đàn bà nói tiếng thì thào, lời nói của bà ta lạnh băng và đen tối trong tai Rose.

Ngay khi bị chạm bài người đàn bà, Rose lạc vào một thế giới huyền ảo của giấc mơ, nơi mọi thứ được vẽ bằng bút sáp đen và xám. Người đàn bà già hứa hẹn rằng mọi giấc mơ của cô sẽ trở thành hiện thực. Cô sẽ là một nàng thơ mới của Alan Wake.

Cô toác miệng ra cười, đến nỗi cô cảm thấy cơ mặt mình đau rát. Cô nghiền cả một lọ thuốc ngủ đầy cho vào phin cà phê.

Sâu thẳm bên trong, cô đang gào thét trong kinh hoàng.

HẾT CHƯƠNG 2

CHƯƠNG 3
Dối trá​

- Sao tự nhiên cô ta lại tìm được mấy tờ bản thảo ấy nhỉ?

Tôi bước xuống đất, đóng cửa xe lại. Dĩ nhiên đây là một tin tốt, người trong hoàn cảnh của tôi không có nhiều lựa chọn, nhưng tôi vẫn cảm thấy bất an kiểu gì đấy. Có thể đó chỉ tại cái thói đa nghi mà thôi.

- Tớ không biết, Rose tháo vát! - Barry khóa xe lại, rút chìa ra chạy theo tôi - tớ bảo cậu rồi, cậu đánh giá thấp cô ấy quá!

Tôi đoán chắc cũng chỉ đơn giản đến vậy thôi.

- Mà này. Lúc tớ lên mạng điều tra, tớ tìm thấy hàng loạt các manh mối thú vị về vùng đất này...

Có người gọi tới di động của tôi. Đưa tay lên ra hiệu, tôi bảo Barry im lặng một lúc.

- Alô?

- Anh Wake! Chúng tôi tìm anh mãi! Phiền anh một chút, có một vị cảnh sát FBI tên Robert Nightinge đến tìm anh. Theo như anh ta cho tôi biết là một việc rất khẩn cấp...

- tôi nhận ra giọng cảnh sát trưởng Breaker.

- FBI? - FBI tìm tôi làm gì, chẳng lẽ là về vụ của Alice?

- Anh ta... rất khẩn thiết muốn gặp anh. Nếu tôi là anh tôi sẽ đến đồn cảnh sát ngay.

Tôi liếc nhìn Barry một cái, hình như đêm hôm qua cậu ta có nhắc tới việc này. Tuy nhiên mặt cậu ta vẫn thộn ra, chẳng có vẻ gì nghi ngờ cả.

- Vâng, chúng tôi sẽ ghé qua ngay đây - tôi tắt máy.

- Chúng ta làm nhanh thôi nhỉ? - nhìn thẳng vào mặt cậu ta, tôi tìm kiếm một dấu hiệu tội lỗi, nhưng chẳng có gì cả.

Một người đàn ông bước ra từ cái bốt bên cạnh, kéo cánh cửa gỗ được dựng sơ sài. Ông ta đầu hói, tóc hung, trông có vẻ béo cũng như Barry, nhưng nhìn cái bụng tôi tưởng tượng những lúc ông ta hay la cà hàng quán, hay thường xuyên ngồi trước tivi với vài lon bia bên cạnh.

- Tên Randolph. Quản lí khu này. Tôi giúp gì được các anh đây?

Căn trại của Rose nằm tận một góc cuối của khu này. Là một trong số ít những người thuê trại thời gian dài, gần như cả một đời người, Rose rất tử tế khi đề nghị người quản lí cho cô thuê một vị trí tối tăm và kém hấp dẫn nhất. Cô không muốn làm ảnh hưởng đến công việc làm ăn của Randolph, một vị trí đẹp và tử tế cho những người khách du lịch là cách tốt nhất để thể hiện lòng hiếu khách của thị trấn. Randolph đánh giá Rose khá cao, luôn luôn trả tiên thuê phòng đúng hẹn. Ông thích cái nụ cười nhỏ bé thiên thần của cô, cái cách cô luôn ngọt ngào tử tế dù cuộc đời cố hết sức khiến cô thống khổ.

Randolph đồng ý dẫn đường cho chúng tôi đến căn trại của Rose, cho dù trong mắt ông ta vẫn còn một chút vẻ hoài nghi dành cho những vị khách lạ. Ít nhất ông ta cũng biết tôi là ai, đài phát thanh về đêm của ông già Pat Maine đã đảm bảo cho bất cứ hang cùng ngõ hẻm nào ở nơi đây cũng biết về sự hiện diện của nhà văn Alan Wake. Tôi dám chắc lợi nhuận du lịch năm nay cảu cả thị trấn sẽ tăng lên vùn vụt.

- Như tớ đang nói, Al... - Barry lên tiếng - tớ tìm thấy đủ nguồn tin tức quái dị về vùng này trên Google - xem ra cậu ta cũng rất được việc.

- Cuối cùng hóa ra, ngày trước vùng này ngành du lịch phát triển trù phú không chỉ bởi cỏ cây hoa lá, mà còn đầy các hiện tượng kì bí xảy ra ở đây nữa, đủ đến khiến quái vật hồ Lockness thành trò trẻ con - nhìn nét mặt của Barry, xem ra cậu ta không đùa tí nào. Tôi dỏng tai lên nghe.

- Vùng đất này cực kì điên rồ. Các vụ mất tích bí ẩn, giết người hàng loạt, các câu truyện thần thoại trở thành hiện thực giữa ban ngày... Và cậu đoán thử xem, phần lớn các sự kiện đều xảy ra xung quanh... hồ Cauldron! Nơi đây cứ như tam giác Beckmuda trên đất liền ấy!

Người quản lí khu trại lắng nghe câu truyện của tôi từ nãy tới giờ, quyết định tham gia vào.

- Vâng, những thứ các anh vừa nói cũng không hoàn toàn sai. Nhưng người dân da đỏ, thổ dân ở vùng này từ xa xưa đã cho rằng bên dưới mặt hồ phẳng lặng đó là cánh cửa thông sang thế giới bên kía. Tôi cũng không phải là loại người mê tín, nhưng ở đây đã lâu, tôi được nhìn thấy những thứ mà thế giới bên ngoài không tồn tại...

Ông ta bỗng đứng lại.

- Tôi chỉ muốn nói cho rõ, về những vụ tai nạn đáng tiếc như cậu béo kia vừa nói. Vùng này thuở xưa còn hoang sơ, nên thu hút rất nhiều tay đào vàng và người ưa mạo hiểm đến đây. Mà anh biết những hạng người đó là thế nào rồi đấy, bần cùng sinh đạo tặc mà...

- Ừ, vâng vâng... - Barry tiếp lời - tớ vẫn chưa kể xong. Trước đây, trên mặt hồ vốn có một hòn đảo nhỏ, được sở hữu bởi một người tên là Thomas Zane - tôi chột dạ, liệu đó có phải trùng hợp không? - Giờ thì, theo những bài báo tớ đọc được trên mạng, ông ta từng là một nhà thơ rất nổi tiếng, nhưng khi tìm hiểu sâu hơn, tớ không tài nào tìm được bất cứ tác phẩm nào mà ông ta viết cả!

Barry nói đúng, cho dù tôi không phải hay tham gia vào các hội văn thơ lắm, như nếu ông ta nổi tiếng như Barry nói thì cái tên Thomas Zane không thể lạ lẫm đối với tôi như thế được.

- Ngoài ra Zane có một sở thích khác là đi lặn, ông mê nó đến nỗi hòn đảo ông sống được gọi là đảo Diver (Diver = thợ lặn). Nhưng vào khoảng nhưng năm 70, một núi lửa cổ dưới đó bất chợt hoạt động trở lại, và thế là Zane cùng hòn đảo chìm xuống lòng hồ sâu thẳm. Thật trùng hợp, kể từ đó các sự kiện bí ẩn ở thị trấn Cauldron giảm xuống đáng kể, gần như bằng không.

Randolph nói chen vào.

- Vâng, các anh cứ cho đó là trùng hợp đi. Riêng tôi thì tôi không thể nào quên được cuộc đại càn quét lập lại trật tự của khu vực ngay sau khi các khu rừng lá kim ở đây được liệt vào hàng tài nguyên quan trọng của quốc gia.

Barry khua tay, lờ đi như không nghe thấy lời Randolph nói.

- Giờ mới đến đoạn hay này: một phụ nữ địa phương, tên Barbara Jagger, bị chết đuối tại hồ đúng một tuần trước. Bà ta và Zane lại là một đôi tình nhân!

- À tưởng gì, Barbara Jagger, câu truyện các bà mẹ thường kể - Randolph cười nhạt - "mụ phù thủy góa phụ", sẽ tới bắt các cháu bé vào ban đêm nếu các cháu không chịu đi ngủ sớm, các câu truyện cổ tích đại loại thế...

- Giờ đến phần hay nhất đây! - Barry hít một hơi lấy sức - tất cả các thông tin trên đều do một người viết, Cynthia Weaver. Tớ đi hỏi xung quanh một tí, hóa ra bà ta chính là bà già gàn dở với cây đèn dầu mà cậu đã gặp trước đấy. Bà ta quen biết cả Zane lẫn Barbara trước khi họ biến mất, rồi sau đó bà ta trở nên điên loạn như thế đấy.

- Cynthia hả? Bà ấy chỉ có một chút lú lẫn thôi chứ tôi không nghĩ bà ấy dở hơi đâu - Randolph nói đoạn, giơ một ngón tay lên chỉ vào một đống sắt vụn trước mặt - đây xem này! Lúc tôi thức dậy thì nó đã ở sẵn đây từ buổi sáng rồi.

Tôi cố định hình xem cái đống hỗn độn mà ông ta đang nói tới là cái gì. Phải mất một lúc, tôi mới nhận ra một cái thuyền con dúm dó, gẫy gập nửa thân, từ vết gẫy của nó lan ra thứ dầu đen nhầy nhụa, mùi dầu khiến tôi buồn nôn khi nhớ lại những lúc long đong trên biển cả.

- Giống như nó đã bị thổi tung lên trời rồi rơi xuống dưới này vào ban đêm ấy. Không ai nghe thấy tiếng động gì cả. Kì lạ thật, ít nhất phải có một cơn bão lớn hoặc thậm chí một cơn lốc mới gây ra hậu quả ghê gớm như thế. Chúng tôi phải may mắn vãi cả ra nên không có căn trại nào bị nó rơi trúng cả.

Đúng là tới cái lúc tôi nghĩ mình đã thấy đủ thứ kì lạ, nơi đây không thiếu gì cách làm tôi ngạc nhiên. Randolph chỉ cho tôi lối đi tới căn trại của Rose, lách người qua cái đống sắt vụn chặn đường kia rồi rẽ phải là tới, ông ta nói thế. Barry đi trước, đúng lúc tôi định theo sau thì Randolph kéo vặt áo tôi lại, nhìn thẳng vào mắt.

- Liệu tôi có thể biết anh đến tìm Rose có việc gì không hả anh Wake?

- Chúng tôi chỉ muốn nhờ cô ấy giúp thôi!? - tôi ngạc nhiên.

- Hi vọng là thế, anh không phải là người khách lạ đầu tiên đến đây, chúng tôi cũng chỉ muốn sống yên ổn thôi, anh hiểu chứ? Hi vọng anh nhanh chóng đặt được mục đích của mình.

Ông già buông tôi ra bước đi mất. Mẹ ơi, giờ thì tôi mới thấy thị trấn này hiếu khách như thế nào.

Barry vẫn còn đợi tôi trước cánh cửa. Cậu ta có thắc mắc một chút tôi làm gì mà lâu thế. Tôi không trả lời, tay ấn chuông. Thực ra tôi không chắc Rose có nhà không, nhìn từ ngoài cửa sổ vào thì căn trại tối um, không có lấy một bóng đen. Đúng lúc tôi định đi quanh nhà xem xét thì có tiếng chân người bước tới.

Rose đã ra mở cửa, trông thần thái của cô tiều tụy, giống như cô đã thức trắng cả đêm hôm vậy.

- Chào mừng tới... quán... Ồ... ông Wake, ra là... ông, mời ông vào.

Trông mặt Rose mệt mỏi và vô hồn, cô ấy có vẻ không khỏe, nhưng mải nghĩ tới những bản thảo mà Rose đang giữ, tôi phớt lờ những chi tiết ấy.

Căn trại của Rose chỉ có đúng hai phòng, tôi không tin được người dân ở đây có thể sống được kiểu tạm bợ như thế này. Dù sao thì Rose cũng trang hoàng căn phòng khá đẹp và ấm cúng, có lẽ cô ấy thích cỏ cây, trong căn phòng tối om không bật đèn, nhưng những chậu cây cảnh đặt khắp nơi trong nhà vẫn đem lại sức sống phơi phới trong căn phòng.

Chúng tôi ngồi đợi Rose ở trong phòng khách, gian phòng lớn nhất. Cô đang ở trong bếp pha cà phê, ngâm nga một bài hát nào đó, nhưng giai điệu có vẻ ngắt quãng và biến đổi thất thường. Barry thì đang tự hưởng thụ mình trong lớp đệm ghế êm ái, ngắm nghía nội thất căn phòng. Chẳng có ai biết tôi đang sốt hết cả ruột, cả ngày hôm nay tôi còn có bao việc phải làm mà bọn họ cư xử cứ như không có gì nghiêm trọng xảy ra ấy.

Cuối cùng Rose cũng bê được khay cà phê ra. Bánh bích quy, một vài xiên sa lát được tô điểm bởi bông hồng rực rỡ cắm trong lọ, tôi sẽ nói Rose là người gốc Anh nếu như thay hai tách cà phê bằng trà.

Barry và tôi cùng nâng tách cà phê của mình lên. Cậu ta khoan khoái hít lấy một hơi dài rồi uống từng ngụm.

- Lâu lắm không uống cà phê nóng, ngon quá!

- Rose! - tôi mất kiên nhẫn - có phải cô đang giữ mấy tập bản thảo mà tôi đang cần không?

Rose im ắng, cô từ từ quay đầu nhìn sang tôi, cặp mắt vô hồn bất động khiến cho tôi một chút rùng mình.

- Bản... thảo? Ồ vâng..., ông Wake, tôi có. Tôi có... thứ ông cần. Một nàng thơ! Tôi sẽ là nàng thơ... để tạo cảm hứng cho ông - cô ta chống tay vào mạn sườn ưỡn ẹo.

Giống như bị chọc vào vết nhọt, tôi điên tiết bật dậy, suýt làm đổ cốc cà phê.

- Khỉ thật! Cô chẳng có cái quái gì cả! Cô chỉ làm phí thời gian của chúng tôi thôi.

Barry vẫn ngồi đó, tôi không hiểu sao cậu ta giữ bình tĩnh được.

- Đừng nóng, Al! Cậu phải lịch sự với phụ nữ chứ? Thôi, cậu cứ ngồi xuống uống hết tách cà phê rồi chúng ta đi.

Chán nản, cơ thể tôi rơi phịch xuống ghế. Tôi biết ngay từ đầu là mọi chuyện không có dễ dàng như thế mà. Còn Rose, tôi biết cô ta thuộc thể loại fan tôi không ưa tí nào, nhưng cô ta quá đáng đến mức này thì...

Tôi húp lấy một hơi. Dù sao tách cà phê này cũng không tồi.

CHOANG!!!

Chiếc tách rơi xuống đất vỡ ra từng mảnh. Barry ngồi bên cạnh tôi vài giây trước còn tỉnh như sáo, bỗng đổ sập xuống mặt bàn, mồm ngáy khò khò như động đất, cà phê đổ lênh láng dưới chân cậu ta.

Tôi đứng lên định với tới cậu ta xem xảy ra chuyện gì. Nhưng ngay lúc tôi đứng thẳng trên hai chân, một cơn chóng mặt điên cuồng ập tới. Lao đao, mọi thứ xung quanh tôi trở nên mờ ảo và hai mí mắt nặng dần nặng dần như đeo chì. Tôi nhìn xuống tách cà phê trên tay, rồi lại nhìn lên Rose đang đứng đó yên lặng. Không cất được lên lời, tôi vươn tay về phía Rose trước khi ngã sấp mặt, tách cà phê nóng hổi đổ ra sàn, tôi có thể cảm nhận được trên gò má. Rose cúi đầu nhìn xuống, ánh mắt đa tình. Rồi sau đó chỉ còn là màu đen.

Không như mọi giấc mơ khác, nơi tôi luôn cảm thấy lẫn lộn giữa ảo ảnh với hiện thực. Tôi bị cuốn đến một miền sương mù hoàn toàn lạ lẫm, cảm giác bàng hoàng giống như bị nhốt vào giấc mơ người khác.

Ở trong miền ảo ảnh này, tôi không đơn độc. Ngay trước mặt tôi, một người thợ lặn với bộ quần áo cồng kềnh bằng kim loại khối, đang trôi nổi trên không trung, cơ thể phát ra ánh sáng rực rỡ, và giọng nói thì vang vọng giống như bên trong một chiếc hộp kín.

- Nó đang đến tìm bắt anh, ẩn nấp dưới lớp xác thịt Barbara yêu dấu của ta. Ta quá yếu để có thể ngăn nó lại. Anh phải tỉnh dậy ngay! Hãy bật đèn lên!

Nhưng rồi bỗng tan biến như chưa bao giờ ở đấy, giờ chỉ còn một mình tôi với bóng tối. Và tôi có thể cảm thấy đôi mắt đói khát đang ngấu nghiến nhìn chăm chăm vào gáy tôi từ trong sâu thẳm cõi mơ hồ không đáy.

- Ta hỨa lÀ sẽ Đến ThăM anH và Cô vỢ yêU dấU củA anH! - một giọng nói thần bí cất lên.

Tôi cố gắng nhìn khắp nơi xung quanh, nhưng chẳng có ai cả.

- Anh PhảI hoÀn tHànH cáI thỨ đã Bắt Đầu!

Tôi rùng mình khi có cảm giác bàn tay ai đó chạm vào vai mình, nhưng vẫn cứ vậy, khi tôi quay lại thì chỉ có làn khói thoảng qua.

- Ta cẦu xIn đẤy!

Tại sao? Ngươi muốn gì?

Tôi phải bật đèn lên!

Phải bật đèn lên!

- BẬT ĐÈN LÊN!!! - một giọng nói đàn ông đầy quyền lực vang lên trong đầu tôi.

Hai mí mắt tôi mở toang ra, hơi thở hổn hển như vừa mới chạy việt dã. Nhận thấy mình đang nằm ngửa trên một chiếc giường êm ái, tôi mới phần nào yên tâm. Thật là một giấc mơ quái đản, may mà nó cũng kết thúc rồi.

Không biết từ đâu tới, một khuôn mặt người đàn bà đeo tấm mạng đen dí sát vào mặt tôi.

- Tới Giờ Làm ViệC rồI, cậU bé!

Choàng tỉnh dậy khỏi giấc mơ, tôi luống cuống lao ra chiếc bàn nhỏ đầu giường, vớ lấy cái công tắc bật cây đèn ngủ sáng choang lên.

Tôi nhìn xung quanh. Trong phòng không có ai, một lần nữa tôi chỉ đứng đây một mình.

Cảm thấy vô cùng nôn nao chóng mặt, giống như vừa mới tỉnh cơn say xong. Nếu không phải sự tức giận khiến tôi còn đứng vững, tôi đã nằm vật ra giường làm một giấc tới sáng rồi.

Căn phòng nơi đây tôi không biết lấy từ nào để diễn tả. Phòng ngủ của Rose, giấy dán tường màu hồng khắp nơi, thậm chí trên trần còn treo những quả lúc lắc với hình dáng vui nhộn, hệt như cái thứ người ta hay treo trên nôi em bé. Nhưng cái khiến cho tôi cảm thấy kì quặc nhiều nhất lại là những hình ảnh của chính tôi dán đầy trên tường, trên tủ, đầu giường ngủ. Dường như tất cả những lần hình ảnh của tôi xuất hiện trên sách báo, tạp chí, cô ta đều sưu tầm đầy đủ cả. Từ khi mới vào nghề, tôi luôn muốn mình trở thành một nhà văn nổi tiếng khắp thế giới, nhưng được hâm mộ bởi đám thanh niên hôi với cái kiểu thần tượng âm nhạc thế này thì tôi không ưa tí nào cả.

Thứ duy nhất không ngớ ngẩn và hôi mùi bọ xít xung quanh tôi là những giá sách phong phú. Dù sao tôi cũng phải công nhận Rose cũng là một người yêu sách, tủ sách của cô được bố trí rất cẩn thận với đủ thể loại, giá sách không một hạt bụi. Bằng cách nào đó, tôi cảm thấy kì quan của thế giới ở ngay trong nơi đây: những cái lúc lắc trẻ con, giấy dán thần tượng, những quyển sách dày cộp... giống như có cả ba thế hệ con người cùng chung sống trong một phòng ngủ vậy.

Bỗng không biết từ đâu ra, những tiếng lách tách điện tử bắt đầu ngấm ngầm vang lên. Chiếc tivi duy nhất trong căn phòng lóe sáng, tôi chờ đợi, hồi hộp không biết lần này sẽ là cái gì?

"Tôi không còn có thể phân biệt nổi đâu là thực tại đâu là giấc mơ nữa..."[/I] - tiếp nối lần trước, "tôi" trong tivi dường như đang ngồi im ra soát lại tác phẩm của mình - "...nhưng may mà tôi có một người trợ lí biên tập hữu dụng mà tôi tự tưởng tượng ra.Một bà già mang bộ đồ tang màu đen. Tôi gọi bà ta bằng cái tên Barbara Jagger..."

Barbara Jagger!

"...bà ta rất nghiêm ngặt, luôn hối thúc tôi viết ngày một nhanh hơn. Những tờ bản thảo mà tôi viết ra ngày càng bị chỉnh sửa nặng nề. Bà ta rất hăng hái một cách tiêu cực, mỗi ngày trôi qua là một lần bà ta càng can thiệp sâu hơn. Là một nhà văn, tôi cực kì khó chịu. Nhưng tôi biết bà ta đúng..."


Cuối cùng mọi thứ cũng sáng tỏ ra một chút.

"...bà ta hứa, bằng cách này tôi sẽ cứu Alice trở lại. Barbara hiểu biết hơn tôi. Bà ta biết rõ về cái bùa phép cổ xưa mà tôi đang sử dụng, biết rõ về phép màu nhiệm ở nơi này. Barbara đã từng làm việc với một nhà văn khác ở hoàn cảnh tương tự. Thomas Zane..." - tôi sực nhớ về những quyển sách ở trên hòn đảo với ông ta là tác giả.

"...câu truyện tôi viết đang dần biến đổi, nó đang dần chuyển thành một câu truyện kinh dị. Tôi sắp hoàn thành rồi. Tôi biết là thế!"

Thông điệp tới đây là kết thúc.

Tôi bước ra ngoài căn phòng, cúi xuống nhìn vào chiếc đồng hồ đang phát sáng trong đêm. Đã hơn mười giờ tối, bên ngoài trời đã đen kịt, tôi đã ngủ mất nửa ngày sao? Sực nhớ tới cái hẹn với cảnh sát trưởng Breaker. Có thể nếu đi ngay bây giờ, tôi vẫn còn kịp.

