[SPOIL]
22 tháng 6 năm 1941
9 giờ sáng
Tại một nhà ga ở Moscow
Chiến tranh…Hai con chữ tưởng chừng như giản đơn, nhưng lại không đơn giản. Chiến tranh, hai con chữ thét lên, có người sẽ mang niềm tự hào, có người sẽ mang điều lo sợ, nhưng với những người con của Mẫu Quốc nơi đây, những chàng trai đang lên đường nhập ngũ trên chuyến tàu hoả tới Brody, cả hai cảm giác đó nó cứ hoà quyện vào nhau, tạo nên một cảm xúc khó tả, khó mà nói được. Họ có những người đang chờ họ tại nhà, những người đang vẫy tay chuẩn bị cho chuyến tàu cất bánh, để rồi đổ lấy nước mắt nhìn những người con trai, người chồng, người yêu, người cháu, người bạn...bước vào cõi chết , và những người khác nữa, những người không đến được đây, những người dù muốn đến cũng không đến được đây…Đó là những gì họ nên chiến đấu và tin tưởng vào nó, thay vì chết cho những kẻ chẳng muốn đến đây, và cũng chẳng có chút thành ý nào trong việc đến đây.
Hỡi thần linh…hãy cầu cho cuộc chiến này không phải là một thứ phi nghĩa – Một người lính cầu nguyện trước khi rời khỏi vòng tay của gia đình.
Giữa những cuộc chia ly thấm đẫm nước mắt ấy, nơi mà những người mẹ, người vợ, người con gái hay đơn thuần chỉ là những người bạn, họ đưa tay ra, nắm lấy tay người quen như rằng đó là lần cuối, và với một số người, chúng có thể sẽ là lần cuối. Họ thì thầm tên con mình, tên cha mình, tên chồng mình, tên anh mình hoặc tên em mình, hay những người họ quen biết, từ thưở ấu thơ cho đến thuở thiếu thời, để rồi nhìn họ bị thúc thúc ép ép lên những toa chở hàng trống bởi những con người khác, những kẻ đang lo sợ cho cuộc chiến trước mắt, và coi việc thúc ép họ như là một cách tự an ủi bản thân mình. Sau khi những con người ấy lên tàu, vẫn còn đó những bóng dáng lẻ loi, không một lời chào, không một lời từ biệt, họ, một là những người đến để coi việc chia li như là một vở bi kịch rẻ tiền, hai là những kẻ cũng sẽ lên tàu, nhưng họ thích đợi để trở thành người cuối cùng bước lên, và trong số đó, có những người không xứng đáng để có được một lời vỗ tay từ biệt.
Quái vật – đó chỉ là một cách gọi dân dã cho hai chữ “pháp sư”.
Joseph Revmira cũng là một trong những người bị cho là “quái vật” đang đứng ở chốn này. Ngay cả trong thời đại của pháp thuật, của những điều kì diệu đến từ nguồn nguyên liệu gọi là Mana, pháp sư cũng chẳng khác mấy những con quỷ gieo rắc tai ương trong những câu chuyện doạ con nít, hay là những quyển tiểu thuyết rẻ tiền nói về vị anh hùng tiêu diệt những tên pháp sư quái ác. Liệu phải do đôi găng tay được vẽ nên những vòng tròn pháp thuật khiến cậu quá nổi bật trong vai trò pháp sư ? Có thể lắm chứ, bởi vì không có người bình thường nào đeo găng tay ma thuật cả, và chỉ cần một cái nhìn, một người bình thường sẽ nghĩ ngay: “Cậu ta là một pháp sư, tránh xa ra thôi”. Dù muốn, nhưng cậu cũng chẳng thể tháo ra những gì dùng để bảo vệ bản thân mình được. Nếu không tính việc đó, thì chỉ cần gỡ bỏ bộ quân phục và quyển Artifact bên cạnh, cậu chẳng khác gì một chàng trai Nga mười tám tuổi bình thường như bao người…
“Nhớ nhà à nhóc ?” – Quyển Artifact màu xanh lá của cậu đeo ngang hông lên tiếng.
“Liệu tôi còn nhà để nhớ à ?” – Joseph thở dài, đưa ra gương mặt gượm buồn.
“Vậy…cậu không coi học viện ma thuật Moscow là nhà à ?” – Giọng của quyển Artifact lại vang lên.