Ra tới phòng khách, tôi có ý định vác cái thân mập ú của Barry tống vào xe. Nhưng trông thấy cậu ta đang ngáy khò khò không biết trời đất gì, tôi bỏ ý định ấy đi ngay. Các cơ bắp teo tóp của tôi mà phải còng lưng mang cậu ta thì chẳng khác gì lấy trứng chọi đá.

- Khò... KHÒ...khịt... đúng rồi... mình xứng đáng được tăng nhiều lương hơn... mình đẹp trai quá mà - Barry nói mơ rồi lại ngủ mê mệt.

Tôi thực sự không biết mình nên làm gì bây giờ nếu gặp mặt Rose. Tôi rất muốn xả giận lên cô ta, nhưng có thứ mách bảo tôi mọi chuyện không hoàn toàn là lỗi tại Rose. Và ngay khi nhìn thấy cô ta ngồi ở góc tường úp mặt vào, miệng lẩm nhẩm, tay bó gối như đứa trẻ tự kỉ, tôi nghĩ mình nên bỏ đi để yên cho Rose. Sau cùng, cô ấy cũng chỉ là một nạn nhân như tôi mà tôi.

- Chào-mừng-tới-quán-cà-phê-Oh-Deer... quý-khách-muốn-dùng-gì-ạ - tôi nghe thấy Rose thầm thì ở đắng sau khi tôi đẩy cửa bước khỏi.

Đêm khuya thanh vắng, ánh trăng lưỡi liềm đung đưa trên cao như cái móc câu. Tôi hiểu là thị trấn này đang hiếm khách du lịch, nhưng cả khu trại lại im ắng quá mức, ít nhất những người dân địa phương cư ngụ tại đây đâu rồi? Quá im ắng, tôi có thể nghe được cả tiếng sột soạt dưới chân những con dế dẫm lên cỏ trong khu rừng.

Từ trong bóng tối, có ai đó đang tiến lại gần tôi. Cặp mắt vẫn chưa quen với điều kiện thiếu ánh sáng, tôi không thể nào nhận biết ra đó là thú hay là người nữa. Trên tay hắn, một lưỡi dao sắc lẻm sáng quắc lên trong đêm.

- Cấm lại gần tao, Wake!

Phải mất một lúc, tôi mới nhận ra đó là ông già quản lí, Randolph. Không hiểu tại sao nhìn ông ta rất hằn học, con dao trên tay ông ta chĩa thẳng vào phía tôi.

- Ông bình tĩnh đã - tôi ngạc nhiên đáp lại, hai tay giơ lên cố tỏ ra mình vô hại.

- Chúng mày làm gì Rose rồi, hả? Trả lời tao ngay! - Randolph vẫn lăm le con dao tỏ vẻ đe dọa.

Chúng tôi làm gì Rose? Sao tự nhiên ông lại nảy ra cái ý nghĩ kì quái ấy?

- Chúng mày đã ở trong đấy tận hơn một ngày một đêm rồi. Tao làm việc ở ngay bên ngoài nên biết không có ai ra hoặc vào cả. Thế nào hả, nói cho tao thử xem?

Hơn một ngày một đêm? Tôi bất tỉnh lâu đến thế sao? Thế thì đêm nay chính là đêm tôi phỉa đi gặp tên bắt cóc. Lửa đã cháy tận đến nơi rồi, vậy mà tôi vẫn chẳng có kế hoạch gì cả.

- Khoan đã, từ từ nghe tôi nói! Chúng tôi không làm gì cả, chính Rose mới là người đánh thuốc mê chúng tôi!

Dĩ nhiên là Randolph chẳng nuốt trôi một lời nào tôi nói. Tôi tránh sang một bên muốn cho ông ta vào kiểm tra. Cần phải làm sáng tỏ cho nhanh, tôi không còn nhiều thì giờ để phung phí.

Nhưng Randolph lại ngần ngại lùi ra sau, ánh mắt dè chừng.

- Tôi không mắc bẫy anh đâu anh Wake! Giờ chúng ta đứng yên tại đây, ngay chỗ này, không nhúc nhích. Tôi đã gọi cảnh sát rồi, vài phút nữa cảnh sát trưởng sẽ đến ngay!

Randolph quả không nói láo, tôi đã nghe thấy tiếng còi hú của xe cảnh sát từ xa. Tôi quyết định mình phải nhẫn nại chờ đợi. Đây là một hiểu lầm nho nhỏ, có lẽ cũng không quá tốn thời gian để giải quyết. Giữ một cái đầu nguội và tôi sẽ được bước đi vô tội, điều cuối cùng mà tôi mong muốn là gặp rắc rối với luật pháp ở cái nơi heo hút này. Một mình cái thế lực bóng đêm kia là quá đủ cho tôi rồi.

Tôi vẫn cảm thấy phân vân một chút, sao người đàn ông này lại có phản ứng thái quá đến vậy.

Hắt lên ánh sáng từ cuối con đường nhựa, tôi đã có thể thấy được ánh đèn xanh đỏ của xe cảnh sát với tiếng còi hú inh ỏi. Nhưng khoan đã, đó không phải chỉ có một hai chiếc xe, mà dường như cả một đội quân đang tiến về phía chúng tôi. Tôi không ngờ ở vùng quê hẻo lánh này, lực lượng cảnh sát có thể đông đảo đến thế. Nhìn sang phía Randolph, tôi cũng có thể nhận thấy chút ngạc nhiên trong ánh mắt của ông ta.

Những chiếc xe mang phù hiệu vội vã dừng lại trước lối vào của khu trại, đỗ chật kín cả khu vực giống như muốn ngăn không cho ai trốn thoát.

Randolph tiến ra trước lên tiếng.

- Sarah, may quá, cô tới rồi! Cô đang làm cái quái gì mà nhiều xe thế này thế hả?

Cảnh sát trưởng Breaker bước ra từ một trong những chiếc xe khuất đằng sau cả núi cảnh sát đang rút súng ra chĩa vào tôi. Cô cầm một cái loa cầm tay.

- Bình tĩnh Randolph! Mọi chuyện sẽ đâu vào đấy thôi!

Bất ngờ, một gã đàn ông to cao mặc một chiếc áo khoác xùm xụp bước ra khỏi xe bên cạnh Sarah. Hắn không ngần ngại giật chiếc loa ra khỏi tay cô cảnh sát. Tiến thẳng về phía tôi, một tay hắn giữ cái loa lên trước mặt, một tay hắn vẫn chĩa thẳng họng súng vào mặt tôi.

- Đây là đặc vụ Nightingale, FBI! Giơ tay lên, Hemingway! Mày đã bị bắt, giết người cấp độ ba! Mày mà dám cử động chỉ một sợi lông thôi, là tao bắn tung cái bản mặt xấu xa của mày đấy! Đứng yên tại chỗ, Spillance!

Mệnh lệnh hùng hồn của người đặc vụ FBI khiến tôi đông cứng tại chỗ. Phân vân liệu tôi có nên buông xuôi đầu hàng? Đằng nào thì cũng thất bại, tôi vẫn có thể bỏ cuộc, để công việc cho người khác làm hộ.

Nhưng tôi vẫn cảm thấy kì quái. Có thể chỉ đơn thuần là cảm giác thôi, cái tư thế đứng của hắn ta, cái cách hắn giữ chặt khẩu súng giống như chỉ muốn bóp cò.

Randolph đang đứng bất động sững sờ trước những gì xảy ra. Có thể cả đời ông chưa bao giờ đối mặt với sự việc nghiêm trọng như thế này, cũng như số lượng đông đảo những họng súng hướng về phía ông.

Tôi liều lĩnh tháo chạy, đây không phải quyết định sáng suốt nhất trong ngày của tôi. Mặc dù cảm thấy mình hơi tệ, tôi bất ngờ đẩy Randolph ra phía trước mình, cản trước đường tôi chạy. Tôi chỉ nghĩ lũ cảnh sát sẽ không dám bắn khi mà tính mạng của người dân thường bị đe dọa.

Tiếng súng nổ ong lên trong tai, khuấy động cả khu rừng. Tôi trèo qua cái lỗ thủng trên hàng rào, nhảy xuống , chìm vào màn đêm âm u bên dưới.


Tạm thời thế đã, dài quá mọi người đọc buồn ngủ thì chết. :5cool_big_smile:

Các bạn vừa đọc vừa nghe với bài này cho hợp không khí:

Sleep - Poets of the Fall
[mp3]http://mp3.zing.vn/download/song/Sleep-Poets-of-the-Fall/ZnJHykknpaubTLbxTDHLH[/mp3]
 
Chỉnh sửa cuối:
Mọi người cứ cho ý kiến thoải mái, hay bảo hay, không hay bảo không hay để mình biết đường sửa.
 
Mình chưa đọc tác phẩm của Steven King bao giờ nhưng đang có hưng thú với truyện của ông ấy :D. Vì chưa đọc nên k thể nx rằng cách viết giống hay không, về nội dung thì mình thấy ok, cảm giác kì lạ như coi bộ phim Miền Ảo Ảnh, còn về cách viết thì cũng ọk. Nhưng có 1 vấn đế, vấn đề này là chung cho cả hầu hết mọi người viết trên mạng mà mình cũng mới vừa nghĩ ra. Chả biết đúng hay sai thế nào nên cũng chả dám nói :))
 
Bạn cứ cho ý kiến thoải mái, mình không sợ tiêu cực, không sợ tích cực, chỉ sợ không chính kiến thôi.

Về phong cách, mình thích phong cách và ý tưởng của Stephen King nên cố "học" theo, giống hay không mình không quan trọng.
 
Mình thấy bạn viết hay đấy. Đọc sơ có 1 số điểm bạn có thể sửa trước.
1. Lúc viết số, nếu nhỏ hơn 10 thì nên viết bằng chữ. Mấy đoạn đầu nhìn vào sẽ thấy một tràn số "1". Luôn tiện xem có cách nào thay đổi cách dùng từ không.
2. Một số đoạn bị thừa chữ, chẳng hạn. "những người tôi quen biết nhiều người" => "nhiều người tôi quen" hay đại loại thế.
 
Cảm ơn bạn, mình cũng biết mình có thói quen sử dụng số 1 nhiều quá mức, để mình sửa luôn.

MÌnh còn tật viết dài mà lại ko quen dùng dấu "," nữa, để mình sửa.

P.S: Má ơi đọc lại bài thấy số "1" tràng giang đại hải, lạy hồn cái thói quen của mình.
 
Chỉnh sửa cuối:
Tình hình hiện giờ là bên tòa báo nó lấy luôn bài của mấy ông viết thường xuyên nên bài của mình khỏi cần xem xét cũng loại. Nhưng mà mình thấy bài này mình bỏ khá nhiều tâm huyết nên quyết định sẽ post đây luôn. Khoảng 1 tuần mình cập nhật 1 lần.

P.S: mong có MOD nào đọc được thì sửa giúp mình cái tiêu đề thành "Alan Wake - A Psychological Thriller" thì cảm ơn lắm lắm
 
Tiếp nè:

Người đàn ông tỏ thái độ không đếm xỉa đến phản ứng của tôi một cách "thân thiện",đơn giản là ông ta quay nửa người đi vung vẩy bàn tay cầm súng về phía tôi, tay còn lại chỉ về hướng khác như một ám hiệu chỉ phương hướng.

- Tôi là Clay Steward đây, anh còn nhớ chứ? Chạy vào trong nhà mau lên.

Chưa hết mừng rỡ vì gặp được một "sinh vật" cùng chủng loại với mình, như người chết đuối vớ được cọc, toàn bộ niềm tin của tôi nhanh chóng đặt vào người đàn ông này. Cho dù khuôn mặt và giọng nói hoàn toàn lạ lẫm tôi chưa bao giờ tiếp xúc lấy lần nào trong đời, nhưng ít ra cái cách ông ta tự cho rằng mình đã quen biết tôi từ lâu dựa vào cái cách mà ông ta nói chuyện và ra lệnh cho tôi, cũng đủ để cho tôi lập tức làm theo bất cứ điều gì ông ta yêu cầu, đủ phải không nhỉ?

- Nhanh chân lên, hắn đuổi tới nơi rồi!

Mặc dù đôi tai đang thở phì lao động đường phố vì chạy, tôi vẫn có thể nhận ra rõ ràng rằng không như tôi, người đàn ông tên Clay này có một ý thức "dễ định hình" về thứ mà chúng tôi phải đối mặt hơn tôi nhiều. Có thể vào một lúc khác thuận tiện hơn lúc này, tôi sẽ đưa ra vài câu hỏi cho ông ta và cuối cùng sẽ có thể nắm được cái quái gì đang xảy ra đêm nay.

Tôi chống hai tay lên đầu gối, hít thở được đúng hai lần trước khi bàn tay hối thúc của Clay đẩy tôi tiến về căn nhà, đành miễn cưỡng di chuyển hai cẳng chân bất trị đang run rẩy. Tôi quay lại phía sau nhìn Clay, ông ta một đằng hối thúc tôi tiến về phía trước, một đằng cũng đang ngoái cổ lại nhìn cơn lốc đang nghiền nát cây cầu treo. Khác với trong lòng tôi lúc bấy giờ đang tràn ngập nỗi hoang mang và hoảng sợ, tôi có thể thấy trên nét mặt ông ta là lo lắng và suốt ruột. Tôi không có nói ông ta không hoảng sợ như tôi, nhưng thêm vào đó dường như ông ta biết bóng đen lạ mặt kia định làm gì, và ông ta biết sức mạnh của hắn đến dường nào, nếu chúng tôi không cố hết sức, cái chết là điều không tránh khỏi.

Tôi đã không nhận ra ánh sáng và không khí ấm áp của một nơi trú ẩn an toàn đã bao quanh tôi khi tôi đã bước chân vào trong căn nhà, cho đến khi cánh cửa vô hồn lạnh lùng đóng sầm sau lưng tôi. Giật mình thoát khỏi cơn mộng mị của ý thức, tôi phát hiện Clay vẫn đang bị kẹt ở phía bên ngoài và đang đập cửa rầm rầm tìm lối vào.

Nhanh chóng tiến tới cánh cửa đóng, chỉ để nhận lấy cảm giác hụt hững khi thấy cánh cửa đã bị khóa, và khóa một cách kì lạ. Không như các loại cửa thông thường khác khi nút ấn khóa trái ở phía trong nhằm phục vụ cho các mục đích của chủ nhà không cho người ngoài xâm nhập, tôi có thể cảm nhận rõ ràng lỗ khe để đút chìa khóa vào nằm thay thế ở vị trí đó. Suy nghĩ nảy ra đầu tiên của tôi là có thêt nắm cửa đã bị ngược, và nút khóa trái nằm ở phía bên ngoài, chỉ cho đến khi nắm đấm cửa bị tuyệt vọng xoay liên tục tại chỗ bởi Clay ở bên ngoài, tôi biết ông ta cũng không cách nào mở khóa được cánh cửa này.

Cơn bão đang ngày một dữ dội hơn ở bên ngoài, trong phút chốc tôi đã tượng tượng thấy qua cửa sổ cảnh tượng Clay bị gió cuốn bay lên trời với hai bàn tay chới với ra trước tìn chỗ bám, nhưng chỉ liền vài giây sau đó tôi nhận ra đó chỉ là một đoạn cành cây gẫy bị thổi dính chặt vào cửa sổ bên cạnh, và trông nó xấu xí không tưởng tượng nổi.

Và rồi bỗng dưng chỉ còn im lặng.

Nối tiếp là những tiếng rầm rầm của các vật thể đang bay lượn trên không trung bỗng rơi xuống đất. Một tiếng gió rít mạnh nổi bật trong đó như nhát dao cùn cứa vào không khí, và từ đó, lơ lửng không từ đâu cả, tôi nhìn thấy cái bóng đen của gã sát nhân đang cố dành lại hình dáng vốn có trong một góc tối đen của bụi cây và cỏ dại.

Sự im lặng cũng có thể biến thành nỗi khiếp sợ, và Clay sớm nhận ra nỗi khiếp sợ trong không khí, trong ánh mắt tôi. Ông quay lại đối diện với cái thứ lạ lẫm đang bước khỏi bụi rậm tiến về phía mình, những bước chân thoăn thoắt cùng lưỡi rìu được vung lên cầm bằng cả hai tay báo hiệu những điều chẳng lành. Tôi có thể nhận thấy sự tuyệt vọng của Clay mà không cần nhìn vào mắt ông.

Mặc dù không khí đã bị căng thẳng đông cứng, tôi nhận ra mình phải làm gì đó trước khi quá muộn. Và cái thứ duy nhất ngăn cản tôi không phải cái đầu bởi tôi đã có sẵn một dự tính, mà là nỗi băn khoăn. Nếu làm như tôi nghĩ, phá cánh cửa để Clay vào, thì đó quả là hành động thừa thãi khi mục đích của tôi chạy vào ngôi nhà này để trốn tránh gã thần kinh kia, hành động như thế chẳng khác nào mời rắn vào cắn gà. Tôi biết nghe thì có vẻ độc ác, nhưng con người nào cũng coi mạng sống của mình quý hơn người khác, lẽ tự nhiên. Còn ai không thì kí vào giấy hiến nội tạng rồi cầm súng bắn vào đầu cho nhanh. Dù tôi biết sự thật có thể hoàn toàn không như tôi nghĩ, có một điều tôi biết chắc chắn là mở cửa ra bây giờ cơ hội sống sót của tôi sẽ giảm đi đáng kể, vấn đề còn lại là liệu sự mạo hiểm ấy có đáng để tôi đánh đổi với mạnh sống của Clay hay không? Ông ta có thông tin tôi cần, giữ một khẩu súng trong tay có thể bảo vệ tôi, đó là về lâu dài.

Lợi ích lâu dài và thỏa mãn hiện tại, luôn là vấn đề nhức nhối của con người.

Thời gian không chờ đợi ai và tôi biết tôi đã để lỡ khoảng khắc ra quyết định: tên sát nhân đã tiến sát đến bậc cầu thang của ngôi nhà, rất gần Clay. Cho dù giờ tôi có phá cửa ra, một nhát rìu vào lưng Clay là điều không tránh khỏi nếu không ngăn chặn hắn. Clay cũng biết diều đó, ông quay lại, giương súng lên, cố ngắm vào đầu bóng đen với bàn tay và giọng nói run lẩy bẩy:

- Đứng lại! Không ta bắn!

Chỉ như một lời chào xã giao dành cho quân sát nhân khát máu, hắn không lộ vẻ gì muốn dừng lại, tôi chưa bao giờ cho rằng ngôn từ lại có hiệu quả với bạo lực cả. Nhưng súng chưa nổ, dù tôi biết chắc Clay cũng chẳng có ý định thương lượng với hắn bằng lời nói.

Clay dang lúi húi với cái gì đó trên tay trái mà ông vừa rút ra từ thắt lưng, những tiếng lách tách vội vàng lên tiếng từ những nỗ lực của Clay đang thực hiện với nó dần dần nhuốm màu tuyệt vọng.

- Mẹ nó chứ!

Bất kể thứ gì Clay đang định làm, ông từ bỏ, vật không xác định trượt từ tay ông rơi xuống nền đất lạnh. Một nỗ lực không thành của tôi để xác định xem vật đó là gì nhanh chóng mất đi mục đích khi tâm trí tôi bị cuốn vào những chuỗi sự kiện tiếp diễn sau đó.

Những tiếng súng không khoan nhượng nổ ra liên tục nhắm thẳng vào cái bóng đen, liên tục không nghỉ. Dù cách một bức tường gỗ, tiếng súng vẫn làm tôi đinh tai nhức óc khác hẳn những "thứ" được cố diễn tả trên tivi. Nhưng đó vẫn không khó diễn tả bằng thứ xảy ra sau đó, bởi vì dường như chẳng có gì xảy ra cả: một bên Clay Steward vẫn nã những tràng tuyệt vọng vào tên sát nhân, một bên tên sát nhân vẫn lừ lừ tiến tới, không một phản ứng, hắn không bị gục ngã bởi viên đạn, cũng như cơ thể hắn không đẩy lùi theo đường đạn, những cuộn khói đen nhỏ đang rỉ ra từ cơ thể hắn cũng vẫn lững lờ trôi xung quanh không hề thay đổi. Những viên đạn chẳng có ảnh hưởng được bất kì cái gì cả, giống như bằng cách nào đó đường đạn bị bẻ cong bắn đi những hướng trái với ý muốn của chủ nhân, hay thậm chí sự hiện diện bị xóa bỏ khỏi thực tế như cách người biên tập viên xóa những tình tiết khỏi bài viết của một nhà văn.

- Không, không!

Những gì sau đó xảy ra nhanh một cách ngỡ ngàng. Súng của Clay hết đạn, ông thay đạn. Tên sát nhân vung lưỡi rịu sáng loáng lên, chém vào giữa ngực Clay cái phập. Ông khụy xuống, rồi ngã xấp mặt, mắt trơn trừng, không thể thở. Lưỡi rìu lại chém mạnh xuống, nghỉ, rồi lại chém thêm nhát thứ hai, bảo đảm cái chết cho nạn nhân.

Như thế Clay đã chết.

Không có nhiều thời gian tiếc thương. Một khi gã sát nhân thỏa mãn với cái xác bất động của Clay trên mặt đất, gã bất thình lình ngước lên, qua khung cửa sổ, mắt tôi chạm mắt hắn, và trong tích tắc nháy mắt, tôi thoáng thấy hình tượng cái xác của tôi trên mặt đất, bất động.

Giật mình lùi lại vài bước, mồ hôi toát ra nhễ nhại từ lúc nào, tôi phải nhanh chóng xây dựng cho riêng mình một kế hoạch tẩu thoát khi chỗ dựa bảo vệ vừa mất. Hiện tôi đang tạm thời an toàn trong căn phòng khép kín, nhưng vấn đề là được bao lâu. Quan sát xung quanh, tôi thấy căn phòng có đến năm lối để vào, hai cửa ra vào trước và sau và ba cửa sổ. Hiện giờ, có cho vàng tôi cũng không dám chạy ra ngoài, cái bóng đen đã di chuyển khuất tầm mắt không còn thấy ở đâu cả, hắn đang rình tôi trong bóng tối, chắc chắn. Sự vắng mặt đến hình dáng của hắn lại khiến cho hiệu quả của sự khiếp đảm lơ lửng trong không khí tăng lên gấp trăm lần, hằn muốn "hun khói" tôi ra ngoài, khiến tôi cảm thấy ngột ngạt mà phải trườn mặt ra khỏi nơi trú ẩn. Không bao giờ đâu, nếu hắn muốn chơi tôi thì hai người có thể cùng chơi trò chơi này. Tôi sẽ ở lì tại đây bởi trong ngôi nhà này tạm thời là nơi an toàn nhất cho tôi, và tôi sẽ chờ đợi, một cuộc thi thử lòng kiên nhẫn và tính lì lợm thì tôi có thừa. Một khi hắn hết nhẫn nại mà xông vào từ một trong những lối vào kia, tôi sẽ chọn một đường thoát ngược hướng của hắn để chạy ra, và thế là từ thế bị động chuyển sang thế chủ động, tôi sẽ chơi nước cờ trên tay hắn một bước.

15 phút trôi qua dài như cả một thế kỉ, nhất là trong ngôi nhà không có chiếc đồng hồ nào. Tôi giết thời gian bằng cách quan sát xung quanh, phát hiện ra một điều kì cục về ngôi nhà, sự hiện diện của đến năm cái tivi được dặt rải rác khắp nơi: trên bàn, dưới đất, trên nóc tủ thậm chí còn cả ở trên giường. Chẳng qua là một tiểu tiết nhỏ nhặt và vô nghĩa, chẳng có chút ấn tượng nào. Tôi lập tức chuyển sang suy tính về cái kế hoạch đã được vạch ra của tôi, về cơ bản là nó hoàn hảo, tôi tự nhủ, ngoại trừ việc tôi không thể biết hắn sẽ bước vào từ lối nào từ một trong năm lối, hay thậm chí là liệu hắn có cần phải bước vào ngôi nhà này để giết tôi hay không, tôi chỉ có thể tùy cơ ứng biến. Nhưng mà này, dù sao tôi cũng không phải dạng người cố hoàn hảo hóa nhất cử nhất động của mình, tôi chấp nhận rủi ro và hành động, đó là cách tôi sống. Một chút hài hước để đem lại lạc quan cho tối hôm nay: không như Chúa, tôi chơi trò xúc sắc với số phận.

Những tiếng cọt kẹt vang lên từ bên dưới sàn gỗ của ngôi nhà đang lặng thinh. Cuối cùng những bánh răng sự kiện cũng chuyển động, tôi vào tư thế sẵn sàng cho cuộc đào thoát dù trong lòng có mang chút bất an.

Bỗng dưng những tiếng rì rào vang lên trong căn phòng, nghe như tiếng sóng vỗ nhưng đều đặn một cách đáng ngạc nhiên đến mức cảm giác giả tạo, giống như được tạo ra bởi một thứ mà không có khái niệm tồn tại vật lý vậy. Đảo mắt nhìn xung quanh, cuối cùng tôi cũng phát hiện ra nguồn gốc của tiếng động lạ phát ra từ một cái tivi đặt trên giường.

Hiện diện trên màn hình cong của chiếc tivi đời năm 80 là một đường kẻ chéo, hơi cong một cách tự nhiên về một đầu. Tôi đã không thể hiểu nổi nó là cái gì cho đến khi đường kẻ mở rộng ra, lộ chân tướng là một con mắt người. Một con mắt thật ghê rợn, nó khiến cho tôi lạnh sống lưng: mi mắt mở to hết cỡ và co giất giống như đã vượt qua giới hạn sức lực của con người, đồng tử đang co lại dần trên tròng mắt màu nâu sáng mà tôi có thể nhìn rõ được những nếp ngoằn ngoèo ở phía trong nổi lên rõ ràng như những vết nứt nẻ hướng về con ngươi.

- Giết!

Tiếng nói tù tivi phát ra, kéo theo tiếng bật lên rì rào của những chiếc tivi còn lại lần lượt lên tiếng. Chẳng mấy chốc tôi nhận ra mình đã bị bao vây.

- Giết! Giết!!

Giọng nói có xu hướng càng ngày càng cao hơn, dồn dập tới tấp như đang quát và mặt tôi dù giọng nói không hề hét to, cảm giác như cả thế giới đang chống lại mình .

- Giết! Giết!! Giết!!!

Tôi phải tìm ngay đường thoát thân. Tiến đến bên cửa ra vào dẫn ra lối sau, và cánh cửa cũng đã khóa trái, thế là một lối thoát đã bị chặn.

- Giết! Giết!! Giết!!! Giết!!!!

Chỉ còn cách chạy ra ngoài cửa sổ! Tôi cho đã cho rằng mình đã ứng phó được một phương án khả thi cho đến khi tôi nhìn lên. In rõ trên lớp cửa kính cửa sổ, lại chính là ảnh phản chiếu đôi mắt tâm thần trên tivi kia, tuy trong suốt nhưng khá thật, giống như có một con mắt thực sự đang lơ lửng bên ngoài căn nhà vậy. Hai con mắt trên hai cửa sổ trên bức tường biến nó thành một bộ mặt phẳng lì lạnh lùng nhìn thẳng vào tôi mà phán xét.

- Giết! Giết!! Giết!!! Giết!!!! GIẾT!!!!!

Những tràng cười the thé và man rợ cất lên, khoái lạc nhìn tôi vụng về xoay sở trong cái thân xác tàn tạ của mình, chúng co giật, nhảy múa và rồi biến mất. Tất cả, biến mất, giống như, chưa có gì từng xảy ra, giống như, một bước chuẩn bị cho những kế hoạch khủng bố tiếp theo.

Những tiếng cọt kẹt vang lên khủng khiếp, nghe như những thanh thép khổng lồ bị một bàn tay to lớn bẻ cong phát ra, làm hỗn loạn những bộ óc dũng cảm nhất. Tôi có cảm giác mơ hồ rằng sàn nhà đang rung lên nhẹ với tần số lớn, những hạt bụi, đất và cát trên nền nhà hơi bị bắn lên không trung bởi chấn động. Trước khi tôi có thể biết chuyện gì đang xảy ra, cả ngôi nhà giật đùng lên một cái rất mạnh, lọ hoa, tivi, tranh ảnh... thi nhau rơi xuống sàn nhà vỡ thành những mảnh to nhỏ hoặc lăn lông lốc khắp nơi. Hai đầu gối tôi khụy xuống, mất thăng bằng, đầu hàng trước động lực to lớn vừa được tạo ra. Nhưng chưa phải kết thúc, căn nhà tiếp tục rung lên mạnh với tần số lớn hơn nữa, những đồ đạc to lớn, tủ quần áo, gương, ghế, bàn.. lần lượt bỏ mạng, chỉ còn mình tôi lành lặn. Đây không phải là một nơi trú ẩn, đây chính là cái bẫy chuột khổng lồ mà tôi đã ngu ngốc tự chui đầu vào nộp mạng. Trò chơi đã kết thúc, tôi là kẻ nộp mạng, một ván cờ sai lầm từ nước đầu tiên, tôi khó khăn lắm mới có thể bám trụ trên mặt đất với cả hai tay hai chân, chứ đừng nói gì đến trốn chạy.

Phát giật thứ hai không khoan nhượng cho bất cứ thứ gì còn bám lấy mặt đất. Người tôi và tất cả những gì còn lại, dù chỉ là mảnh vỡ, hất tung lơ lửng trên không trung, chậm rãi dừng lại rồi rơi xuống. Tôi có thể thấy tủ sách to lớn bên cạnh đang từ từ đè lên người mình.

Chiếu tướng.

Chiều theo lẽ thông thường, đây đáng sẽ là điểm kết thúc cơn ác mộng, nhưng thời gian đó là một thời điểm kì dị trong cuộc đời tôi, cả hiện thực lẫn viễn tưởng. Mắt tôi nhắm nghiền chấp nhận số phận, cầu mong cho sự đau đớn trôi qua mau. Thay và đó, tôi không cảm thấy gì cả, không tiếng động, không sợ hãi, không buồn không vui, chi còn tiếng không khí chuyển động qua tai tôi yên bình và thanh thản. Tôi tưởng tôi đã chết rồi, và cõi chết có vẻ khá tử tế, có khi còn tốt hơn trần gian.

- Alan, tỉnh dậy.

Một giọng nói vang lên mà tôi khó phân biệt được là có thực sự do tôi nghe được không hay chỉ là trí tưởng tượng phong phú của tôi tạo ra trong đầu. Từ từ hé mắt, tôi bàng hoàng nhận ra mình còn sống, chỉ xây xát chút do mảnh thủy tinh vỡ. May mắn hai cẳng chân vẫn còn sử dụng được, tôi luồn qua cái tủ sách dường như đã dược vật gì đỡ ở đầu kia nên mới không nghiền nát tôi, gạt hết chồng sách đang phủ trên người, tôi đường hoàng đứng dậy. Cơn chấn động lúc nãy đã ngắt toàn bộ hệ thống điện trong nhà, khung cảnh tối um mà tôi chỉ lờ mờ nhận ra phương hướng nhờ ánh trăng chiếu qua cửa sổ. Cũng luôn thể nhờ ánh trăng tôi cũng nhận ra cơn bão đã tan biến, bầu trời trong vắt không một gợn mây với ánh trăng tròn vằng vặc, cùng một biển sao kim cương lấp lánh rạng ngời. Phủi chân tay quần áo khỏi bụi và vụn thủy tinh, tôi ngẩn ngơ đứng yên tự hỏi tại sao mình còn sống.

- Lối này Alan.

Tôi giật mình, tiếng nói tôi tưởng là ảo giác đó là có thật, hay thật sự là tôi bị ảo giác? Cố gắng nhìn xung quanh nhưng không thấy gì, căn phòng tối quá.

Rồi tôi đã thấy nó: tất cả mọi đồ vật trong phòng đều đổ vỡ hoặc tan nát, chỉ riêng có nó vẫn ở vị chí cũ. Tấm áp phích dính trên tường ngay trước mặt tôi bỗng khẽ nhúc nhích, rồi trượt xuống đất dù không có bất cứ chuyển động hay ngọn gió nào tác động. Tôi có thể thấy rõ ràng dòng chữ trắng in trên tấm áp phích như lân tinh phát sáng trong bóng đêm: "Tom nhà thơ" (Tom the Poet).

Một chấm sáng xuất hiện trên mảng tường nơi tấm áp phích yên vị trước đó, nhỏ bé nhưng tỏa sáng mạnh mẽ, rồi lan tỏa khắp chốn, nhanh chóng bức tường trước đó giờ hòa tan với luồng ánh sáng lớn và mạnh mẽ, ấm áp. Hài hước cái cách mà một vật thể cố định như bức tường vừa rồi tan biến như ảo ảnh, còn thứ ánh sáng không hình dáng, không nắm bắt được lại là thứ tôi cảm thấy chân thật nhất trong đêm nay, hơn cả mặt đất nơi tôi đứng.

- Đi theo ánh sáng.

Giọng nói kì quái và cách ra lệnh của nó ngạc nhiên lại không khiến cho tôi bực tức tí nào. Tôi làm theo lời nói như một đứa con nghe lời dạy bảo của người cha già đáng kính.

Ra khỏi căn nhà đáng nguyền rủa đến sân sau, thứ đập vào mắt tôi đầu tiên là hình ảnh an ủi, ấm áp của ngon hại đăng phía xa xa. Nhưng còn nữa, gần hơn, một luồng ánh sáng mạnh mẽ di chuyển lượn lờ ngay sau cái hàng rào ngăn cách sườn núi dốc thẳng đứng đằng trước, do đó tôi cam đoan cái thứ đó - dù tôi không chắc nó có một cơ thể tồn tại vật lí hay không - đang trôi nổi trong không khí chứ không bám vào đâu cả.

- Anh đang mất bình tĩnh, anh nên đi tới ánh sáng. Anh chỉ an toàn trong ánh sáng.
Theo ta.

Giọng nói đó phát ra từ nguồn ánh sáng kia - tôi cam đoan - nghe khá kì lạ, giống như nó được phát ra từ một cái loa kim loại: trầm vang và đầy quyền lực. Nó bắt đầu di chuyển sang trái, men theo sườn núi, bất cứ nơi nào nó đi qua, ánh đèn điện bên đường đều được thắp sáng trưng, như cách người ta trải thảm đỏ cho những ông hoàng ngày xưa vậy.

- Anh phải đi theo ánh sáng.

Mỗi lần giọng nói vang lên, nguồn sáng lại nhấp nháy. Những câu nói ngắn gọn và tưởng như vô mục đích tôi tự hiểu đó là cách nguồn sáng giao tiếp với tôi, là cách nó bảo tôi hãy đi theo sát nó.

Đến sát bên một đoạn cầu thang nhỏ dẫn xuống dưới bị gẫy mục, nguồn sáng dừng lại, treo lủng lẳng trên không, chờ đợi tôi tới gần.

- Tốt lắm. Ta có một số điều quan trọng muốn nói cho anh.
Thứ tự như thế này:
Dù anh ta không biết.
Rằng vượt qua mặt hồ anh ta cho là nhà.
Yên nghỉ một đại dương xanh sâu hơn, đen tối hơn.
Nơi những ngọn sóng vừa dữ dội lại vừa thanh thản hơn.
Ở nơi đó ta đã từng.
Ở nơi đó TA ĐÃ TỪNG.
(For he did not know
That beyond the lake he called home
Lies a deeper, darker ocean green
Where waves are both wilder and more serene
To its ports I've been
To its ports I've been)
Anh có hiểu không?

- Không - tôi nhăn mày trả lời như lẽ dĩ nhiên, và cụt lủn bởi sự sững sờ trước những gì đang xảy ra, giống như tận mắt chứng kiến sự sinh ra của kì quan thứ tám vậy.

- Đi theo ánh sáng của ta.

Một luồng ánh sáng mạnh mẽ và lớn lao hơn rõ ràng vươn ra từ nó, như một bàn tay thần thánh với xuống từ trên cao cứu giúp. Lần đầu tiên trong tối đêm nay, tôi vui mừng khi những thứ kì lạ xảy ra: những mảnh vỡ to và nhỏ của cây cầu được truyền sự sống, đứng lên và cùng nhau di chuyển về cây cầu gẫy, rồi rời khỏi mặt đất bay lên không trung, phối hợp với nhau dần dần hình thành lại cây cầu nguyên trạng, giống như xem một bộ phim cây cầu đang bị phá hủy nhưng được quay ngược lại. Chẳng mấy chốc tôi đã có thể bước chân xuống dưới bằng cây cầu lành lặn y nguyên như mới đi theo nguồn sáng cũng bắt đầu di chuyển đi.

- Ta đi vào giấc mơ của anh để dạy anh. Bóng tối rất nguy hiểm. Nó hiện giờ đang nghỉ ngơi. Khi nào cảm thấy sự hiện diện của anh, nó sẽ tỉnh giấc. Không còn thời gian, ta chỉ còn kịp dạy anh những điều quan trọng nhất.

Ánh sáng di chuyển nhanh hơn, tôi chạy sát theo nó đến một khoảng đất khá rộng rãi. Nguồn sáng dừng lại dường như đang quay "mặt" lại phía tôi.

- Tên lạ mặt lúc nãy đã bị bóng đêm chiếm hữu thể xác. Tạm thời anh không thể làm hại hắn, bóng tối đang bảo vệ hắn khỏi mọi nguy hại. Chỉ có ánh sáng mới có thể xua đuổi bóng tối đi và khiến hắn dễ bị tổn thương trở lại. Nắm lấy ánh sáng.

Tôi chưa hiểu nổi ẩn ý của lời nói cho đến khi qua một luồng ánh sáng mạnh mẽ khác vừa mới chiếu xuống, một chiếc đèn pin nhỏ từ từ hạ xuống dần, tôi đưa tay ra đón nhận như nhận được món quà tặng.

- Tốt lắm. Một khi anh đã đốt cháy được lớp bóng tối bảo vệ hắn, nhưng bóng tối vẫn còn trốn bên trong, điều khiển hắn. Hắn không còn có thể cứu rỗi. Hắn vẫn là mối họa. Hắn vẫn là kẻ địch của anh. Cầm lấy khẩu súng.

Lần này đến lượt một khẩu súng được đưa xuống. Nó cũng là loại súng lục ổ đạn quay sáu viên, giống hệt cái mà Clay Steward cầm. Giờ tôi mới để ý trên báng súng và trên cán cầm của cây đèn pin đều dính những vệt máu khô.

- Được rồi. Anh làm khá lắm. Hãy nhớ những điều ta dạy anh.
Thế thôi. Ta sẽ trả lại giấc mơ cho anh ngay bây giờ.

Nói xong, nguồn sáng bay dần lên trên trời cao, nhỏ dần cho đến khi chỉ còn lại một vì sao trên bầu trời.

Tôi có nhiều câu hỏi muốn hỏi ông ta, nhưng kì lạ tôi có cảm giác ông ta đã cho tôi những câu trả lời rồi, tất cả những điều tôi cần biết, nên biết và đáng được biết. Những thứ còn lại thì giờ đây được thỏa mãn bằng những kiến thức trong đầu tôi chẳng cần lí do nào hết bỗng có được.

Trong cơn ác mộng này, một thứ đen tối khủng khiếp đã chiễm lĩnh toàn bộ trái đất, và ngọn hải đăng chính là nơi an toàn duy nhất còn lại trên mặt đất này.

Thêm một bài hát nữa :5cool_big_smile:

Balance Slays The Demons - Old God of Asgard ( Poets of the Fall )
[mp3]http://plasmon.rghost.ru/download/action/36679639/mp3[/mp3]
 
Chỉnh sửa cuối:
Thấy hơi ít người nhận xét nhỉ, chắc thể loại này không hợp lắm với dân mình.

Cuối tuần này có hàng tiếp nhé :1cool_byebye:
 
Chỉnh sửa cuối:
hưmm "Mặc dù đôi tai đang thở phì lao động đường phố vì chạy.." k hiểu chỗ nì lắm. Đây là truyện kd hả bạn? nếu thế cần cho thêm 1 chút tình tiết đáng sợ máu me vào, vì nếu là truyện kd thì nó vẫn chưa thật sự đáng sợ :)) hoặc ko là đòi hỏi truyện kd của mình hơi cao :)), cũng bởi vì mình thix những thứ kinh dị như thế :P. Còn về nội dung thì đến h vẫn là bí ẩn và ko rõ lắm đây là giấc mơ hay sao? người đán ông phải tranh dánh sự sống của mình trong mơ?
Chình xác đúng là thể loại này khá kén người đọc :)) vì nó có phần hơi nặng nề, khó hỉu. Dù sao đi nữa thì mình vẫn sẽ ủng hộ bạn. Nhớ coi lại mý lỗi chính tả nhé :D
 
Người ta hay nói "mệt thở phì lao động đường phố" với cả "chạy bở hơi tai" nên mình kết hợp 2 câu đấy lại, nhân cách hóa đôi tai luôn.

Truyện của mình thể loại hơi khác truyện kinh di 1 tí, bạn thấy chữ "psychology" không, thể loại này chủ yếu khai thác nỗi sợ tâm lí của mỗi người, nỗi sợ ấy rất bình thường ai cũng có cho nên khi viết mình tránh đưa các chi tiết hình ảnh hù dọa, mục đích để người đọc tập trung vào nỗi sợ hãi mơ hồ của nhân vật. Nếu mình cho máu me be bét vào thì câu truyện sẽ không còn "siêu thực" nữa, mình cần mọi người đọc có cảm giác không biết thực hư thế nào, tập trung vào "hoang mang" là là chính.

Còn Alan đã nói ngay từ đầu là đang gặp ác mộng rồi, nhưng mình cố không nhấn mạnh Alan đang ở trong giấc mơ, đồng thời cố tả giấc mơ một cách chân thực nhất, cũng nhằm mục đích khiến người đọc không hiểu đây là thực hay mơ.
 
Chỉnh sửa cuối:
Hic, viết rã cả tay.

Trong cơn ác mộng này, một thứ đen tối khủng khiếp mà tôi không thể hiểu rõ ràng đã chiễm lĩnh toàn bộ trái đất, và ngọn hải đăng tràn đầy ánh sáng chính là nơi an toàn duy nhất còn lại trên mặt đất này. Giờ trong lý trí tôi đã mơ hồ hình dung được cái gì đang xảy ra, toàn bộ sự kiện như một cuộc đấu tranh giữa ánh sáng và bóng tối, xem ra tôi không may mắn chỉ được đóng vai một nạn nhân kẹt giữa cuộc chiến, thay vì được làm nhân vật anh hùng chính bất khả chiến bại trên tivi. Mục đích của cuộc rượt đuổi tối nay nhỏ nhoi và đơn lẻ, tôi cố gắng kéo dài tính mạng ra càng dài càng tốt. Đôi lúc trong cuộc đời tôi từng băn khoăn tự hỏi nếu một ngày tất cả mọi thứ xung quanh ta, tất cả mọi thứ, đều mất đi ý nghĩa và sự tồn tại của nó, thì liệu lúc đó sự tồn tại của chính mình sẽ còn ý nghĩa gì nếu vốn từ đầu bản thân nó cũng đã không có ý nghĩa khi chỉ đứng một mình? Dẫu cho những suy nghĩ như thế trong quá khứ giờ đây chợt quay lại ám ảnh tôi vào lúc này, tôi giờ đây dễ dàng gạt bỏ những suy nghĩ xuẩn ngốc đó sang một bên. Mất mọi thứ chỉ còn mỗi mạng sống thì đúng là tệ thật, nhưng biết còn gì tệ hơn không? Mất mọi thứ và mất luôn cả mạng sống! Cuộc sống là một bài toán đơn giản, tự nhủ, tôi đã học được những điều như thế.

Sau khi đứng trời trồng một hồi để tự trấn an tinh thần, sắp xếp các mảnh vỡ kí ức của đêm nay lại theo một trật tự tôi có thể chấp nhận được, mọi thứ xem ra không quá "hỗn loạn" như ban đầu nữa, thứ còn lại chỉ là "quái dị" và "điên cuồng", thật ra cũng vừa đủ tốt khi nó đã khá giống với cuộc sống thực. Cảm giác cô đơn lạnh lẽo đã trở lại thành người bạn đồng hành với tôi từ lúc nào, khi "người kia" vừa mới bỏ đi. Ông ta là ai? Tại sao lại giúp đỡ tôi? Thứ quyền lực ông ta có là từ đâu ra? Và tại sao ông ta lại vội vã bỏ đi? Giả dụ ông ta bỏ đi vì sợ hãi chắc chắn không phải, điều đó có thể dễ dàng ai cũng nhận ra.

Đừng cố đào sâu vào những vấn đề viển vông! Tôi tự nhủ. Ông ta đã giúp tôi ít nhất có được 15 phút yên bình để tĩnh tâm, cho tôi biết những điều cần biết, đưa tôi vũ khí để phòng vệ... ít nhất thế là cũng đủ để tự thỏa mãn. Tôi nhìn xuống thứ vũ khí tôi cầm trên tay: một khẩu rulô sáu viên hiệu Smith & Wesson, loại phổ biến nhất với nòng súng dài 101mm, cỡ đạn 9,65mm để thổi bay tất cả những vật cản đường. Nào chờ chút, tại sao một nhà văn trói gà không chặt như tôi lại có vốn hiểu biết về súng như vậy. Xin thưa chẳng lẽ trong quá trình viết tập truyện dài về Alex Casey, tôi lại không có một lần nghiên cứu tư liệu súng ống để tăng độ chân thực cho tập truyện dài của mình? Thực tế mà nói tôi đã không chỉ đến trường bắn vài lần để thử súng, mà từ đó một tuần tôi phải đến vài lần để xả stress, nhất là sau khi say bí tỉ. Thằng tổng biên tập lắm chuyện và nông cạn, một viên vòng 40 và một viên trúng vòng 50 bia bắn. Tên chủ tòa soạn hống hách và tham tiền, ba viên vòng 70, một viên trúng đúng vòng 100. Alan Wake, cựu nhà văn, giờ một chữ cũng không viết nổi, nghiện rượu và bỏ nhà ra quán bar vào đúng kỉ niệm 10 năm ngày cưới của mình, bao nhiêu viên đạn cũng được, miễn không viên nào chĩa vào chính con người thật, chí ít là tôi chưa dám.