“Veles…từ khi nào mà một quyển sách như ông lại thích xen vào cảm xúc của chủ nhân mình thế ? Tôi nhớ nơi nào thì kệ tôi chứ”
“Liệu có gì sai khi quan tâm đến một người khác à ? Kha kha kha” – Veles, hay có tên đầy đủ là “Book of Veles” – một quyển sách về thần thoại Sla-vơ, trả lời cậu.
“Thật khó mà tin được lời nói này lại phát ra từ một quyển sách…” – Joseph cảm thấy nực cười về suy nghĩ đó.
“Trước khi là một quyển sách, tôi đã là một vị thần đấy…Mà cậu không định lên tàu à ?” – Veles nói ngay sau khi nhà ga đã vắng bớt đi những hình ảnh của người con Soviet.
“…”– Joseph im lặng ngay khi Veles hỏi câu hỏi đó, vì một lí do nào đó, cậu nhìn ra cửa ga, nhìn qua nhìn lại, giống như chờ đợi một ai đó, nhưng vẻ mặt hờ hững của cậu lại chẳng nói lên được cái sự chờ đời của cậu, như rằng: cậu mong một người nào đó đến, nhưng cũng không mong người đó đến. Một cảm xúc mơ hồ, hời hợt của một pháp sư mười tám tuổi.
“Thôi…đi nào…” – Joseph xách hành lí của mình để ở cạnh chân từ khi đến nhà ga và tiến bước.
------
22 tháng 6 năm 1941
8 giờ tối
Trên chuyến tàu tới Brody, Ukraine
Charon – người lái đò tới sông Styx, là kẻ ác hay người tốt ? Một con người đưa linh hồn của người chết đến địa ngục, một con người bất tử chỉ đưa người sống đến cõi chết nếu có tiền có bạc. Ông ta là người tốt ? Gã Charon ấy ? Liệu tiếp tay với thần linh của địa ngục là một tội ác ? Nếu như thế, thì khối người trên đời này đã chết vì tiếp tay với thần chết rồi…Có lẽ…đó chỉ đơn thuần là một công việc, với Hades là ông chủ, và Charon chỉ là con người làm theo lệnh.
Charon chỉ là một kẻ trung lập, một kẻ làm theo nghĩa vụ của mình – phục vụ thần chết. Vậy nên, không có lí do gì để cho những người con của nước Nga phải nguyền rủa chiếc xe lửa – một tên Charon làm bằng thép đang đưa họ tới chốn địa ngục xứ Ukraine.
Màn đêm đã đến, trăng đêm nay không tròn, mà cũng chẳng sáng, thật chán ngắt, chắc nó đang buồn, nó không vui khi mà thế gian đang tắm máu, khi nền đất vẫn còn đầy mùi tanh, khi cỏ cây vẫn còn hằn lên dấu vết xe thiết giáp, khi không khí còn mùi đạn, khi đất đá còn vệt thuốc nổ, liệu đây có phải lúc thích hợp cho ánh trăng để nó khoe mẽ vẻ đẹp của mình chăng ?
Joseph Revmira lại suy nghĩ quẩn quơ về điều đó, cũng chỉ vì cậu không quen được tiếp đãi tại toa hạng nhất của một con tàu lửa.
Ngay lúc bước lên tàu hoả, chỗ ngồi cậu mong muốn chỉ là một chỗ bình thường, nhưng khi ông nhân viên tàu hoả thấy đôi găng tay mang dấu hiệu pháp thuật, cùng với quyển Arfitact biết nói, cậu bị miễn cưỡng đưa đến toa hạng nhất, với một lời giải thích duy nhất rằng: “Lệnh của Lãnh tụ là tạo ra sự thoải mái tốt nhất cho pháp sư”. Và đó là lí do tại sao cậu đang ở toa tàu đẹp lộng lẫy, hệt như là một căn phòng khách Tây Âu thu nhỏ lại. Nếu không có bức hình của Đồng Chí Stalin, Joseph và Veles cứ ngỡ rằng mình đang ở tận phía Tây của chiến trường, nơi những tay tài phiệt tư bản hưởng lợi từ cuộc chiến này đang ngồi chơi xơi nước, thưởng thức sơn hào hải vị thoải mái mà chẳng có cảm xúc gì...hoặc đó chỉ là do cái nhìn không tốt của cậu đến thế giới phương Tây thôi…
“Kiểu này thì không đến rồi…” – Chán nản với ánh trăng, Joseph phán lên một câu với Veles, rồi quay sang một chiếc ghế với những tấm đệm êm ấm màu đỏ mà ngồi xuống.