Bước chân đầu tiên bước đi, chập chững như đứa trẻ liều lĩnh, tôi tiếp tục thực hiện tiếp chuyến hành trình bất tận của mình về ngọn hải đăng. Đích đến của tôi giờ không còn xa cách lắm, tôi có thể nhìn thấy rõ ràng từ nơi tôi đứng chiếc đèn pha đang quay tới bốn phía chân trời trên đỉnh tòa tháp, cùng với một lá cờ đo hướng gió, thổi đều đều theo dòng không khí như bất cần đời, không quan tâm tới những thứ xảy ra xung quanh. Và con đường cái dẫn đến nó thậm chí còn gần hơn, giờ đang ở ngay phía dưới con dốc dựng thẳng đứng dưới chân tôi, chỉ cách một con đường mòn đi vòng xuống.

Ý định trượt qua con dốc để trực tiếp đi xuống con đường cái nhanh chóng bị loại bỏ khi vừa mới thò một chân xuống, một miếng đất to lở ra, rơi thẳng trực tiếp xuống phải tới năm mét, va đập với những hòn đá sắc cạnh trên đường đi và vỡ tan thành nhiều phần lúc tiếp đất.

- Không đáng đâu - tôi nghĩ.

Thế là lộ trình an toàn còn lại được lựa chọn. Tôi cảm thấy mình đã hơi vội vã khi định thử con đường rút ngắn kia trước, con đường mòn này cũng chỉ dài hơn một chút, đi vòng qua một khu rừng đen tối nhỏ thôi. Dù sao tôi cũng có chút an lòng khi sự hiện diện gã sát nhân không còn xung quanh từ lúc người "đàn ông" lạ mặt kia xuất hiện. Tôi rảo chân bước đi nhanh hơn, không còn cố ngăn chặn tiếng động phát ra từ đế giày nữa, mọi thứ sắp kết thúc, dù tôi vẫn không hiểu mục đích của nó là gì.

Nhưng mọi sự không được như mong muốn.

- Mày sáng tạo ra tao như thế này, giờ tao sẽ giết mày!

Tôi quay người về hướng phát ra tiếng nói. Gã toàn thân vẫn chảy ra thứ khí đen đặc quánh, không chần chừ bước khỏi một bụi cây gần đó tiến về phía tôi. Bàn tay run rẩy đang giương súng của tôi nhắm thẳng vào gã, ngón tay nhớp nháp mồ hôi của tôi bị hoảng loạn đáng lẽ đã vội vàng bóp cò nếu như không phải bị ý thức con người tôi kịp ngăn chặn. Bình tĩnh, ngắm kĩ, thở đều và đợi thời cơ thích hợp, sai lầm cơ bản của người cầm súng lần đầu là để sợ hãi dẫn đường, và đường đạn bắn ra thì như nước từ chiếc vòi hoa sen. Dù tim tôi giờ chỉ như nuốn giật đứt các mạch máu và thớ thịt ra khỏi lồng ngực để tìm đường chạy thoát thân, toàn thân tôi vẫn đứng vững vàng như tượng đồng, chờ đợi hắn tiến tới tầm bắn hiệu quả. Với khẩu súng trong tay, tôi cảm giác giữa tôi và hắn cuối cùng cũng có chút cân sức, là thứ giúp tôi không vứt bỏ khẩu súng và quay lưng chạy bán mạng đi mất khi hắn đã tiến đến gần sau vài giây.

Những ánh lửa bừng lên trong đêm tối, cùng với tiếng sấm không phát ra từ một cơn bão mà từ một họng súng giận dữ. Hai phát đạn nhắm thẳng vào gã đã không đạt được mục đích mà chúng đã được sinh ra để làm, cái bóng đen vẫn không chút lưỡng lự tiến tới, tôi cảm thấy thân thể vụng về và ngu ngốc như anh chàng Clay đã chết. Nghĩ, nghĩ đi nào! Người "đàn ông" đã nói gì nhỉ? "Mối họa...", "không thể cứu rỗi...", "bóng tối ở bên trong..."... đầu tôi như một cái dài cát-sét cố gắng chạy những cuộn băng trầy xước bị người ta ném vào sọt rác. "Đốt cháy bóng tối...", tôi giơ chiếc đèn pin vô hại lên chiếu vàp hắn.

Có thứ gì đó xảy ra.

Thứ gì đó thay đổi, thứ chất lỏng không khí xung quanh hắn tưởng chừng vô hồn bỗng cựa quậy, như một con rắn bóng tối quấn quanh bám chặt kín lấy từng đường cong trên cơ thể gã, rẫy rụa khi chạm phải lửa bỏng rát, giãn ra tránh né ánh đèn. Và hắn cũng vậy, cơ thể giật lùi lại đằng sau đột ngột, hai cẳng tay khẳng khiu giơ lên vụng về cố gắng che đậy cái thân thể to lớn. Từ đường êlíp méo mó cong queo mà ánh đèn pin in lên người gã, lóe sáng và phun ra hàng loạt những thứ giống như những mẩu giấy bạc nhẹ nhàng bay lơ lửng, nát vụn và sau cùng tan biến vào không khí. Thứ đồ vật nhỏ bé này thực sự có tác động lớn lao tới hắn, giống như tỏi với ma cà rồng vậy.

Giờ tôi là quan tòa, hài hước thay cái cách tình thế thay đổi chỉ bằng một cái bật công tắc. Thứ hắn còn có thế làm cuối cùng là nheo mắt nhìn qua khủy tay đang giơ lên để che ánh sáng của gã, chỉ để nhìn thấy những tia đỏ rực đẩy một viên đạn ra khỏi nòng súng, hướng thẳng đến phần thân thể bị chiếu sáng. Ổ bụng gã bị giật mạnh ra sau, rồi sụp đổ trên hai đầu gối dưới sức nặng phần cơ thể chết chóc. Nửa người trước của hắn đã tiếp đất trong khi đầu gối vẫn còn quỳ, tôi rảo bước lại gần cái hình dáng bất động, nghĩ:

-Chà, cũng dễ nhỉ?

Người ta nói khi còn say giấc mộng khuôn mặt ai cũng hiền từ, chỉ khi tỉnh dậy mới phân thiện ác, giờ thì tôi thấy cả lúc chết cũng vậy. Nhìn cái cách hắn bất động, hai tay buông xuống, thả lỏng toàn cơ thể, không ai nghĩ mới trước đây thôi hắn đã gầm gừ đòi giết tôi cả. Tôi vừa giết một con người! - một ý tưởng lóe lên trong đầu tôi. Không phải lỗi của tôi, mà kệ hắn chứ, trông vẻ ngoài xấu trai của hắn thì tôi đoán mạng sống của tôi tốt hơn mạng sống của hắn nhiều lần, hơn nữa tất cả những gì tôi làm là tuân theo thuyết tiến hóa, kẻ mạnh sẽ sống, chỉ có thế thôi.

Cái xác chuyển động, tôi giật mình có cảm giác như vừa trải qua một deja-vu khi hồi tưởng lại những sự kiện trong đường hầm. Nhưng với một chút khác biệt, xác người đàn ông lóe những tia sáng nhỏ nhoi chạy qua những vết nứt nẻ chạy dọc khắp cơ thể hắn, giống như soi mình vào một cái gương vỡ rạn. Từ những vết nứt đó cơ thể hắn tiêu biến dần giống như tàn giấy bị đốt cháy. Rất nhanh, hắn biến mất hoàn toàn khỏi sự tồn tại. Tôi bớt đi một chút cảm giác tội lỗi cho cái thứ không giống người này.

Bước đi khỏi với mối bất an trong lòng, thứ gì đó không đúng, khi mọi sự đều dễ dàng thì chỉ có thể là ta đã gặp may, hoặc đã sai toàn bộ. Có vẻ giống như mọi chuyện đã sai hết sạch thì đúng hơn, linh cảm đó của tôi được củng cố khi gió bão bắt đầu nổi lên cơn giận dữ, và mây mù che đi ánh trăng và bầu trời, không còn nữa một bể sao kim cương cho đêm huyền ảo, mọi thứ trở nên mù mịt như lúc gã sát nhân đuổi bắt tôi lúc trước. Linh cảm cho tôi biết đã đến lúc cho đôi chân tôi chạy đi thật nhanh, và sự lưỡng lự không biết làm gì của tôi kéo dài không lâu khi thứ tôi sợ hãi trở thành sự thật.

Từ trong những bụi cây rậm rạp rung động lên một cách bất bình thường, gã sát nhân lại bước ra, không phải một mà đến bốn năm tên, tên nào tên ấy giống nhau như đúc. Tôi đã bị thuyết phục rằng cái thứ diễn ra trước mặt là một sản phẩm tinh vi của đôi mắt toét nhèm bởi bụi đất, cho đến khi cả năm bóng đen nhào vào tôi với những cử chỉ giận dữ khác nhau đầy cá tính.

Đôi lúc tôi ngạc nhiên với tốc độ phản ứng của đôi chân tôi khi nó đã hoạt động hết công suất từ lúc nào hướng về phía đường cái, cứ như mục đích tôi được sinh ra là để chạy. Cuộc chạy trốn bị đến năm gã khát máu truy đuổi hơi khác với lúc trước một tí, bọn chúng cố chạy theo những ngả khác nhau nhằm dồn tôi vào chân tường, tôi còn có ba viên đạn, xem ra súng ống không phải biện pháp tốt nhất tôi có lúc bấy giờ khi bọn chúng không còn chơi đùa với tôi nữa mà muốn giết tôi bằng mọi giá. Nhưng không còn yếu đuối như trước, giờ tôi đã có một vài ý tưởng biết rằng bọn chúng sợ thứ gì rồi. Một cái bóng đen nhảy vồ ra trước mặt tôi trong khi tôi còn mải để ý bốn tên đang đuổi theo đằng sau. Hắn giương rìu lên, nhìn vào tôi như một con mèo dưới bàn tay đao phủ chờ chết, có điều con mèo này có móng vuốt, nhỏ thôi. Ánh đèn pin sáng rọi thẳng vào mặt gã làm gã choáng váng như nhận một phát đấm từ một võ sĩ quyền anh, hắn nhanh chóng lấy tay che mặt và lùi lại nhường đường cho tôi chạy mất, hi vọng chiêu bài này sẽ còn hiệu quả dài lâu.

Nó đây rồi, con đường cái đã trải dài trước mắt, và thứ tôi khao khát mong muốn đã trải dài trước mặt, ngọn hải đăng giờ chỉ cách một cây cầu rộng rãi thênh thang sáng sủa nối ra hòn đảo nhỏ mà nó đang đứng đó tỏa ra thứ hào quang rực rỡ và mạnh mẽ khó bì. Bằng cách nào đó nhìn thấy ngọn hả đăng gần gũi trong tầm mắt khiến việc bị đuổi bởi năm tên thần kinh bớt đi phần nào sự khủng khiếp vốn có của nó, và rồi khi tôi giật mình quay lại đằng sau thì năm hình bóng đã hòa tan cùng không khí như thể khao khát tự phủ nhận sự tồn tại vừa mới đây của chúng.

Chính lúc tôi cảm thấy thắng lợi đã ở trong tay tôi đến nơi, có một số kẻ không hài lòng lắm với những sự kiện tích cực và âm mưu che lấp mặt trời.

- Tao có thể đuổi bắt mày suốt đời!

Sau lưng tôi, tên sát nhân bước ra từ sau cánh cửa của một hiệu sách tồi tàn, với những cánh cửa và sơn tường cũ nát, tương phản hẳn với những băng-rôn mới tinh cùng với những cuổn sách "Sudden Stop" tôi viết đều không vương bụi, rải rác khắp mặt đất dưới chân hắn để hắn giẫm đạp lên. Không một lời cảnh báo nào, thân hình hắn lại bắt đầu cuốn lên không trung, một cơn lốc rẽ những mây mù đen tối từ trên bầu trời mù mịt vươn xuống chạm mặt đất đúng chỗ hắn vừa đứng, đúng như tôi dự đoán.

Lúc chân trái tôi bước lên phía trước chuẩn bị chạy cũng là lúc cơn lốc ngả về phía trước đuổi bắt, những tia sét bị mây mù che khuất trên bầu trời, giẫy giụa mãnh liệt khỏi nhà tù thị giác bằng những ánh sáng lóe lên in hằn trên bầu trời cũng những tiếng sấm đinh tai nhức óc, tôi có thể cảm thấy cơn thịnh nộ không giấu giếm của hắn. "Hắn tức giận bởi vì ta sắp thắng.". Tôi mỉm cười, không phải bằng đôi môi mà chỉ bằng trí tưởng tượng trong trí óc. Một khi tôi vượt qua cây cầu này đến được ngọn hải đăng, tôi sẽ an toàn khỏi mọi nguy hiểm trên thế giới, dù tôi không biết chính xác nó hoạt động như thế nào, có thể ánh sáng phát ra từ chiếc đèn pha trên đỉnh tháp kia mang sức mạnh thần thánh có thể xua tan những tên ác quỷ như hắn chăng?

Chiếc cầu rung lên kèn kẹt, vặn xoắn những thớ gỗ của nó, tôi không cần quay lại sau để biết cơn lốc kia đi tới đâu phá hủy mọi thứ trên đường đi của nó tới đó, thứ gì không bị nghiền nát ngay sẽ bị nhấc bổng lên bầu trời rồi ném xuống mặt đất với kết cục tương tự. Tôi may mắn những thứ tôi đón nhận từ bầu trời xuống bây giờ chỉ là cành cây, đá sỏi, vỏ chai và muôn ngàn loại rác khác, không có gì to tát lắm.

Ngoại trừ thứ này! Không thể dự báo trước, đâu đó từ khoảng không vần vũ hắc ám từ trên đầu tôi, một chiếc ôtô bồn nhắm thẳng đến tôi, rơi cắm mũi thẳng xuống chỉ cách tôi có vài mét. Một cú lách người kịp thời đã giúp tôi tránh được chết bẹp dưới sức nặng khổng lồ khi phần sau của chiếc xe mất thăng bằng đổ xuống. Không kịp hoàn hồn sau tai nạn bất ngờ, thứ gì đó thậm chí còn to và nặng hơn, những tôi không kịp định hình rõ ràng bởi sức nặng của nó ngay lập tức đã gặm nát một phần hai chiều rộng chiếc cầu, lập tức chìm ngỉm ngay trước mặt tôi. Chuyện kì lạ xảy ra, sự tò mò của tôi đã chiến thắng sợ hãi, tôi ngoái đầu lại chỉ để mục kích thứ chẳng đem lại sự gì tốt đẹp cho tôi ngoại trừ sự khủng bố.

Cơn lốc biến đổi, hoàn toàn trái tự nhiên, đang nghiêng đến 75 độ nằm xuống, điều quái dị là thân cơn lốc vẫn thẳng tuột bất chấp sự đối lưu của không khí, mà không có gì miêu tả rõ ràng hơn là một cái phễu đổ nằm. Cái miệng khổng lồ của nó cào sới từng tảng đất lớn lên nuốt gọn vào bên trong, và chắc chắn hắn cũng muốn làm điều tương tự với cơ thể mỏng manh của tôi. Thân mình nằm xuống của con quái vật đã chiếm đến 2/3 khoảng cách đáng ra phải có giữa tôi và cơn lốc, và cái miệng cá mập của cơn lốc đang nhăm nhe đói khát cho thứ chất lỏng nhuộm màu đang chảy trong mao mạch của tôi. Tình thế nguy hiểm hơn tưởng tượng, tôi có thể cảm giác trọng lượng cơ thể mình đang mất dần theo thời gian.

Đúng lúc ấy tôi để ý đến một tấm bảng quảng cáo "Sudden Stop" đang bị cơn lốc hút vào, gẫy ra làm đôi, một nửa xoay tít như chong chóng phi thẳng về phía trước, cắm phập trước mặt tôi chỉ để tôi nhìn thấy tên tác giả cuốn sách: "Alan Wake". Tôi dừng lại một cái dừng nửa giây, thực sự đặt lên môi một nụ cười nhếch mép méo mó "Ha! Mỉa mai!" rồi lại chạy bán sống bán chết. Có thể đến cả người điên cũng vui tính?

Cú tấn công thứ tư của cơn lốc là một cuộn dây điện khổng lồ được ném thẳng vảo thân ngọn hải đăng trước mặt tôi, những gạch vữa và bụi đất rơi xuống tôi có thể nhìn thấy rõ ràng. Xem ra hắn muốn thay đổi chiến thuật, có vẻ sẽ hiệu quả hơn nếu ngọn hải đăng bị phá hủy, khi đó không còn đích đến nữa, tôi sẽ hoàn toàn là một con rối vô hồn cho hắn để giải trí. Có điều nếu hắn nghĩ đến đấy từ trước thì có thể tôi sẽ bó tay chịu trận, nhưng giờ thì muộn rồi, với mắt thường tôi có thể thấy rõ những vân gỗ của cánh của trước mặt, vươn bàn tay ra trước, tôi kéo cánh cửa mở toang, lao người vào trong rồi đè cả cơ thể nên để cánh cửa đóng rầm lại sau lưng.

Cuối cùng tôi cũng thành công! Với trí tưởng tượng phong phú của mình, tôi có thể nghe thấy tiếng kêu tức giận và thất vọng của hắn thốt lên bị tiếng gió lấn át, trước khi đến cả tiếng gió cũng bị sự im lặng của màn đêm lấn át nốt. Mọi sự trở lại bình thường, đêm nay hiện thực đã quay trở lại làm chủ, và giờ chỉ còn lại tôi với ngọn hải đăng một mình khi không còn bóng tối.

Thắng lợi cuối cùng! Tôi mở rộng lồng ngực mình ra hít những hơi thanh thản khi tôi biết chắc quỷ dữ không còn tồn tại.

Tôi yêu cái cảm giác này, cái cảm giác ấm áp, an toàn và thanh thản, giống như khi bên cạnh Alice, dù thời gian gần đây rượu và bia khốn khổ đã che lấp nó đi phần nào. Tôi vô hồn đi lên cầu thang, thưởng thức thứ ánh sáng thánh thiện đang chảy khắp khuôn mặt của tôi và rửa tan đi mọi lo toan, mặc kệ giọng nói nhỏ trong tôi đang kêu gào đòi mục đích. Đúng là giờ tôi đã đến được ngọn hải đăng, nhưng tôi không hề có một ý tưởng nào về bước tiếp theo phải làm gì. Nhưng mặc kệ! Tôi đã buông xuôi mọi thứ cho khoảng khắc lạc thú ở trần gian này, mọi thứ mờ ảo đi và không còn gì khác quan trong nữa. Khốn khiếp! Tôi thà chết đói ở đây chứ không chịu xa thứ đẹp đẽ này nửa bước.

Ngọn hải đăng vụt tắt.

Anh ta đây rồi, quá thỏa mãn với niềm vui mới, cậu bé hư hỏng! Một ánh đèn đơn giản sẽ không làm gì được ta, không thứ gì cản ta tóm được anh. Anh là thứ ta cần và ta sẽ bán linh hồn mình để có được anh, một nhà văn.

Ta lao xuống từ đỉnh ngòn hải đăng như con thú vồ mồi, anh chỉ có thể nhìn ta bất lực, khuôn mặt kinh hãi. Lại đây với ta nào, bóng tối sẽ không hại anh đâu. Anh hét to quá, ta không nghe thấy gì cả nhưng ta không quan tâm, thứ ta quan tâm là bàn tay tuyệt vời của anh sẽ cứu giúp ta, ban cho ta sức mạnh, sau đó ta sẽ sử dụng anh bất cứ mục đích nào ta muốn, Alan.

Một giọng nữ cất lên, thều thào nhỏ nhẹ.

- Anh ta đây rồi!

Tôi gào thét kinh hãi.

Không còn gì cả, không vui, không buồn, không cảm xúc, không nóng, không lạnh, không giác quan, không tình cảm, không lí trí, không bao giờ còn suy nghĩ. Cõi hư vô thật kinh khủng, mạng sống của tôi đâu?

Một giọng nữ cất lên, thều thào nhỏ nhẹ.

-Alan! Tỉnh dậy!

Mi muốn gì ở ta nữa?

- Alan! Tỉnh dậy! Ta đến nơi rồi!

Nhận ra mình đã ngừng thở cả chục giây, tôi hoảng loạn nắm lấy sự sống đang tuột đi trước mắt, mắt mở to và trợn trừng, lỗ mũi phồng lên hít vào lượng không khí quá sức chịu đựng của phổi. Không bao giờ như lúc này tôi lại có cảm giác tràn đầy sức sống đến thế.

Tôi nhận ra mình đang ngồi bên trong một chiếc ôtô, trên một chiếc ghế êm ái, ánh nắng buổi chiều vàng rực và ấm áp chiếu qua cửa sổ xuống người, tiếng sóng vỗ rào rạt xung quanh, và những tiếng chim hải âu trên bầu trời, và những tiếng động bình thường của cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.

- Anh yêu anh không sao chứ?

Tôi quay sang phải, một nụ cười đang thi đua che khuất ánh sáng của buổi ban chiều, mái tóc được buộc túm ra sau, vàng bởi mọi tia sáng ấm áp đi qua đều bị vương lại, khuôn mặt quen thuộc nhưng trong mười năm qua không bao giờ tôi quên cảm tạ vị cô ấy vẫn còn ở đó mỉm cười.

- Ơ, Alice. Anh chỉ... - tôi ấp úng trả lời, giọng nói có phần quá cao vì chưa kịp quen thuộc với không khí xung quanh.

-Suỵttt... không sao đâu, anh chỉ mới gặp phải một cơn ác mộng khác nữa thôi, phải không? Chúng mình đang ở trên phà chở xe, sắp đến nơi rồi, anh chỉ mới thiếp đi em không nỡ đánh thức anh dậy.

Tỉnh táo hoàn toàn, óc hài hước bắt đầu quay lại với tôi.

-À ừ, may quá là mới chỉ có "thiếp đi" thôi, giá như có thêm cái gì đó cho mấy thằng nhà báo rỗi việc có cơm để đớp nhỉ?

Cô ấy lại cười, đó là kiểu đối thoại duy nhất tôi chẳng biết phải đáp trả như thế nào.

- Vui lên nào em bé. Mình đến nơi rồi, anh ra mà xem này.

Không cần biết đến nơi là đến đâu, tôi bước đại ra ngoài. Đúng như cô ta nói, chúng tôi đang đứng trên một chiếc pha lớn, xung quanh là chỉ toàn là người địa phương và ôtô của họ, suy đoán tôi tự nghĩ ra nhờ phong cách ăn mặc và những chiếc xe có phần cũ kĩ ở xung quanh. Thế là một cách miễn cưỡng, tôi cảm thấy hai người chúng tôi trở thành tâm điểm thu hút cho những sự chú ý mà tôi không hề mong muốn. Tôi đảo mắt xung quanh xem có ai đang nhìn chằm chằm vào chúng tôi không.

Quả là một khung cảnh đáng yêu, ở đây mặt trời đang lặn xuống chân trời đằng xa xa, nơi mặt nước hồ và bầu trời gặp nhau, cái thứ gọi là "hoàng hôn" mà chúng tôi chưa từng thấy ở New York. Trên mặt hồ rộng lớn, những tia sáng mặt trời cuối cùng được phát ra in hình trên mặt nước, phản chiếu lên không trung. Hình tròn vàng rực kia cứ như đang mặc một chiếc áo dạ tiệc đuôi dài vàng óng phủ đầy nhũ kim cương lấp lánh không dứt, bước đi khỏi bầu trời để lại niềm vui thích và luyến tiếc. Trên đất liền những rừng cây lá kim rậm rạp điển hình hàn đới đang cố thi đua vươn lên cao đón nhận những tia hạnh phúc đang vơi dần, trong khi những bụi cây thấp bé xanh rì bên dưới chấp nhận thân phận, chìm vào giấc ngủ riêng tư. Một số thì may mắn hơn số khác, những rừng cây trên dãy núi trập trùng lượn lên xuống mềm mại ở phía xa xa được đón nhận ánh sáng lâu hơn, so với những rừng cây ở phía dưới, như thể là thuộc một thời gian khác, một thế giới khác, dù chỉ và phút.

Chiếc pha đi qua gầm một chiếc cầu đường sắt khá cao, người ta tận dụng nó bằng cách lấy các chữ cái lớn xếp thành một thông điệp "Chào mừng tới Bright Falls" khá to, cứ làm như người nào đi trên chiếc phà này không biết mình đang đi đến thị trấn nào vậy. Một chiếc máy bay cánh chuồn đang hạ xuống lướt qua những con sóng trên mặt hồ gần chiếc phà, nước bắn tung tóe. Mặc cho những người dân bản địa hò hét cổ vũ và vợ tôi cười phấn khích, khi nhìn thấy dải băng rôn mang trên mình thông điệp "Chào mừng tới Bright Falls" trùng hợp ngẫu nhiên, tôi mong cái thằng lái máy bay đâm thẳng vào cái cầu sắt, hi vọng đó sẽ là một sự trùng hợp thú vị hơn.

Tôi đã quên mất rằng trên thế giới vẫn còn một thị trấn như thế này, nơi mà cái hiện đại không thể chạm tới, một thị trấn mà mọi người biết mợi người, nơi mạng internet chưa phổ biến và sóng di động thì lúc được lúc không. Phóng xa tầm mắt về phía bến tàu chúng tôi đang hướng tới, những gợn sóng nhỏ lớp lớp đánh vào bờ, những hình dáng người di chuyển đều đều phía trước, những mái nhà gỗ bụi bặm không quan tâm đến thời gian, yên bình và không hối hả, đúng như những gì tôi mong đợi khi Alice gợi ý tôi đến địa điểm này.

Say đắm trong sự ngọt ngào thiên nhiên ban tặng, một giọng nói già nua cất lên bên cạnh tôi.

- Xin lỗi, làm phiền anh?

Tôi quay lại, một ông già khoảng 60 tuổi đang khoanh hai tay lại tì vào lan can của chiếc phà, quan sát tôi từ nãy tới giờ mới dám cất tiếng hỏi. Ông ta có mái tóc bạc cước, dáng đi hơi cúi, khuôn mặt hiền từ không có râu nhưng có vài vết đồi mồi.

- Chào anh bạn. Xin lỗi, tôi sẽ không giả vờ không nhận ra một nhà văn nổi tiếng như anh. Anh là Alan Wake phải không?

- Vâng, là tôi - tôi trả lời ngắn gọn.

- Ồ, quả là hân hạnh, tôi là một người đọc hâm mộ, rất vui được gặp anh. Anh đến thăm thị trấn của chúng tôi đúng lúc quá, Tuần lễ Săn bắn chỉ con cách hai ngày nữa thôi.

Ngẫm lại nghề nghiệp của mình, tôi cảm thấy một sự nực cười không thể giấu diếm.

- Tuần lễ Săn bắn hả? Em yêu ơi em có nghe thấy gì không? - tôi ngoảnh lại trêu cô ta một chút.

Người đàn ông sửa lại cặp kính trong của mình.

- Ồ vợ anh quả là đáng yêu, à mà nếu anh không phật ý những gì tôi nói. Tôi là Pat Maine, rất hân hạnh được gặp anh.

- Tôi cũng vậy - bàn tay tôi vụng về rút khỏi túi áo bắt tay ông ta.

- Nhân tiện, tôi hy vọng anh không cảm thấy tôi quá đường đột, nhưng tôi sở hữu một đài rađiô về đêm, có cơ hội nào anh đến dự một buổi phỏng vấn của tôi không? Nó chỉ nằm trên ngọn đồi cách thị trấn này không xa đâu.

Tôi nhăn mặt.

- Thế này này ông Maine, thực ra tôi đang trên đường tới kì nghỉ của tôi, thực sự thì tôi muốn ông giữ bí mật cuộc gặp gỡ này chỉ giữa hai chúng ta. Tôi cho rằng là ông cũng hiểu và thông cảm.

Thái độ người đàn ông niềm nở.

- Không sao cũng được thôi. Anh có thể tin tưởng tôi giữ bí mật này. Nhưng nếu anh có thể thay đổi quyết định thì tôi không phải là một người khó tìm thấy. Tôi thành thật chúc hai người một kì nghỉ thật đẹp.

Rồi ông ta quay về tư thế cũ, trầm ngâm một mình thưởng thức sự trôi qua chậm rãi của thời gian.

Tôi thở hắt ra bớt căng thẳng, bình thường tôi hiếm gặp được những người thế này, ông già là một người tốt. Làm nhà văn nổi tiếng có cái nhược điểm của nó, không phải là tôi kêu ca phàn nàn nhưng tôi rất ghét các thể loại "fan cuồng", không những phần lớn họ đều hiểu sai những tư tưởng tôi muốn truyền đạt mà họ còn nông cạn và phiền nhiễu nữa.

Tôi quay lại với vợ tôi đang cầm máy ảnh trên tay chụp tanh tách từ bao giờ. Vợ tôi vốn là nhiếp ảnh gia, đi đâu cô ấy cũng mang theo ít nhất một cái máy ảnh.

- Em chụp được anh với nền thị trấn ở phía sau, có vài cái được lắm. Và thấy anh vừa mới đi kết thêm được bạn mới, dễ thương quá anh chàng ạ - cô ta dài giọng cố tình trêu tôi.

Tôi đáp trả.

- Ồ tuyệt lắm, anh thậm chí còn nghĩ ra luôn cái tên cho bức ảnh nữa cơ, "Công tử bột thành phố, khoảng khắc trước khi bị gấu ăn thịt mất xác".

Di động của tôi bỗng reo lên. Bên túi phải, tôi rút ra đọc tên người gọi : "Barry - quản lí kinh tế", bấm nhận cuộc gọi.

- Heyyyyy... anh chàng đẹp trai, nhà văn yêu thích của tôi, thế nào, cậu đến nơi chưa? - đúng là cái giọng choe chóe khó ưa, tôi mỉm cười.

- À ừ, Barry, vừa mới tới thôi.

- Cái đám thổ dân vùng đó có phiền nhiễu cậu không? Chỉ cần nói một câu mình sẽ bay thẳng đến đấy dẹp hết chúng sang một bên cho cậu ở một mình.

- Không cần đâu Barry, chúng tôi ổn.

- Tốt, tốt. Chỉ muốn cậu được cảm thấy thoải mái thôi, để cậu thư giãn và nạp lại năng lượng. Thế nào rồi, cậu cảm sức sáng tạo phun trào mãnh liệt ở trong người chưa?

- Barry, chúng tôi chỉ vừa mới đến thôi mà - tôi bực tức nói. Barry biết rõ là hai năm nay cạn ý tưởng tôi chưa hề viết thêm được chữ nào rồi.

Ở đầu bên kia chiếc phà, một người đàn ông bí ẩn đang chăm chú quan sát nhất cử nhất động của Alan. Với hắn, được giao nhiệm vụ theo dõi Alan là một nỗi thất vọng lớn. Ông chủ của hắn cho rằng Alan có gì đó đặc biệt, nhưng hắn lại chẳng ấn tượng lắm. Tuy hắn được giải thích rõ là Alan rất quan trọng, quan trọng hơn hắn, nhưng hắn lại bực tức, thật khó để hắn chấp nhận một người hắn không coi trọng lại quan trọng hơn hắn.

Tuy nhiên hắn lại quan sát cô vợ lâu và kĩ hơn, và hắn thích những gì hắn thấy. Hắn tưởng tượng cảnh hắn khiêu khích Alan vào một cuộc ẩu đả, nhưng hắn không làm. Dù sao hắn cũng phải đợi xem tên nhà văn có cái gì quan trọng không đã.

Ít nhất là ông ta hứa sẽ có.

Chỉnh sửa một chút đêm hôm qua vội viết quá không kịp soát lỗi.

Thêm một bài hát nữa của Poets of the Fall:

Diamon for Tears
[video=youtube;t9Rl8WMqejc]http://www.youtube.com/watch?v=t9Rl8WMqejc[/video]
 
Chỉnh sửa cuối:
Mình nghĩ bạn khá sáng tạo trong cách dùng từ, đặc biết là ở những đoạn miêu tả, rất hay. mình rất thích. Tuy nhiên có 1 vài đoạn nhỏ mắc lỗi, điển hình là ở gần cuối lặp từ hơi nhiều, nhưng nhìn chung bạn viết như vậy là khá, mướt. Với lại cái đoạn mà có ng khác ấy, ko nói về nv chính mình nghĩ bạn nên làm dấu riêng cho ng đọc dễ nhận, viết liền như thế thì hơi rối. Chờ chap tiếp theo của bạn nhé, truyện của bạn làm mình tò mò đấy
 
Cảm ơn bạn đã cho ý kiến, ban thân mình cũng rất thích tìm hiểu từ ngữ và cách dùng nhưng xem ra vẫn chưa đủ, với lại nhiều hôm mình viết khuya quá cũng buồn ngủ hơi díu mắt lại.:9cool_haha: bạn chỉ cho mình xem khoảng nào mình bị lặp từ luôn để mình xem xét lại.

Còn về hội thoại và suy nghĩ cúa nhân vật mình thường gắn kết hai thứ đó lại vì mình rất ghét hôi thoại không, tưởng tượng cả đoạn chỉ có toàn hội thoại trông nó rất vô vị và nhàm chán, tuy nhiên mình sẽ rút kinh nhiệm tìm cách để các đoạn đó dễ đọc hơn.
 
Chỉnh sửa cuối:
"Ngọn hải đăng vụt tắt....bất cứ mục đích nào ta muốn, Alan." ý mình là đoạn này nè, bạn chuyển cảnh đột ngột quá @_@, có thể mới đầu đọc sẽ khiến ng ta rối chứ đoạn đối thoại thì bt :D. Còn từ lặp đi lặp lại là "quan trọng" @_@ ở đoạn gần cuối đó bạn.
 
Next :8cool_cry:
- Được rồi được rồi Al. Tớ sẽ gọi lại sau để chắc chắn cậu vẫn ổn, còn cậu phải gọi ngay cho tớ nếu có bất cứ vấn đề gì. Được chưa? Được rồi! Chỉ hỏi thăm cậu tí thôi, gọi lại sau, chào nhé.

- Nhưng mà này Barry...

Những tiếng tút máy dài cắt đứt câu thoại của tôi, có vẻ như bài giảng năm phút qua cũng như thái độ cố tỏ ra bực mình của tôi không có đi qua được cái đầu đất của anh ta. Người ta có đủ loại bạn, bạn thân có, bạn giả tạo có, bạn đểu cáng cũng có, riêng tôi có một người bạn lắm mồm, đáng tiếc Barry là người duy nhất còn bên cạnh tôi khi tình hình tài chính của tôi đang đi xuống, có lẽ lí do là tôi với cậu ta chơi thân với nhau từ khi còn nhỏ.

- À, ừ, thì mình cũng... à, chào cậu nhé - tôi giả vờ nói chuyện một mình với cái di động mà người gọi vừa cúp máy không thương tiếc, cố tỏ ra mỉa mai một cách thông minh trong khi trông tôi như gã thần kinh.

- Nếu em biết rõ Barry thì chắc chắn cứ năm phút cậu ta sẽ gọi lại một lần cho anh nghe mà xem - vợ tôi chau mày.

- Kệ xác cậu ta, anh cứ tắt máy đi là được chứ gì - bàn tay tôi vội đóng chiếc điện thoại gập lại. Nhưng không lâu, chỉ một giây sau đó, tiếng chuông tin nhắn lại vang lên. Vợ tôi nở một nụ cười mỉm rất quái theo kiểu "đã bảo rồi mà!".

Barry gửi một tin nhắn chào Alice, mèn ơi, cứ như tôi đang đọc status trên Facebook của bọn trẻ trâu rỗi thời gian vậy. Quá mệt mỏi, tôi còn không thèm gửi lời chào của Barry cho cô ta.

- Alan, phà cập bến rồi kìa! Anh quay lại xe mau lên.

Alice luôn phải nhắc nhở tôi từng chút một, đôi khi tôi cũng lấy làm bực mình nhưng tính tôi nó lại hay mơ tưởng tận đẩu tận đâu, nên tôi cũng cho đó là điều cần thiết. Đóng điện thoại lại mà nhanh chóng tắt máy, không cho Barry thêm một cơ hội nào phát huy cái sở trường của mình, tôi nhảy lên chiếc xe van màu đỏ của chúng tôi lái đi khỏi trong khi chiếc phà đang kéo còi ầm ĩ và thải ra những tràng khói nghi ngút.

Chuyến du lịch dài ngày này là ý tưởng của tôi, cơ bản là thế. Mặc dù tôi là người khởi xướng ý tưởng nhưng phần lớn mọi việc chuẩn bị, từ chọn địa điểm, đặt vé, thuê phòng, chuẩn bị hành lí đều do vợ tôi đảm nhiệm. Khi mà cuộc sống của chúng tôi đang ngày càng khó khăn hơn trước, và tôi để ý rằng vợ tôi cũng phải chịu nhiều áp lực hơn, không như tôi có quán bar với bạn bè để sả, tôi cho rằng một kì nghỉ dài ngày sẽ giúp ích được cho chúng tôi nhiều. Và có vẻ tôi đã đúng phần nào, từ khi chúng tôi dự định lên kế hoạch đi du lịch, cô ấy trông hoạt bát lên hẳn, không còn suốt ngày ở nhà một mình nữa mà chạy đôn chạy đáo, lúc thì nhờ hàng xóm trông hộ nhà, lúc thì vã mồ hôi nhồi nhét cả tấn quần áo vào va li như tất cả các bà nội trợ hay lo xa khác. Cuối cùng tôi quyết định dành lấy bổn phận làm chồng, vứt hết đống quần áo nặng gánh đi chỉ mang theo đồ vệ sinh thiết yếu, và hào phóng chi thêm một khoản kha khá cho chuyến đi, quần áo thì ở đâu mua chẳng được. Nhìn vợ tôi kéo theo cái va li tí hon trên tay, tôi thầm nghĩ không biết cô ta có bay được không khi mọi lần khác hành lí cô ấy mang theo giống như chiếc va li này và cả tôi ngồi lên bên trên nữa.

Bright Falls là một thị trấn nhỏ nằm ở phía Đông Bắc New York, với chỉ khoảng tiếng rưỡi đi máy bay nhưng chúng tôi chọn bốn tiếng đi xe hơi để tiết kiệm, như tôi đã nói giờ chúng tôi không có được dư dả gì lắm. Thị trấn trước kia vốn là một địa điểm du lịch nổi tiếng bởi phong cảnh thiên nhiên hoang sơ ít bị con người ảnh hưởng và địa hình hiểm trở thu hút các nhà leo núi ưu mạo hiểm. Dẫu vậy theo dòng thời gian Bright Falls không còn được như trước kia nữa, một trong những lí do chủ đạo là ngành du lịch ở đây đã khai thác quá đà mà không có sự quản chế hợp lí của chính quyền địa phương. Thêm vào đó một phần nhỏ là do các vụ mất tích nơi đây xảy ra liên tục, chủ yếu là người bản xứ, một năm phải có lúc đến cả chục vụ, nhiều người đổ lỗi cho địa hình cheo leo hiểm trở ở nơi này, số khác cho rằng lí do chính là ở nơi đây các cơn bão nhỏ thường xuyên xảy ra đột ngột và không báo trước, đôi khi kèm theo lốc xoáy.

Chính vào cái lúc những cửa hàng và khu giải trí ở thị trấn bắt buộc phải đóng cửa hàng loạt, người ta phát hiện ra một nguồn lợi khác ở khu vực này: hải sản. Hàng năm cứ vào thời gian nhất định , những đàn cá hồi khổng lồ từ biển quay lại nơi chúng được đẻ ra để đẻ trứng, nối tiếp cái vòng luẩn quẩn mà cha ông chúng để lại, và thế là hai năm một lần, các nhà máy chế biến cá ở đây lại thu được món hời lớn, may mắn là lần này các cấp có thẩm quyền đã để ý đến công tác bảo tồn thiên nhiên nên các nhà máy chế biến cá không được phép mọc lên vô tội vạ. Chỉ có điều phần lớn các chủ xưởng là người ngoại tỉnh có tiền và thế nên mới lo lót được phép xây dựng nhà máy với số tiền và thời gian không ít, và lương trả cho công nhân ở nhà máy, như cách họ nói là tạo việc làm cho người bản xứ, bị cách xén một cách tinh vi để bù lại cho số vốn không chính thức của họ. Tuy vậy công nhân nhà máy chủ yếu là người bản xứ lại không chê trách gì nhiều, gọi là người "bản xứ" nhưng phần lớn họ cũng là dân ngoại tỉnh dồn đến đây khi ngành du lịch địa phương đang phất lên, mong muốn đổi đời. Nay khi lượng khách tham quan đã giảm mạnh thì họ có thêm một cần câu cơm ổn định cũng là hạnh phúc lắm rồi, đã chuyển đến đây sinh sống gần chục năm, giờ muốn chuyển đi nơi khác làm ăn thì phải là một người có dũng khí và hoài bão lớn mới làm được, chưa nói đến chuyện họ đã từng tha hương một lần.

Cũng không phải là mọi việc đều xám xịt. Các chủ cơ sở chế biến cá khi chuyển tới đây do đều không phải tay nhỏ mặt bé nên cũng đã thu hút một số vốn đầu tư kha khá cho chính quyền, và chính quyền dùng số tiến ấy cải tạo lại tự nhiên và môi trường, nên vẫn có một lượng khách du lịch tăng trở lại với giá cả rất phải chăng. Nhưng xây dựng luôn khó khăn hơn phá hoại, Bright Falls sẽ không bao giờ trở lại cái thời hoàng kim trẻ trung và sôi nổi của nó ngày trước nữa. Dù sao thì cũng không quá ảm đạm, ta có thể gọi đó là một hợp đồng lợi cả ba bên.

- Đầu tiên chúng mình sẽ phải đến quán cà phê của thị trấn để gặp chủ đất, một ông Carl Stucky gì gì đó. Ông ta giữ chìa khóa căn chòi gỗ đang chờ chúng ta - lạy hồn cuối cùng cũng có một địa điểm cụ thể, sau năm phút vừa rồi cô ta cứ chỉ đi thẳng phía trước tôi tưởng chúng tôi đã lạc đường rồi.

- Chúng ta đến rồi!

Chiếc xe đỗ xịch lại trước một quán cà phê được trang trí màu mè với cái đầu hươu quá cỡ nhô ra, nhìn xung quanh tôi có thể thấy những công trình sặc sỡ khác được sử dụng khi lượng khách du lịch còn đông đảo, giờ đây phần lớn đã đóng cửa, trên mái phủ một lớp bụi dày và bốc mùi cá tanh nồng nặc.

- Em sẽ đem ôtô đi đổ xăng, còn anh vào đấy lấy chìa khóa nhà, khoảng năm phút sau gặp lại tại đây anh nhé.

Tôi ngán ngẩm bước ra khỏi xe, tìm người đàn ông tôi thậm chí còn không biết mặt, tỏ ra tôi còn có một tí quan tâm tới chuyến đi này. Ngay từ đầu tôi thực sự đã không có hứng thú, nhưng chuyến đi này hoàn toàn là dành cho vợ tôi, một hành động cao cả hiếm hoi mà thỉng thoảng lắm tôi mới có, cho nên tôi cố gắng dẹp bỏ tính ích kỷ thông thường sang một bên, tự thuyết phục mình rằng tôi có thể cũng sẽ được vui vẻ cùng với vợ, trong khi thật ra chỉ cần một ngày nằm ườn trước tivi, khui một chai wishky ngâm nga tơ tưởng một mình không ai làm phiền, là đủ thỏa mãn tôi lắm rồi.

Tôi ngước lên tấm biển đèn nêon của quán cà phê được treo cùng với cái đầu hươu, dòng chữ "OH DEER!" được treo ngay ngắn với cái đầu hươu treo bên trong chữ "O". Đột nhiên tôi cảm thấy ngứa ngáy, làm nhà văn một khi tôi nhận ra cái sự chơi chữ thảm hại trong tấm biển ấy, giống như sự xúc phạm đến nghề nghiệp yêu quí của tôi vây. Tôi nhắm nghiền mắt lắc đầu nhè nhẹ, tự nhắc mình đang trong kì nghỉ, tôi may mắn khả năng "mặc kệ" của tôi vẫn còn hữu dụng. Cúi đầu nhẹ xuống, tôi bước đi trước khi vợ gọi với lại.

- Này Alan - cô ta vặn cánh cửa ôtô xuống - cảm ơn anh đã cùng em tới đây.

Alice với ra nắm lấy tay tôi như một cách bày tỏ thiện chí, xem ra kế hoạch của tôi đã hoạt động hết sức hiệu quả,

- Em cứ đi trước đi, anh hứa sẽ không nghịch ngợm đâu - tôi nở lại một nụ cười với Alice, đáp lại lòng biết ơn của cô ấy.

Chuyến du lịch này xem ra cũng đáng đồng tiền bát gạo.

Tiếng chuông cửa vang lên, một số người khách trong tiệm cà phê ngoái lại nhìn tôi đang đóng cánh cửa lại sau lưng. Ngay khi nhìn thấy tôi cô phục vụ bàn nở một nụ cười tươi, không phải kiểu cười ta thấy ở các cửa hàng Starbuck, MacDonnal hay bất cứ cửa hàng nào trả lương để nhân viên cười, đây chỉ là một cái cười hồn nhiên và vô tư.

- Mừng anh đến quán cà phê của chúng tôi, ở đây chúng tôi không chỉ phục vụ đồ uống mà còn ăn trưa và ăn nhẹ nữa - cô phục vụ nói từ đằng sau quầy bar đặt ở giữa phòng, biết rõ tôi là khách du lịch vừa mới đến.

- À thực ra tôi chỉ cần tìm...

Chưa nói hết câu, cô ta đã xen ngang vào giữa.

- Ôi trời ơi, anh là Alan Wake có phải không? Ôi Alan Wake nổi tiếng đang ở trong quán cà phê của tôi - cô ta dường như muốn nhảy cẫng lên - tôi đọc và mê nhiều sách của anh lắm, tôi biết nhiều người đã nói với anh câu này nhưng tôi thực sự, thực sự, thực sự là một fan lớn cực kì cuồng nhiệt của anh, ở nhà tôi có bộ sưu tập sách không thiếu một quyển nào.

- À ừ, cám ơn... - tôi cười xuề xòa cho xong chuyện, không nhìn thẳng vào mắt cô ta như tôi vừa mới làm gì phi pháp. Tình cờ quay lại đằng sau, nhìn thấy một tấm áp phích quảng cáo sách to đùng mà hình tôi đang cầm quyển sách trên đó to đúng bằng người thật. Mẹ ơi, đúng là ghét của nào trời trao của ấy, không hiểu cô ta lôi cái thứ rẻ rách ấy từ đâu ra không biết.

- Tôi muốn tìm gặp ông Carl Stucky, ông ấy có ở đây không?

Vẫn chưa hết hưng phấn, cô phục vụ cất giọng với tần số cao vút.

- Ồ anh tìm gặp ông Stucky? Tôi e rằng ông ta vẫn còn trong phòng vệ sinh ở đằng sau kia. Tiện thể, tên tôi là Rose, vô cùng vui sướng được gặp anh.

Tôi phản ứng lại bằng một cái bắt tay hờ hững, rõ ràng tình cảm thái quá của Rose đã thu hút những ánh mắt tò mò của thực khách xung quanh, đây là điều tôi sợ nhất trong kì nghỉ này. Tuy nhiên có một số người lại không để tâm, một vị có vẻ như kiểm lâm của khu này đang ngồi nhâm nha tách cà phê đen đặc, che giấu mình khỏi mọi sự xung quanh bằng tờ báo buổi sáng phủ kín trước mặt.

- Anh có thể thử một tách cà phê - người kiểm lâm lên tiếng thân thiện - có điều đừng có trách tôi khi anh đã yêu nó mất rồi, anh sẽ chẳng còn muốn rời khỏi đây để tan nát cõi lòng đâu.

- Ông Rusty đây không còn là người nữa, giờ dưới lớp da già cỗi ấy chắc chỉ còn toàn là cà phê đen đặc mà thôi - Rose cười đùa hùa theo câu nói của người kiểm lâm.

Tôi đảo mắt nhìn quanh và hướng về phía một hành lang hẹp ở phía sau, vòng qua quầy bar trước khi tôi lại bị hai người khách khác kéo lại.

Ở một góc căn phòng cạnh chiếc máy phát nhạc đĩa nhựa, hai ông già đâu tóc bạc phơ với kiểu ăn mặc kì quặc: một người mặc một chiếc áo khác da đen sẫm trẻ trung, vận quần bò, tóc lưa thưa không râu ria và đeo cái bịt mắt chéo ở bên phải, một người thì mặc áo phông xám, khoác áo bò cắt tay, nuôi một trùm râu xồm xoằm như các Viking ngày xưa và buộc một cái khăn đen trên đầu. Ấn tượng đầu tiên của tôi là hai bọn họ thuộc về một băng đảng lái xe môtô chuyên lang bạt khắp hang cùng ngõ hẻm, dù tôi không chắc họ thậm chí có thể tự lôi được cái mông già của họ lên yên xe hay không.

- Làm cho ta một yêu cầu nào cháu trai, ta đang muốn có một chút âm nhạc đây. Số sáu trong hộp nhạc, "Coconut". Nào thì ta cũng có thể tự làm được, nhưng đôi chân của ta ngủ quên hết rồi, rối loạn tiêu hóa nữa. Yeah! - Người đàn ông với chiếc bịt mắt lên tiếng, làm tôi có cảm giác lạc về những năm 80.

- Lại "Coconut" ?! - người đàn ông với bộ râu sửng cồ - ông già nói thật đấy hả? Mi làm ta tởm lợn, lại còn dám tự gọi mình là một ca sĩ rock nữa? HA, không thể tin nổi! Đừng tưởng chỉ bởi chúng ta là anh em ruột mà tôi lại không dám giết ông khi ông còn đang ngủ nhé!

Ông già bịt mắt giả điếc không nghe thấy. Tuyệt, một ngày tuyệt vời, ngay khi tôi cảm thấy kế hoạch của tôi đang đi đúng hướng dự định.

- Xin lỗi, tôi đang bận - kiếm ra một cái cớ cũ rích, tôi mau chóng rảo bước về phía hành lang nơi có một bà già ôm khư khư cái đèn dầu đứng lưỡng lự không dám vào.

Hành lang dài dẫn ra sau tối om, thỉnh thoảng nháy lên vài tia đỏ yếu ớt từ chiếc đèn trần đang đung đưa và thứ duy nhất giữ cho nó không rơi xuống là sợi dây điện mỏng manh. Ngoài ra không còn gì ấn tượng khác cả, tôi nheo mắt bước vào.

- Cẩn thẩn đấy chàng trai trẻ, đừng để bị thương ở trong bóng tối - bà già cầm cây đèn ngoái cổ vào nói với theo tôi.

- Tôi nghĩ là tôi tự lo được cho bản thân mình - đoạn tôi bước những bước kiên quyết vào bên trong, bỏ lại bà già lẩm cẩm sau lưng. Tôi không muốn phải chờ đợi, tôi cần phải tìm ông Stucky thật nhanh, lấy chìa khóa và chuồn khỏi nơi này, chính thức bắt đầu kì nghỉ của chúng tôi. Cô phục vụ Rose kia đã làm cho tôi một trận đau đầu, cái đám "fan cuồng" luôn luôn làm thế.

Lần sờ theo vách tường bên trái khi đôi mắt mở to cũng vô dụng, cuối cùng tôi cũng tìm thấy cánh cửa cùng nắm đấm của nó trong lòng bàn tay, có vẻ đây là phòng vệ sinh duy nhất khi mà trên đường đi tôi không còn tìm thấy cánh cửa nào cả.

Tôi gõ nhẹ vào cánh cửa hai phát, ngạc nhiên khi thấy đến cả phòng vệ sinh cũng không có ánh đèn nào le lói qua khe cửa, như là không có ai bên trong. Tôi gõ lại hai phát nữa.

- Xin chào? Ông Stucky?

Tôi bắt đầu vặn thử nắm đấm cửa, vô ích, nó đã bị khóa trái bên trong. Giờ thì sao đây?

- Carl đã không thể hiện diện được - một giọng nói vô hồn vút bay ra từ không trung tĩnh lặng và chết chóc - không may, ông ấy đã bị bệnh rất nặng - tôi quay ra nhìn, một người phụ nữ không hiểu từ đâu xuất hiện đứng chặn giữa lối vào mà tôi vừa đi qua. Bà ta vận một bộ đồ màu đen, áo cài cúc chỉnh tề, một cái váy bó ngắn đến đầu gối, đeo chuỗi vòng ngọc trai và mang một tấm mạng che mặt cũng màu đen như người ta hay mang ở các đám tang.

- Ta có giữ chìa khóa căn chòi của anh, và cả hướng dẫn chỉ đường nữa - người phụ nữ giơ hai ngón tay khăng khiu kẹp tờ giấy và một chùm chìa khóa ra - hi vọng vợ chồng anh có một kì nghỉ tốt - bà ta nói không hề nhấn mạnh giọng điệu, cứ như đang nói chuyện với một cái máy được thu âm sẵn chứ không phải con người vậy.

- À... cảm ơn - tôi đáp, cố gắng nhận mặt người mình đang nói chuyện, nhưng sớm bỏ cuộc bởi chiếc khăn tang dày và bộ mặt của bà ta cúi gằm xuống không thể nhìn thấy, dù tôi có cảm giác kì quặc bà ta đang lén lút ngước mắt lên nhìn chằm chằm vào tôi qua lớp mạng che mặt dày kia vậy.

- Hồ Cauldron là một nơi đặc biệt, ta hi vọng hai người sẽ thích hòn đảo của ta. Ta sẽ ghé qua sau để xem tình hình hai người như thế nào - quá để ý đến sự hiện diện của người đàn bà và những vật dụng bà ta vừa đưa cho, tôi không còn nghe những gì bà ta nói.

- ... và để thăm cô vợ anh nữa - tôi giờ mới gióng tai lên, miệng không biết nói gì - ta cầu xin đấy - một cái nhìn vừa khó hiểu vừa kì quái đặt lên khuôn mặt tôi.

- À... cám ơn? - tôi lắp bắp.

Người đàn bà chầm chậm bước chân lùi lại phía sau nhường lại cho tôi con đường qua dãy hành lang hẹp, im lặng không nói một lời như hòa cùng bóng đêm, cảm tưởng như chỉ có cái đầu của bà ta - nơi không bị những mảnh vải đen phủ kín - đang trôi nổi trong không khí, dõi theo sau lưng tôi khi tôi bước đi, cảm giác giống hệt đang bị con sói rình mồi.

- Hồ Cauldron rất đặc biệt, rất nên thơ - giọng nói bà ta nhỏ dần sau tôi trong khi ánh mắt vẫn không rời, dường như có một cục băng đang đè lên ngực tôi ngăn không cho sự sống lùa vào phổi.

Những tia sáng lóe từ căn phòng chính của quán cà phê vào dãy hành lag tối sâu hun hút, tôi nắm lấy những sợi dây mỏng manh đó cố gắng kéo mình ra khỏi đáy vực đen thui. Bà già cầm cây đèn vẫn còn đấy, tôi ngạc nhiên thấy mình vui mừng vì gặp được một con người bình thường, à thì ít nhất cũng gần với người bình thường hơn so với nhân vật tôi gặp ở trong kia.

- Anh may mắn đấy chàng trai trẻ, anh rất có thể bị thương trong bóng tối - bà ta nói với giọng run run của người già khi sự sống đang từ bỏ cơ thể họ - cái này nhất định phải sửa. Ta phải nói chuyện với Marceline, căn phòng này đã thiếu ánh sáng quá lâu rồi! - tôi có cảm giác bà ta không còn nói chuyện với tôi nữa.

Tôi thở dài bực bội, nếu mẹ tôi mà còn sống thì chắc bà cũng chẳng nhiễu sự như bà già này, và tôi nói điều đó với tất cả tình yêu trên thế giới.

Giờ khi cái tôi đến để lấy đã được lấy không còn lí do gì cho tôi ở lại đây cả. Tôi vội bước ra phía cửa, vô tình va chân phải cái máy hát làm chiếc đĩa hát đang bị kẹt ở lưng chừng rơi xuống, chơi đúng bài "Coconut". Ông già ban nãy đang ngủ gật say như chết bỗng sống dậy, đập bàn đập ghế theo nhịp nhạc.

- Yeah, đúng rồi! - ông già giơ nắm đấm lên trời - bài ta ưa thích! Lâu quá không gặp, Tom - tôi cho rằng ông ta đang gọi tôi là Tom - anh có mang theo chai rượu nào theo người như trước không?

Người kiểm lâm ban nãy bắt gặp ánh mắt kỳ quái của tôi lên tiếng vội giải thích.

- Hai anh em nhà Anderson trước đây từng là ... một kiểu nghệ sĩ ở địa phương. Tôi đang áp tải họ đợi bác sĩ Hartman đến đón đi. Có tiền sử về bệnh hoang tưởng, cách đây vài ngày bọn họ lẻn khỏi viện điều trị trên hồ Cauldron.

Anh kể với tôi trước đây, anh em nhà Anderson khá nổi tiếng trong nước, đã từng đi biểu diễn ở hải ngoại. Nhưng cách đây không lâu, năm 1976, sự điên cuồng thống trị ở trang trại nhà Anderson, sau vài chai rượu tự chế, mọi thứ bỗng trở nên kì lạ. Tor và Odin cảm thấy mình như thần thánh.

Tor chạy băng qua cánh đồng, trần truồng, hò hét lung tung, trong tay cầm một cái búa, cố sức bắt lấy sấm chớp.

Odin có phần không hài hước bằng, cười không thể dứt, ngắm nghía con mắt mà mình vừa tự khoét ra.

Trong viện điều trị họ khoe rằng, ca khúc của họ có sức mạnh, thứ gì đó cổ kính lâu đời, cựa quậy sâu bên trong, đã trở lại.

Vậy đó là lí do họ gọi tôi là Tom, vậy mà tôi tưởng đó là do tính cách lập dị của người dân ở đây khi quá lâu không tiếp xúc với thế giới bên ngoài chứ. Nhưng Hartman, hừm... Hartman, Hartman... cái tên này tôi nghe ở đâu rồi nhỉ.

- Thần Sấm ơi, cho con chết xuống địa ngục đi còn hơn - tiếng phàn nàn của ông già với bộ râu rậm rạp về gu âm nhạc quái dị của người bạn đồng hành đá phăng tiềm thức tôi khỏi căn nhà suy tưởng. Tôi quyết định dẹp cái tên Hartman sang một bên, tiến thẳng về phía cửa lớn, tai tôi còn nghe thấy cô phục vụ Rose còn đang ba hoa cô ta sẽ đến khu cho thuê chòi gỗ của Stucky để tìm Alan Wake.

Trời ạ, sao mọi người không có lo chuyện của mình trước khi nhúng mũi vào riêng tư của người khác được nhỉ, tấm chân dung lớn bằng bìa các tông của tôi dựng gần cửa ra vào nở một nụ cười như muốn chế nhạo con người.

Chiếc ôtô màu đỏ của chúng tôi đỗ xịch trước quán cà phê đúng lúc cánh cửa sau tôi đóng lại, Alice mở cánh cửa ôtô cho cơ thể tôi như muốn đổ sập xuống đệm ghế êm ái. Tuy nhiên ngay sau khi rời khỏi căn nhà tràn đầy những người lạ mặt đó, sức khỏe đã ngay lập tức qua trở lại thể xác, tôi đường hoàng từ tốn ngồi xuống ghế ôtô không tỏ ra chút mềm yếu nào.

- Chiến dịch thành công, chìa khóa, và cả chỉ dẫn đường nữa - tôi giơ tay ra như đang cầm một cái cúp vô địch, vẫn còn đủ tinh thần để ném ra một câu đùa ất ơ.

- Anh hùng của lòng em - Alice cười, luôn hùa theo dù trò đùa của tôi có tệ đến mức nào, nhiều con người đến với nhau chỉ vì đầu môi câu truyện, nhưng chắc chắn không phải chúng tôi. Tôi xác định rõ ràng chúng tôi có một mối quan hệ bền chặt dựa trên nhiều nền tảng, nếu không thì chỉ với từng ấy tật xấu của tôi cũng đủ khoác lên mình một vòng bảo vệ xua đuổi tất cả đàn bà con gái xung quanh.

Chiếc xe chuyển bánh, những lời nói thân mật được thốt ra bên trong không gian chiếc xe, hai con người đó không còn đếm xỉa đến những gì xảy ra xung quanh. Và tất nhiên họ cũng không hề biết rằng chỉ khoảng chục giây sau khi họ rời khỏi, một người đàn ông xông ra từ nhà vệ sinh của quán cà phê, ta ôm ổ bụng vẫn còn chưa hết sôi, đẩy cánh cửa nhà ăn một cách thô bạo, cố gắng tuyệt vọng đuổi theo cái người vừa mới ở đây chỉ mới ít phút. Nhưng đã muộn, chiếc xe đã đi quá xa, giờ tất cả những gì người đàn ông này có thể làm là đứng giữa con đường cái, miệng hô to gọi với theo, tay trái giơ lên cao vung vẩy một thứ mà nếu nhìn kĩ chính là chìa khóa căn chòi mà đáng ra hai người khách kia phải có.

- Cái quán cà phê đó như một nhà thương điên - vợ tôi cười khúc khích trước lời nhận xét đầy khiếm nhã của tôi. Nhanh chóng, cô ấy lại chuyển sang mơ màng, bàn tay áp lên má và chống khủy tay vào bệ cửa sổ ôtô đang mở to.

- Anh có tin nổi vào mắt mình không? Nơi này đẹp quá! Sẽ là một bối cánh tuyệt vời cho một cuốn sách anh nhỉ?

- Chúng mình vẫn còn đang đi nghỉ mà - tôi nhắc nhẹ Alice, mắt không nhìn cô ấy - anh sẽ xem xét đến vấn đề đó saukhi mình về nhà, được không em?

Vợ tôi giọng ỉu xìu.
- Thôi cũng được, chúng mình sẽ nói chuyện này sau - tôi biết khi nào cô ấy không cảm thấy thoải mái, chỉ cần nghe cách cô ta nói từ "thôi cũng được" là đủ biết.

Lạy chúa, nơi này đúng là đẹp thật, địa điểm nhiều thác nước nhất ở các bang phía đông bắc, nơi duy nhất có đến bốn kiểu địa hình: biển, sông suối, rừng rậm và núi cao. Và lí do chúng tôi đến đây là để thư giãn đầu óc, chứ không phải mệt óc. Tại sao không ai hiểu cho một nhà văn như tôi cảm hứng đến từ bên trong chứ không phải chỉ cần thay đổi môi trường là được? Tôi biết rằng mọi người chỉ muốn giúp cho tôi sống tốt hơn, nhưng tôi không muốn đả động đến vấn đề đó, tôi muốn vùi đầu mình trong cát lạnh. Ngày xửa ngày xưa lắm rồi, bản thân tôi đã từng là một nhà văn thành đạt, nhưng đã là một thời gian dài, tài năng của tôi đã biến mất, như nó chưa từng ở đó. Tôi đã không thể nặn thêm ra một chữ nào trong hai năm qua, kể từ cuốn sách cuối cùng của tôi, vậy mà mọi người nghĩ chỉ cần cho tôi thời gian và không gian là tôi có thể phục hồi ư? Nghề văn không giống như làm kinh tế, tôi không thể chỉ nghỉ khoảng một ngày cho lại sức trước khi lên máy bay sang Tây Ban Nha buôn bán thuốc phiện được.

- Và giờ là bản tin thời tiết - tiếng nói đàn ông phát ra từ đài rađiô - đêm nay sẽ là một đêm không mây, cho nên bạn nào đến từ thành phố có thể sẽ muốn hướng mắt lên trời nhìn ngắm những vì sao, xem đôi mắt long lanh của chúng lấp lánh ngắm nhìn lại bạn - giọng nói chậm rãi và an ủi mà tôi nhận ra là thuộc về ông Pat Maine, người tôi gặp trên chiếc phà - con đường sẽ khá tối, nhưng đừng lo, chúng sẽ thắp sáng đường bạn đi - một bài hát du dương được phát sau đó xóa nhòa hết mọi ưu phiền và mệt mỏi vừa có trong tôi.

Chiếc bản đồ chỉ dẫn khá đơn giản, và không mất nhiều thời gian chúng tôi đã đến được nơi cần tới, dù sự im lặng giữa tôi và vợ đã khiến cho cảm giác thời gian bị kéo dài ra một chút. Nhưng sự băng lạnh ấy cũng không tồn tại được lâu trước thiên nhiên nồng hậu, ngay khi bước chân xuống khỏi xe, im lặng đã bị thay thế bằng những tràng suýt xoa không thành lời, tôi nhìn vợ tôi, và vợ tôi nhìn lại tôi, chúng tôi đều biết mình đã đến thiên đường.

- Wahhh... nó thật tuyệt diệu anh ạ - Alice lên tiếng.

- Ừ thì cũng được - tôi có tỏ vẻ không ấn tượng, trong khi đôi mắt không rời và hơi thở chầm chậm choáng ngợp đã chỉ ra tôi là một thằng nói dối như thế nào.

Trước mặt chúng tôi, căn nhà nhỏ bằng gỗ xinh xắn tọa lạc trên hòn đảo nổi giữa mặt hồ rộng lớn. Những con gió thổi nhè nhẹ như đang vuốt ve lên gò má, cuộn trong đó mùi hương của cỏ dại và hương đất quện lại, từng cơn từng cơn một gợn xuống mặt hồ xanh biếc, nước trong như gương những ngọn sóng lăn tăn nhẹ trôi, dịu dàng nổi lên, uyển chuyển đổi chiều như bàn tay con gái ngây thơ trong trắng. Căn nhà gỗ trên hòn đảo không lớn lắm, mái nhọn, nhưng màu gỗ nâu đậm làm nổi lên một cột ống khói làm bằng gạch đỏ son như vừa được xây, bao xung quanh ngôi nhà là cỏ cây thấp cao không theo thứ tự, lá đỏ, lá xanh và vàng xen lẫn nhau trong ánh nắng mùa thu. Một con đường duy nhất trải trước mắt chúng tôi, để tới đảo là qua một cây cầu treo bằng gỗ trông cổ kính, kết lại bằng thân gỗ tươi và dây leo. Hòn đảo lọt thỏm trong những sườn núi bao quanh nó, trong muôn ngàn cỏ cây và trong những sừng sững núi cao đầu bạc, nơi không có một vết tích bất kì của thứ phi tự nhiên nào trong tầm mắt, kể cả ngôi nhà như được làm thủ công bằng tay, trông vụng về nhưng thật thà, đáng yêu.

- Em đi trước đi, đừng lo, anh sẽ để mình vào được nhà trước khi trời tối, và anh con mang theo cái đèn pin nữa - câu nói của tôi làm Alice thức tỉnh khỏi giấc mộng êm đềm, cô ấy vòng ra sau xe lấy hành lý.

- Ừ em biết, em không sao.

Alice có một chứng bệnh, chứng sợ hãi bóng tối. Tôi tuy cảm thấy khá khó hiểu khi ngày nay nhiều thứ yếu kém của con người cũng được cụ thể hóa, gọi là "bệnh" được. Nhưng không phải với Alice, tôi vẫn bảo vệ cô ấy hết sức có thể dù nó có vô lí đến dường nào, đó là thứ ta làm cho người ta yêu quý, bảo vệ họ dù đó là đúng hay sai, dù nó có biến ta thành người anh hùng hay kẻ bạo chúa đi chăng nữa.

Tôi nhanh chân chạy lên cầu trước, Alice cầm hành lí đi theo sau. Tôi phải vào căn chòi để chắc chắn nó có đèn đóm đủ cả, trước khi mặt trời bị hàm răng nhấp nhô của những ngọn núi nuốt chửng.

Căn chòi gỗ theo chiều cao tôi ước tính chỉ có hai tầng, hông bên phải của ngôi nhà quay đúng về hướng cây cầu, về hướng tôi đứng. Phía đó trên khoảng gác hai có hai chiếc cửa sổ tròn trĩnh đối xứng ở hai bên của cột khói lò sưởi cũng tọa lạc bên hông phải ngôi nhà. Đột nhiên tính trẻ con trong tôi nổi lên, rõ ràng trước mắt tôi là khuôn mặt tức cười khổng lồ: mái nhọn là một cái mũ, hai cửa sổ tròn hai con mắt, cột khói là sống mũi và đống củi chất cao phía dưới như cái răng khểng. Một ngôi nhà mơ ước đúng nghĩa trong những bức tranh của bọn trẻ mẫu giáo, tôi tự nhủ thầm mình: "Ha! Ta đúng là hài hước".

Chiếc chìa khóa trượt vào nắm đấm cửa dễ dàng và chỉ cần một cái lắc nhẹ không chủ ý, khóa cửa đã được bật mở. Tôi bước vào bên trong nhà chỉ để hầu như chẳng thấy gì cả bởi tối hù, điện đóm đã bị cắt khi chưa có người vào ở. Tiếng tanh tách vang lên và đèn pin trong tay tôi vụt sáng. Qua ánh đèn nhỏ bé nó phát ra, tôi có thể thấy nội thất trong ngôi nhà thuộc về những năm 60, có khi còn cổ hơn, những chiếc bàn, chiếc ghế được làm thủ công, căn bếp nơi trước kia dùng củi nhóm có đặt một chiếc bếp ga han gỉ, rem và thảm trang trí cầu kì với những màu sắc tối.

Xem ra thứ duy nhất có vẻ đỡ lỗi mốt hơn một tí trong ngôi nhà này là tủ sách nhỏ cao đến thắt lưng làm bằng gỗ ép trống rỗng. Tuy nhiên, yên vị trên nó là một chiếc hộp bằng bìa, giống như hộp đựng giày, có chứa vài thứ trông như giấy tờ. Tôi tiến đến gần xem, có trời mới biết nếu có một tờ giấy nội quy ở trong đống đấy thì nó sẽ đặt ra những điều khoản oái oăm gì mà tôi phải tuân theo.

Nhưng không, không có một giấy tờ qui định nào hết, thay vào đó, chỉ là vài cuốn sách của một tác giả tôi chưa từng nghe tên, "Thomas Zane", và còn vài tờ giấy khác mà viết lên đó những dòng chữ giống như thơ.

Li dị tôi khỏi sự thật bình thường
Gào thét, câm lặng bóng tối
Sa vào trong bức tranh yếu đuối
Tôi chết chìm, trong không gian đen vô định
Ánh sáng chưa từng, cào xé
Đến miền đất sâu thẳm này
Tôi mù quáng, nhưng không thứ gì tệ
Hơn cái bóng
Tiềm thức kêu gào nơi đây
Một mình trong cơn tỉnh giấc mộng
Gỡ rối bời cuộn chỉ lí trí.


(Divorce me from all that’s sane
Screaming, mute darkness
Descend on this frail frame
I drown in fathomless black space
Light never scratched
The depths of this domain
I see not; yet nothing could be worse
Than the shades
My mind calls herein
Alone at my own wake
The unraveling of reason’s skein)


Không một chữ nào trong đoạn thơ này mà tôi hiểu cả.

Maybe Tomorrow is a Better Day - Poets of the Fall
[video=youtube;-WYOX4L1MtQ]http://www.youtube.com/watch?v=-WYOX4L1MtQ[/video]
 
Chỉnh sửa cuối:
Mình thật sự rất thix cách bạn mô tả, nhưng mà ban đầu mình thấy bên ngoài tiêu đề ghi là Fiction, minh ko biết tưởng do bạn tưởng tượng ra viết hay từ tiểu thuyết nào. Lên gg mới biết là game:)). Chờ chap sau nhé
 
Hix, mình chỉ nhờ MOD chuyển hộ tiêu đề của mình thành "Alan Wake - A Psychological Thriller" thôi, ai ngờ ông ấy cho cả chữ "Fiction" vào luôn, chứ game này nổi tiếng mình đoán ai cũng biết rồi.

Nhưng mà bạn yên tâm, mình chỉ lấy xương sống của nó để làm nền tảng, còn lại các đoạn miêu tả và các tình huống phát sinh sau này nữa, tất cả đều do mình tự làm, chứ truyện dài mà chỉ có bắn súng đùng đùng thì chán chết.

Mà tiện thể nói luôn, mình viết nốt tuần này rồi tạm thời nghỉ, sắp thi cuối học kì rồi, đợi đến Tết mình tăng tốc gấp đôi viết bù lại cho bạn.
 
Mình ko rành game, rất ít chơi game :D nên ko biết. Ok mình sẽ đợi bạn.
 
Continue :8cool_cry:

Không một chữ nào trong đoạn thơ này mà tôi hiểu cả, và cái tên "Thomas Zane" tôi cũng chưa từng được nghe nhắc tới lần nào trong các diễn đàn và hội thảo trao đổi văn học từng tham dự, chưa kể các nhà thơ có thói quen dùng nghệ danh.

Ấn tượng không sâu đậm của tôi về đoạn thơ nhanh chóng bằng những tiếng động lạ, có những tiếng cọt kẹt của sàn gỗ trên gác hai. Nếu như bình thường như lúc tôi còn ở trong căn hộ ở New York, tôi đã mặc kệ và quay lại công việc đang làm dở, cho dù trộm cắp có khuân cả nhà đi nữa chưa chắc tôi đã để ý. Có thứ gì khác biệt nơi đây, không chỉ là do sự lạ lẫm của vùng đất mới, tôi chỉ có thể cho rằng bị trùm lấy bởi bóng tối đặc quánh xung quanh trong ngôi nhà đã làm cho tinh thần cảnh giác thông thường của tôi bị nâng lên quá mức. Tôi bước lên chiếc cầu thang gỗ nhỏ và cũ kĩ dẫn lên trên lầu.

- Xin chào, có ai ở đây không?

Cất lên những từ ngữ xã giao thì thầm, tôi nghĩ sự lịch sự vớ vẩn này không gây được ấn tượng gì lắm nếu ở trong ngôi nhà chỉ là một bà lao công già khụ đang quét dọn nhà cửa, nhưng đó sẽ là một sự giúp đỡ lớn nếu nhân vật khách mời của tôi là một tên trộm đồ, hoặc thậm chí một tên giết người hàng loạt đang trú ẩn. Một lần nữa cái ý thích muốn cường điệu hóa cuộc sống chán ngắt lại choáng ngợp tâm trí tôi.

Có thể nói là khá thất vọng, chẳng có gì trên tầng trên ngôi nhà cả, không giống thứ tôi chờ đợi cho lắm. Tầng hai của ngôi nhà chật hẹp,chỉ đủ để bố trí hai gian phòng. Nơi tôi vào đầu tiên có trần nhà thấp, giữa phòng đơn sơ chỉ bố trí một chiếc giường đôi phủ ga trắng tinh, cùng một cái bàn nhỏ, đèn ngủ và vài thứ linh tinh khác. Tôi ngẫm lại thói quen xem lung tung các kênh phim truyện buổi tối của mình, và bỗng cảm thấy nhớ da diết cái tivi trong khi chẳng có cái nào trong căn nhà này cả. Nhưng nghĩ lại thì có lẽ Alice sẽ không thấy bằng lòng lắm nếu tôi ở lì ở nhà suốt ngày ôm lấy cái tivi như tôi đã làm trong thời gian dài qua.

Tiếp tục hành trình khám phá của tôi, cánh cửa còn lại cuối cùng phủ đầy bụi và thấm mạch máu thời gian hơn bất cứ vật thể nào khác trong ngôi nhà này. Tiếng cửa kêu lên cót két khi tôi dùng tay đẩy vào, không có gì nhiều thậm chí còn đơn sơ hơn so với căn phòng ngù ở đối diện, một bộ bàn ghế làm việc bằng gỗ nhỏ, cũ kĩ và chẳng còn gì khác để miêu tả, nhất là khi so với một cái tượng cú to lớn được khắc chi tiết bằng gỗ được treo phía trên nó. Những hạt bụi lấp lánh trôi lừ đừ qua mặt bàn, được thắp ánh lấp lánh bởi luồng sáng chiều chiếu qua hai khung cửa sổ tròn, tôi tiến lại gần để quan sát cái bàn được kĩ hơn.

Tia sáng ấm áp bỗng lóe lên, sáng chói và khó chịu, chiếu thẳng vào mắt tôi. Trong phút chốc tôi tưởng tượng mắt mình đã bị một tia lazer nóng bỏng đốt cháy, một khi ngay lập tức sau khi trải nghiệm những tia chớp giật thình lình, tôi không cảm thấy gì ngoài bóng tối, trong mắt tôi, trong lòng bàn tay tôi, chảy trong não bộ của tôi.

Những luồng gió rít mạnh, giận dữ như thể có sự sống.

Một người đàn bà mang khuôn mặt đưa đám, thương tiếc cho những thứ bà ta muốn được hưởng.

Một cõi sương mù mênh mông đen kịt, một đại dương bóng tối bao quanh tôi, cơ thể cảm giác như đang bồng bềnh trôi nổi. Trong thoáng chốc, cảm giác bức bối của cơn ác mộng tôi có trên chiếc phà quay trở lại không rụt rè.

Lạy chúa ơi! Tôi lấy tay phải ôm lấy đầu mình, một cơn đau đầu không báo trước đã làm tôi mất phương hướng. Tôi lắc nhẹ cái sọ suýt nứt vỡ của mình, chịu đựng cơn đau đang dịu dần, ngẩng lên và phát hiện ra mình đã không còn đứng vững trên hai chân nữa, một tay tôi đã phải tì vào chiếc bàn gỗ, quệt đi lớp bụi dày như mảng sơn chưa khô. Đáng lẽ tôi không nên bỏ lỡ cốc cà phê buổi sáng nay.

Một khi đã đứng vững lại được trên hai chân, tôi cố gắng ổn định tinh thần nhớ lại xem tôi vừa mới trải nghiệm những gì. Nhưng vô ích, kí ức tạm thời của tôi giờ giống như bức tranh sơn dầu ngấm nước, nhòe nhoẹt và vô nghĩa cho dù tôi biết chắc vừa đây thôi tôi đã thấy một thứ gì đó quen thuộc, một thứ gì đó quan trọng này đã trống rỗng, vài phút trước tôi đã cảm thấy gì đó, và giờ tôi không.

Không quan trọng! Tôi nghĩ thầm. Trời phù hộ cho tôi có một trí tưởng tượng phong phú, đồng thời là sự nguyền rủa. Bình thường ngày trước tôi luôn có một cuốn sổ tay bên mình, không phải chỉ để ghi lại giấc mơ của tôi, mà nhiều khi những ý tưởng tuyệt vời chỉ nảy ra khi tôi nằm thao thức trên giường, hoặc lúc trong cơn choạng vạng của nửa tỉnh nửa mê. Không còn nữa, trong hai năm nay đầu óc tôi giống như chiếc giếng khô trong hoang mạc khô cằn, cuốn sổ ấy cũng đã thất lạc tận chân trời nào rồi. Nhưng những hình ảnh, kí ức này, và giấc mơ kia, nó cảm giác thực, quá thực khiến tôi cảm thấy buồn nôn,

- Alan! Anh làm gì lâu thế! - tôi nghe thấy giọng vợ tôi vọng lên từ bên ngoài ngôi nhà - cầu giao ở phía bên ngoài ngôi nhà cơ mà!

Cảm thấy một chút ngớ ngẩn, tôi lững thững bước chân xuống, gạt cái cầu giao khuất ở một cái chòi gỗ nhỏ phía bên ngoài, và thế là ánh sáng hiền hòa, sự sống của máy móc tran hòa bên trong ngôi nhà nhỏ.

Còng lưng uốn gối, sau một lúc cố gắng, tôi bỏ cuộc bỏ ra ngoài ngôi nhà ngắm trời đất, để mặc cô vợ tôi vật lộn với đồ đạc trong nhà và đến một nửa đống quần áo tôi chưa cất hết. Rảo bước ra những bụi cây và hoa mọc rải rác trên hòn đảo, tôi hít vào thở ra cái không khí trong lành của buổi gần đêm khi mặt trời giờ chỉ còn lấp ló khuôn mặt nhỏ bé của nó qua đường chân trời.

Tôi đã từng thắc mắc tại sao hòn đảo này lại mang tên Bird's Leg - cái tên được ghi trên tấm bảng trên đường chúng tôi đi tới nơi này, cho đến khi tôi nhận ra dưới chân tôi, mảnh nơi tôi đứng có hình tam giác nhọn, với ba mô đất nhô ra từ đáy của nó, thực sự không khác gì một dấu chân chim.

Đây quả là một nơi tuyệt đẹp, tôi không còn cần phải mô tả nó thêm lời nào nữa. Tôi tự nhủ với bản thân mình, rằng tôi có thể nghỉ ngơi nơi đây - có thể yên giấc nơi đây - và quên đi mọi phiền muộn của công việc. Tôi nhìn xuống một gốc cây trần trụi, dấu khắc bằng dao đã mờ nhạt bởi bụi thời gian vô hình, vẽ lên một trái tim nhỏ, bên trong có những chữ khắc ngoằn nghèo và thô sơ như nét bút trẻ con "T + B". Có vẻ nơi đây đã từng chan chứa một chuyện tình đẹp, và giờ đây nó có thể lại như thế một lần nữa. Tôi nghĩ đây sẽ là bắt đầu thời gian hạnh phúc của chúng tôi.

Tới giờ mọi thứ hoàn hảo, một vài hạt bụi tinh thần lẩn quất trong mắt tôi làm cái trỉ nghiệm của tôi không được toàn vẹn. Xa xôi ở tít bên kia ngọn núi, tôi có thể nhìn thấy rõ viện điều trị Cauldron tọa lạc ép theo sườn dốc phía trước, giờ đã bật hết đèn đóm lên, trông sáng như quả bí ngô trong lễ Hallowen. Và cái gã khó ưa Hartman, tôi không nhớ rõ ràng ngay khi vừa mới nghe nói ở quán cà phê, nhưng những ấn tượng không chút thoải mái đã nhắc tôi nhớ lại sau đó.

Cái gã khó ưa Hartman, vài tháng trước khi vụ ẩu đả của tôi với phóng viên nhiếp ảnh xảy ra, đã gọi cho tôi bằng số nhà riêng tới tận nơi tôi ở, không biết cách nào gã biết được số đó. Nhấc điện thoại lên trả lời gã quả là một niềm hối hận lớn, suốt 15 phút tôi ngồi nghe gã thao thao bất tuyệt, gã nói rằng tiền sử ngược đãi bản thân bằng các chất cồn của tôi kết hợp với chứng mất ngủ kéo dài dẫn đến hậu quả khiến tôi cực kì dễ nhạy cảm với sự tức giận, và rằng nó không chỉ những gây ra vụ ẩu đả vừa rồi, mà gã chắc chắn cho rằng còn ảnh hưởng xấu đến cuộc sống hôn nhân gia đình của tôi nữa. Tôi giận tím mặt, đếch có vấn đề gì với gia đình của tôi cả, tôi hạnh phúc và Alice cũng hạnh phúc, bàn tay tôi mạnh bạo dập máy trong khi gã Hartman còn đang ra lời mời tôi đến trung tâm của hắn chữa trị, hắn nói chuyện với tôi như thể tôi bị tâm thần.

Alice chọn nơi này làm địa điểm nghỉ quả là sự trùng hợp ngẫu nhiên, đến tôi còn không biết đến cái viện điều trị chết tiệt của hắn nằm ở nơi nào, mỗi lần nhấc máy lên nghe thấy giọng hắn là tôi lại dập máy ngay, và vài tuần sau tôi đã phải đổi số máy bàn, cho dù sau đó hắn vẫn gửi thư đến cho tôi đều đặn hằng tuần. Tôi đã định nói cho Alice biết ngay sau khi tôi nhớ ra, nhưng nghĩ lại thì tôi không muốn vì chút bất tiện của mình phá hỏng không khí kì nghỉ.

Mặc kệ! Tôi qua người lại với cái tòa nhà kia, rảo bước vào lại căn nhà gỗ. Ra khỏi tầm mắt, ra khỏi suy nghĩ, chắc giờ Alice đã dọn dẹp xong nhà cửa, tôi có thể an toàn bước vào trong nhà nằm ườn trên chiếc đi-văng hoắc trên giường ngủ một lúc, sau đó tôi sẽ rủ Alice ra ngoài trời ngắm sao, phải tận hưởng từng đồng tiền chứ!

Cánh cửa gỗ hé mở để lọt ánh sáng và không khí ấm áp bên trong ngôi nhà trườn ra ngoài. Tôi nhìn ngắm lại nội thất vừa được bố trí lại, là một nhà nhiếp ảnh, Alice có một con mắt rất tinh tế. Căn phòng giờ đây trông rất đẹp mắt và ấm cúng, không cầu kì, vợ tôi chỉ cần kéo lại vài tấm màn, cho thêm một vài tấm vải trang trí, bày ra một con ngựa gỗ bập bênh đồ chơi từ kho, di chuyển một vài đồ đạc, rất đơn giản nhưng cô ấy đã làm thay đổi hoàn toàn trải nghiệm. Đó là một trong những điểm tôi yêu ở cô ấy, luôn nhìn thấy cái đẹp từ những thứ đơn sơ, giản dị nhất.

Nhưng có thứ gì đó còn thiếu, tôi không thấy sự hiện diện của Alice đâu cả.

- Alice! - tôi lên tiếng gọi.

Tôi chú ý nhìn thấy một cánh cửa dẫn ra sau nhà mà trước tôi không để ý. Tiến lại gần, tôi nhòm qua lớp cửa kính của nó. Cảnh vật tối lờ mờ mà tôi chỉ có thể thấy duy nhất có một cầu thang bằng gỗ dẫn xuống mặt hồ tối đen.

Cánh cửa đóng hờ đã chơi khăm tôi, Alice muôn đời cũng không dám ra ngoài trong buổi tối như thế này đâu.

- Alice!! Em yêu! - tôi gọi to hơn.

- Em ở trên này - tiếng vọng ra từ trên gác - trên phòng ngủ ấy, lên đây đi em có bất ngờ cho anh đấy!

Như đứa trẻ con sắp được quà, tôi bước chân lên cầu thang nay đã được quét bụi sạch sẽ.

Mở cánh cửa căn phòng ngủ ra, tôi bắt gặp Alice đang nằm soãi trên chiếc giường, căn phòng được sửa sang giờ trông rất lãng mạn, và cả vợ tôi cũng vậy, cô ta mặc một cái áo phông chật ôm sát đường cong cơ thể, mặc một cái quần trong ngắn để lộ cập đùi thanh mảnh trắng trẻo khỏe khuắn, tóc xõa ra và trong tay đang sửa sang lại chiếc gối.

Bằng cách nào đó tôi có thể đoán trước được món quà bất ngờ của tôi là gì. Nụ cười nở ra ranh mãnh, tôi nựng yêu Alice.

- Ái chà! Chào cô gái xinh đẹp.

- Không Alan. Em không phải món quà bất ngờ của anh, anh sang phòng làm việc xem đi.

Hơi ỉu xìu, tôi quay bước đi, thề với trời đất tôi có thể nghe thấy tiếng cười rúc rích cảu Alice sau lưng tôi cho dù không có tiếng động nào được phát ra cả.

Cánh cửa căn phòng bật mở, nơi đây được vợ tôi ít trang trí nhất, mọi thứ gần như đều ở vị trí cũ, ngoại trừ lớp bụi đã được quét sạch. Nhưng có một thứ được đặt trên mặt bàn mà trước đó nó không có ở đó, và đáng lẽ nó không nên tồn tại ở đó.

- Ngạc nhiên chưa! - vợ tôi đi ra từ phía sau tôi reo lên.

Nén nỗi tức giận đang bùng nổ trong lòng, tôi cố gắng nói bằng cái giọng bình tĩnh nhất mà tôi có thể tạo ra, mà khi phát ra giống như người khác đang nói chứ không phải tôi vậy.

- Alice. Cái gì đây? - tôi chống tay xuống mặt bàn khi cảm xúc của tôi đang ngứa ngáy muốn thoát ra,

- Chính là cái máy đánh chữ anh dùng ở nhà đấy! Em phải thú nhận một chút, em nghĩ là anh có thể viết được thêm tác phẩm ở nơi này, rằng sự thay đổi của khung cảnh xung quanh sẽ giúp anh vượt qua...

- CHÚA ƠI, ALICE! - tôi ngắt lời cô ta, gần như hét lên - tất cả mọi người... đến cả em mà cũng...

- Hey, hey, hey... cứ nghe em nói đã - nghe giọng điệu cô ta thì chắc cô ta cũng biết tôi bực tức đến mức nào - ở đây có một bác sĩ địa phương, Bác sĩ Hartman. Em đã đọc một cuốn sách của ông ấy. Hartman có một phòng mạch tư ở đây, và ông ấy có chuyên môn điều trị các nghệ sĩ, em nghĩ...

- Em nghĩ sao hả Alice? - tôi sửng cồ, sẵn sàng gây gổ - rằng em có thể lợi dụng tấm lòng của tôi, lợi dụng chuyến đi này tôi sắp đặt cho hai chúng ta? Đưa tôi vào một cái bẫy mà tôi không cách nào thoát ra được, tống tôi vào một nhà thương điên nào đó cho khất mắt? Có phải cô đang nghĩ thế phải không?

Vợ tôi hoảng hồn, sửng sốt nói.

- Không! Tất nhiên tuyệt đối không phải như vậy rồi! Sao anh lại nghĩ như thế, anh thử tự nghe lại những gì mình đang nói đi.

- Sao? Cô nghe không lọt tai hả? Nghe giống cái gì? Nghe giống thằng điên phải không? Đúng rồi đấy, tôi đang điên đây, ai đời tôi lại để cho vợ mình xỏ mũi từ đầu đến cuối cơ chứ. Thế cái thái độ buồn rầu của cô ở nhà cũng là cô lừa dối tôi đấy hả?

Giọng Alice ngắt đoạn, nghẹn ngào như sắp khóc.

- Alan, em xin anh. Anh đừng hành động trẻ con như vậy nữa.

- Cô bảo tôi trẻ con hả?? Sao cô không bảo tôi là đồ thần kinh luôn đi, sao cô phải tốn công bày đặt thế này làm gì? Cô chỉ cần thuê một cái xe thùng và vài thằng đô con, tống tôi vào đó và cô sẽ không phải bao giờ nhìn thấy tôi nữa kia mà?

- Alan, xin anh để em giải thích...

Ánh đèn trong căn nhà đột nhiên vụt tắt, toàn bộ. Một cơn quá tải điện, tôi không quan tâm lắm, một lúc sẽ có lại thôi. Một phần trong tôi cảm thấy thích thú khi Alice ở trong bóng tối, chịu sự trừng phạt.

- Alan? - giọng cô ta hơi bối rối và sợ hãi.

Bên trong bóng đêm, có một nhân vật bí ẩn vừa xuất hiện, một người thứ ba mà sự hiện diện của nó không ai trong số đôi nam nữ đang to tiếng kia biết cả. Nó lẻn vào căn nhà, trườn trên cầu thang, đứng lên một cách im lặng không cần đoái hoài.

Ta đã tới, và giờ là lúc ta thực hiện mục đích của ta - một người phụ nữ đứng lặng yên, nhìn chòng chọc vào Alice - ta đã có thứ ta muốn trong móng vuốt, và giờ ta chỉ cần biết phải sử dụng nó thế nào cho đúng cách.

Ta sẽ không sử dụng anh như ta đã sử dụng Tom đâu, Alan. Con người yếu đuối chỉ cần có hương mật ngọt là sẽ sa vào chết như ruồi. Phải, đúng thế, ta sẽ phải cho anh ta hi vọng, ta sẽ phải lợi dụng cô ta, và ta đã có sẵn một kế hoạch hoàn hảo để tiếp đón cô đấy. Cô bé.

Quỷ dữ trừng phạt ta, ta đã đợi ngày này quá lâu rồi.

Những ánh đèn bỗng sáng choang trở lại, Alice vẫn đứng trước mặt tôi không động đậy, nước mắt lưng tròng và hai tay ôm lấy người lộ vẻ sợ hãi. Khoảng khắc im lặng hiếm hoi và ngắn ngủi khiến đầu óc tôi tỉnh táo thêm một chút, và tôi không thể có cách nào trút giận lên cô ta được nữa khi cô ta đang ở trong tình trạng như thế này.

- Không! Đừng có giải thích gì hết! Anh không muốn nghe thêm một lời nào nữa từ em cả! Khỉ thật, Alice!

Tôi sấn sổ bước ra khỏi căn phòng, vẫn không quên trước đó phải va vào vai Alice một cái mạnh, báo hiệu cho cô ta biết tôi vẫn còn rất giận dữ chứ chưa nguôi ngoài đâu. Tôi bước đi để lại vợ tôi dõi theo sau lưng, cúi sầm mặt xuống và lấy tay gạt những dòng nước mắt tủi thân.

- Đị* mẹ! Đị* mẹ nó!!

Tôi đóng cánh cửa cái rầm, bước ra sân vườn bên ngoài ngôi nhà. Vẫn chưa thỏa cơn tức, tôi hoa chân múa tay đá cát đá sỏi, một hòn đá văng vào cái xô sắt khiến nó đổ nhào, phát ra những tiếng loẻng xoẻng. Biết rằng Alice sẽ không dám theo tôi vào đêm tối, tôi đâm thẳng vào không gian vô định trước mắt, tôi cần một thời gian riêng tư để suy nghĩ lại cho thâu suốt.

Tôi tiếp tục tiến về cây cầu gỗ, không cần biết mình đi đâu chỉ cần biết phải tránh xa nơi này càng xa càng tốt, ngôi nhà hạnh phúc cái đé* gì chứ? Không còn người để chút, sự tức giận trong tôi đang nhảy múa loạn xạ, và tôi chẳng còn cách nào khác ngoài hành hạ những vật vô chi vô giác.

Bước trên chiếc cầu treo gỗ kêu cọt kẹt, nghe thật nhức nhối, nóng cả ruột, tôi cầm lấy một bên thành cầu được kết bằng dây leo rung lắc thật mạnh như đang bóp cổ ai đó, chân tôi đá vào mặt cầu hờ hững vô thức như ngã nhào vào không khí loãng.

Một kết nối lỏng của sàn cầu nhảy ra chắn giữa đường cơn tức giận đang đạt đỉnh của tôi. Một thanh gỗ bị tuột ra, rơi xuống mặt nước đen ngòm đặc sệt, chân tay tôi bị hụt đà và tôi phải vịn cả người vào thành cầu mới lấy lại được thăng bằng. Bỗng dưng cảm thấy tinh thần kiệt quệ, tôi mất hết cả hứng ẩu đả với tự nhiên. Giờ nhìn lại xung quang chỉ còn tôi với màn đêm vô tận, không khí lạnh lững lờ uốn éo xung quanh, xua tan ảo tưởng về một kí ức ấm áp mới đây và tôi vừa có.

Tôi rút chiếc đèn pin từ túi áo bên phải ra, ánh sáng của ngọn đèn nhỏ như mặt trời soi sáng vào bên trong hộp sọ của tôi đang chứa chất đầy sấm chớp và nham thạch. Tôi bắt đầu chậm lại, từ tốn cúi người dựa vào thành cầu, hạ bớt dần cái khí nóng đang sôi sục trong người tôi đi, thở một hơi rõ dài và thê lương.

Đây là cách cơ thể tôi làm việc, khi tôi tập trung vào hành động thì suy nghĩ phải nông cạn, và khi tôi quá mệt mỏi để làm gì nữa thì trí óc tôi sáng lên như một cái bóng đèn 100 wat. Chúa ơi, thật là một mớ lộn xộn tôi đã gây ra trong căn nhà kia, đối với Alice. Tôi cảm thấy giống như có ai cầm tay cầm chân tôi hành động, tuy vậy những gì tôi nói ra, thực sự là tôi cố ý từng chữ một, ít ra là trong khoảng khắc đó, không thể ngụy biện. Tôi đã có thể nghe cô ấy giải thích. Sao tôi không thể chịu nghe cô ấy giải thích? Tại sao khả năng nổi bật duy nhất của tôi chỉ là làm tổn thương đến số người ít ỏi còn lại xung quanh còn quan tâm đến mình? Miệng phát ra những tiếng cười chua cay, mỉa mai bản thân. Vậy tôi chỉ là thằng trẻ con - đúng như lời cô ta nói - cho rằng mọi thứ xung quanh trái đất đều quay quanh quỹ đạo của mình. Vợ tôi có lẽ cũng chẳng có quan tâm đến việc tôi có còn viết văn được nữa hay không, cô ấy chỉ cảm thấy mệt mỏi với việc phải dọn dẹp và chịu đựng những thứ đặc sản đái mà tôi văng ra, rằng cô ta chỉ muốn một cuộc sống gia đình tốt đẹp hơn nữa mà thôi. Tại sao không một lần nào trong đời tôi có thể dẹp cái tính tự phụ ấu trĩ của mình sang một bên để mang lại một chút tốt đẹp cho những người đã yêu quý và hi sinh vì tôi cơ chứ?

Khi không còn bất cứ thứ gì để chút giận nữa, sự giận dữ của tôi thay hình đổi dạng thành sự hối tiếc - mang hình dạng đẹp đẽ hơn nhưng tính chất thì vẫn thế - và mục tiêu chính để hành hạ chuyển thành cơ thể và thân xác của chính mình. Trời ạ, tôi đã một tay phá hủy chuyến du lịch hoàn hảo và hiếm có, và giờ thì tôi quá hèn hạ để đối mặt với hậu quả của nó gây ra. Tôi không dám đi xa thêm một bước nào nữa, nhưng cái tính kiêu hãnh của trẻ con ngăn không cho tôi quay lại ngôi nhà nhìn vào mắt Alice. Chúa ơi, tôi khát quá, giá như chỉ cần một chai Whisky hay bất cứ thứ gì có cồn ở đây là tôi sẵn sàng tu ừng ực, hi vọng khi tới sáng tôi thức dậy với cơn đau đầu khủng khiếp, tôi thấy thân mình lê la ở một vỉa hè hay trong công viên ở thành phố New York, và những thứ vừa xảy ra chỉ để lại ấn tượng rêu cũ như phải cách đây vài năm rồi vậy.

Giờ cái tôi chỉ có thể làm là đứng yên như tượng ở nơi đây, cảm thấy cái cách thời gian trôi qua chậm giãi thật đáng ghét.

- Alan?

Thình lình, mọi ánh điện tắt ngóm, tôi có thể nghe thấy tiếng Alice nói vọng xuống từ ngôi nhà, tiếng nói vụt lên rồi tắt ngấm đi như bị một bàn tay chụp lại.

- Alice? - tôi cảm thấy hơi lo ngại.

- ALAN! - có sự kinh hãi bật ngửa ra trong tiếng hét của Alice.

- ALAN! KHÔNG! KHÔNG!!

- Alice! - kệ xác cái lòng tự trọng đáng nguyền rủa, cô ấy đang cần tôi gấp, và tôi cần phải đến bên cô ấy ngay.

Căn nhà gỗ đã chìm trong bóng tối, mọi ánh sáng đã tắt. Tôi chạy nước rút về phía ngôi nhà, ánh đèn pin quệt đi quệt lại trên mặt đất.

- Alan! Alan! Anh đâu rồi! CỨU!

- Alice! Anh đang tới đây! Không sao đâu! Anh đang đến đây! - tôi hét lên hi vọng cô ấy nghe thấy để yên lòng, và hi vọng những chuyện đang xảy ra không phải là lỗi tại tôi.

Nhưng tôi thấy những thứ khủng khiếp xảy ra.

Tôi nghe thấy trước khi nhìn thấy chúng, sà xuống từ bầu trời đêm không xác định và kêu ré lên khi chúng tiến đến.

Tôi xoay người né tránh vừa kịp lúc trước kia một đám đặc quánh đâm thẳng vào người. Trong một khoảng khắc, tôi nhìn trừng trừng vào hàng ngàn con ngươi chết chóc, những viên ngọc trai đen cuồn cuộn bên trong bóng tối.

Tôi giơ đèn pin lên, và đàn quạ - hay bất cứ con vật gì - nổ ra những đường chỉ sáng như pháo hoa. Lông chim cháy, biến thành tro. Tôi không thể nghe thấy tiếng sợ hãi của mình bên dưới dày đặc sự tối tăm của chúng.

Nhưng tôi vẫn giữ tốc độ đều, tính mạng Alice giờ quan trọng hơn cả. Cánh của gỗ đã ở ngay trước mặt.

- Không! Alan! CỨU EMMMM...

Tôi cố hết sức với đến nắm đấm cánh cửa nhanh hết mức có thể, cảm thấy cánh tay mình yếu đuối, vội vàng đẩy tung cánh cửa vào.

- ALANN...AAAA...

Không thấy người, và tiếng thét thất thanh đã vắt kiệt máu khỏi trái tim tôi. Tiếng đồ gỗ bị nát vụn, tôi nhìn ra cánh cửa dẫn ra sau nhà, cửa đã bật mở, và lan can của nó đã bị gãy giống như một vật lớn bị ném qua nó xuống hồ.

Mau trong tiến tới cho lan can, tôi chiếu đèn xuống mặt hồ xa xăm kiểm tra, và nhanh chóng tôi thấy được thứ tôi tìm, tìm được thứ tôi sợ phải thấy.

- Ôi, không!

Một đám tóc sáng màu đang chìm dần xuống đáy hồ, bị nước đen tối nuốt dần dần khỏi tầm mắt.

Tôi phải cứu Alice ngay. Không chần chừ, tôi nhún chân, hớp lấy hơi thở, uốn người lao thẳng xuống hồ nước không xác định.

Và không còn gì nữa. Mọi thứ cứ tối đen như không bao giờ dứt, như mang một sự sống kinh dị vĩnh cửu.

Tôi thoáng thấy những chữ cái, mực đen, khoảng trắng ngà trống rỗng, gặp một người lạ thân quen. Một giọng nói phụ nữ, và một giọng nói khác nữa.

- Làm tiếp đi...

- Alan... TỈNH DẬY...

Đôi mắt tôi mở to ra khi sở hữu lại sự tồn tại của mình, và cả cơn đau đầu nữa. Tôi lấy ta sờ lên trán, phát hiện dòng máu lạnh đang rỉ ra từ trên đầu mình, tôi rên lên đau đớn và nhìn lại xung quanh, giáo giác tìm kiếm.

- Alice?
Tỉnh lại trong một cái ôtô bị tai nạn đang bốc khói khiến tôi có cảm giác tôi vừa tỉnh lại từ một cơn ác mộng và sa vào một cơn ác mộng khác. Tôi lê cái thân xác vô dụng của mình trên ghế ôtô, đẩy cửa ra và ngã khuỵu xuống nền đất lạnh tanh trước khi chiếc ôtô đang bập bênh trên mép vực kết thúc nốt bất cứ thú gì tôi còn lại.

Tôi động não nhưng đó là bất khả thi, tôi không tài nào nhớ nổi tôi đến đây bằng cách nào, chuyện gì đã xảy ra, tất cả những điều mà tôi còn biết là có chuyện gì đó kinh khủng đã xảy ra cho Alice.

Lồm cồm bò dậy, thứ đầu tiên tôi cần làm là xác định xem chuyện gì đã xảy ra. Tôi với lấy chiếc di động trong túi áo, nhưng vô ích, nó đã hết pin. Sau khi nhìn xung quanh một hồi, tôi ngán ngẩm khi nghĩ đến mình phải tìm sự trợ giúp bằng chân giữa cánh rừng bạt ngàn trong đêm tối mịt mù như thế này.

Tôi lấy một tay phủi phủi bộ quần áo rách tươm đang mặc trên người cho có lệ, tôi phát hiện ra chiếc ôtô nhàu nát trước mặt mình chính là chiếc xe van đỏ chúng tôi dùng để đi đến hòn đảo đó, đảo Chân Chim. Cánh cửa sau xe đã bật mở, và các món đồ đạc của Alice ở đằng sau bị văng tung tóe ra mặt đường. Trong số các món đồ đạc đó có một cuốn sách, "Căn bệnh khó xử của các nghệ sĩ" được viết bởi bác sĩ Emil Hartman. Nhìn thấy quyển sách khiến cho trí óc tổn thương của tôi gợi lại kí ức về cuộc cãi vã với Alice. Tôi không thích nổi quyển sách, và tôi cũng không thích nụ cười tự phụ của cái gã được in trên bìa của nó.


Những tiếng sóng rì rào xung quanh tai tôi, và nếu không phải nhờ những ngọn núi cao sừng sững trước mặt thì tôi đã tưởng tượng mình đang ở Hawaii, tự thưởng cho mình một chuyến du lịch để mừng thắng lợi cuốn sách mới được xuất bản thành công như hai năm trước vậy, nhưng những sự kiện kinh khủng xảy ra với Alice kiến lương tâm tôi méo mó, kéo tuột tâm trí khỏi thiên đường viễn tưởng trôi xuống hiện thực trần trụi. Có chúa mới biết điều gì đã xảy ra cho Alice, tôi không biết cô ấy còn sống hay không nhưng cô ấy đang sợ hãi, cực kì sợ hãi, tôi cảm thấy một ngọn lửa thúc giục bản thân tìm lại Alice nhanh hết sức có thể.

Chiếc ôtô nhăn nhó kia đã phục vụ tôi hết sức, tôi cho là thế, và bây giờ tôi chi còn cách đi bộ, nhưng đi đâu? Xác định phương hướng giờ là mục tiêu trước mắt của tôi. Để lại đống lộn xộn tôi gây ra lại phía sau, những mảnh vỡ đèn ôtô, hàng rào gỗ nát vụn, đường dây điện bị giật đứt, tôi tiến về phía mép vực để nhìn ra xung quanh. Có vẻ như chiếc ôtô của tôi đã bị phi thẳng từ một con đường phía trên sườn núi và lao xuống một con đường khác, nhìn lại con đường hủy diệt mà nó đi qua, tôi cảm thấy quá may mắn còn sống sót, chỉ bị vết thương nhẹ ở đầu.

Từ sườn núi cao tỏa ánh mắt xuống phía dưới thung lũng từ khắp cả mọi phía, trong khi trí óc hoang mang và trống rỗng chẳng biết ta đang ở đâu cả. May mắn thay không cần quan sát quá tỉ mỉ, tôi phát hiện ở phía bên kia thung lũng, bên cạnh một con đường cái xám cắt dài một vết sẹo lên mặt đất tự nhiên, nơi đó tôi có thể thấy những biển quảng cáo và biển hiệu phát sáng bằng đèn nêon mà không thể nhầm lẫn là của một trạm xăng dành cho những phương tiện qua lại ở chốn heo hút này. Xem ra trạm xăng đó là cơ hôi tốt nhất của tôi, họ có thể có điện thoại ở đó cho tôi mượn sử dụng, vậy là sẽ tốn một cuộc đi dạo dài qua cánh rừng rậm rạp để tới được đó.

Nhưng còn cách nào được nữa, nếu mọi sự chỉ phụ thuộc vào tôi thì tôi có thể tìm một đám lá khô nào đó đánh một giấc cho đến sáng rồi mới bắt đầu hành trình. Nhưng thời gian không đợi ai cả, và nhất là Alice không thể chờ tôi nghỉ ngơi thêm giây nào hết, đồng hồ sinh học của tôi cho tôi biết tôi đã bất tỉnh một thời gian khá lâu, giờ tôi phải chạy đua để bù lại nó.

Con đường mòn xung quanh toàn bụi cây rậm rạp, khá là lạ đối với một khu rừng lá kim ở miền hàn đới, rồi tôi sực nhớ ra đây chính là một trong những lí do khiến Alice lựa chọn nơi này cho chuyến du lịch. Chúa ơi, tôi cảm thấy tội lỗi kinh khủng khi đã suy diễn quá nặng lời với Alice khi còn ở trong ngôi nhà kia, có trời mới biết liệu tôi có gặp lại được cô ấy không.

Để dành nó cho lúc khác - tôi tự nhủ với mình, giờ tôi cần phải tập trung vào vấn đề trước mắt. Phương hướng của lộ trình tôi đang đi có hơi chút bất ổn, nó hoàn toàn ngược lại với hướng của trạm xăng, nhưng ít nhất nó đang dẫn xuống dưới, đối với một người lầm đường lạc lối như tôi bây giờ đã là quá đủ.

Sau lưng tôi những tiếng ken két của kim loại nghiến răng vang lên trong đêm tối, tôi quay người lại chỉ để nhìn thấy chiếc ôtô bị tai nạn của tôi mất thăng bằng, mui của nó chúc cuống và cả thân xe trượt khỏi mặt đường, rơi xuống không gian mịt mù phía bên dưới.

Tôi căng người sẵn sàng chờ đợi một tiếng nổ lớn khi chiếc xe rới xuống tận đáy vực, những không, không có tiếng động nào ngoài một tiếng xoảng thất thanh của chiếc ôtô bị nghiền nát, giống như nó đã bị rừng núi nuốt chửng mất vậy, xem ra ôtô xe máy không dễ dàng nổ tung như quả bom giống như những gì người ta cố gắng biểu diễn trên phim ảnh.

Sau 15 phút cuốc bộ ròng rã, cuối cùng tôi cũng xuống được tới chân núi, nhưng tình hình có vẻ không sáng sủa lắm, nơi đây rừng cây chằng chịt hơn nữa và những con đường mòn thì mờ nhạt, tỏa ra nhiều hướng khác nhau. Tôi chọn một con đường có vẻ dẫn tới hướng của cái trạm xăng tôi vừa nhìn thấy, dựa theo cảm giác. Khả năng tìm đường của tôi khá hữu dụng khi ở các thành phố, từng khối từng khối nhà một và tôi vẽ ra trong đầu một bài toán để tìm lời giải, những trong cánh rừng này thì phức tạp hơn gấp nhiều lần, giống như chuyển từ môn hình học hai chiều lên thẳng không gian ba chiều, trong lòng tôi có chút bơ vơ và vô dụng.

Ở trong cánh rừng này nơi nào cũng giống nơi nào, không biết có phải tôi đang đi vòng tròn hay không nữa. Căng hai nhãn cầu của mình ra hết mức, tôi cố gắng nhận biết và phân biệt, tìm ra những điểm nổi bật để ít ra còn biết mình đang đi thế nào.

Nhưng ô kìa! Một thứ ngoài ý muốn tôi không hề chờ đợi. Lấp loáng qua những lá kim nhọn hoắt, thân cây già nua sần sùi và những sương mù dày đặc, một nguồn sáng tỏa ánh mạnh mẽ của nó, trắng lóa và uyển chuyển không đứng yên. Nó sáng đến mức mà khi tôi mừng rỡ chạy lại, tay tôi phải giơ lên che bớt không cho ánh sáng chiếu trực tiếp vào mắt, có thể tôi gặp may, một người kiểm lâm đang đi tuần khu rừng hay một người địa phương sống gần đây chăng? Đột nhiên nhớ lại Rusty ở quán cà phê, tôi mừng vì kí ức của tôi vẫn hoạt động bình thường.

- Xin chào?

Không có tiếng trả lời, tôi tiến lại gần hơn một cách chậm rãi với thứ ánh sáng đó, hi vọng không làm bất cứ ai phải giật mình hoảng sợ.

- Xin chào? Có ai ở đây không?

Tới một thời điểm nhất định, khi tôi tiến tới đủ gần, ánh sáng chợt trôi đi như xấu hổ không dám đối mặt với tôi, dần dần tuột khỏi thị giác rồi tắt lịm vào cõi hư vô. Nó đã từ biệt nhưng để lại một lời chào, tôi có thể cảm thấy ngọn gió thổi không khí trong lành và mát lạnh xung quanh tôi, hóa cùng một tiếng động nhỏ giống như tiếng của người thở máy ôxi, nếu không để ý kĩ thì sẽ không nghe thấy. Liền tiếp có thứ gì đó lượn xuống từ không trung, xoay tròn trong không khí như cánh diều, nhẹ nhàng và dịu dàng như chiếc lá khô hạ xuống mặt đất trước nơi tôi đứng.

Tôi cúi cuống nhặt nó lên khi nhận ra nó là những tờ giấy trắng với chữ viết trên nó, tò mò chưa biết những gì mà nó hàm chứa.

Hai tờ giấy này có vẻ là được rút ra từ một tập bản thảo được đặt nhan đề "Điểm khởi hành". Mồm tôi há hốc với sự ngạc nhiên khi đó cũng chính là tiêu đề mà tôi dự định đặt cho cuốn truyện dài tiếp theo mà tôi chưa bao giờ bắt tay vào làm của mình. Chính tôi, Alan Wake, được đặt làm tên tác giả. Tôi chưa từng viết những thứ này, không thể nào nhớ nổi đã từng viết những chữ này, nhưng đây đúng là kiểu văn phong của tôi, và chữ "k" hơi mờ của nó do thanh chữ cái trên chính máy đánh chữ của tôi hơi bị mòn.

"Người đàn ông quay mặt lại đối diện với tôi, khuôn mặt ông bị bao phủ bởi thứ bùn đen đặc quánh. Có chút khó khăn để nhìn thấy ông ta với nền của cánh rừng đen hun hút ở phía sau. thứ mà đã bao quanh chúng tôi, nhưng ánh rìu bạc mà ông tá đang cầm lấp lánh trong ánh mắt, lấp lánh cùng với máu nạn nhân cuối cùng của ông ta.

Ông ta cười toe toét điên loạn. Bóng tối mang sự sống, trôi nổi bóp méo dáng hình của ông ta.

Giống như một viễn cảnh trong cơn ác mộng, nhưng tôi vẫn còn thức giấc."


Tôi nhìn ra xung quanh, ngọn gió thổi giờ trở nên lạnh toát khiến tôi sởn gai ốc.

Một bài viết, một ca khúc.

Poets of the Fall - Dreaming Wide Awake
[video=youtube;f2-HOaIO7Wg]http://www.youtube.com/watch?v=f2-HOaIO7Wg[/video]
 
Chỉnh sửa cuối:
Back
Top