“Cậu chờ giáo sư à ?” – Như thể biết được điều gì, Veles hỏi Joseph.
“Ai chờ gã vô dụng đó chứ…” – Joseph chán nản, vương đôi vai rộng của cậu và ngáp trong mệt mỏi, sự hiện diện của hai người còn lại trong căn phòng này ngoài cậu và Veles không đủ để kiềm hãm lại hành vi tự nhiên thái quá của chàng pháp sư trẻ.
Không cần đoán, Joseph và Veles cũng đủ biết rằng hai người này là pháp sư, không phải là những nhà ảo thuật tự xưng mình là pháp sư trên sân khấu, hay những kẻ giả mạo với găng tay ma thuật, dáng vẻ lịch sự và một quyển sách giả làm Artifact. Họ là pháp sư thật sự, với những Artifact mạnh thật sự, không phải chỉ là một quyển sách có thể có bằng cách bỏ ra vài xu khi vào trong hiệu sách, của họ là đồ hiếm, giống như Veles của Joseph vậy.
“Họ cũng là người được đưa vào “nhóm” à…” – Veles hỏi.
“Có lẽ thế…”
Họ gồm có hai người: một người đàn ông và một cô gái. Người đàn ông trung niên này rất nổi bật, không phải vì thân hình to cao, dáng vẻ hộ pháp và phong thái trầm mặc, quyển Artifact màu đen hệt mang dáng vẻ của một quyển ma pháp quyền năng, hay là hàng hàng lớp lớp dây chứa đạn – chính xác hơn là đạn cho khẩu súng phóng lựu cầm tay đang ngồi cạnh gã. Thứ nổi bật nhất của ông ta không phải là những thứ diêm dúa đó, mà đến từ chính ông ta: ông ta có màu da đen – một màu da hiếm thấy ở đất nước Nga xa xôi này.
Người còn lại là một cô gái, không như ông ta, cô ta giống như một người đẹp thường ngày mà cậu có thể ra đường vài trăm mét là thấy một người, ngoại trừ bộ quân phục với mái tóc vàng lai lai màu xám xoã lên thân chúng, quyển Grimoire màu xám bên cạnh và một chiếc can rượu phương Tây chứa đầy Vodka, trông cô không có gì quá đặc biệt nếu như loại ra những thứ “hầm hố” đó.
Joseph cứ cảm thấy như mình lạc lõng ở đâu đó giữa căn phòng sa hoa này, có thể do việc cậu không quen ở trong môi trường “nhiều tiền” quá lâu, nhưng chủ yếu đến từ khoảng cách tuổi tác, nghề nghiệp, và kinh nghiệm sống của ba vị pháp sư trên chuyến tàu tới Brody này.
“Arghhhh…chán quá…” – Joseph than, dĩ nhiên không phải với hai người kia, mà là với quyển Artifact của mình.
“Cậu không mang bài bạc hay sách báo gì để giải trí à ?” – Veles bảo – “Ở thời của tôi, chiến tranh luôn đi kèm với niềm vui trước và sau chiến tranh đấy. Lạc quan lên đi rồi kiếm cái gì đó vui vui mà làm. Kha kha kha”
“Làm ơn đi…tôi đi chiến tranh chứ có phải dã ngoại đâu.”
“Chẳng phải chiến trường đối với pháp sư thì chỉ là một chuyến dã ngoại thôi ư ?” – Veles tiếp tục.
“Đó là điều mà các sếp cấp cao bảo thôi, chứ tôi có phải siêu nhân đâu, Mana của tôi có giới hạn, tôi lại chẳng biết nhiều chiến thuật tác chiến lắm, ngoại trừ việc lao thẳng vào quân thù mà chiến. Lạng quạng cái là tôi ăn đạn như chơi.”
“Cậu dở quá nhóc, một khi đã nắm vững hết tri thức của Veles này, thì có quỷ thần cậu cũng không sợ đâu. Ha ha ha…” – Veles cười lớn.
“Ha ha…ông đùa tôi chắc, một quyển sách cũ mèm khô khan đến chết như ông thì làm gì cho tôi khả năng thâm hậu như vậy…Ha ha…”
“Không đâu, Veles nói đúng đấy. Nếu như học hết được tri thức của nó, thì gần như chẳng còn gì gọi là đáng sợ nữa. Trừ những kẻ đã học hết tri thức từ Artifact của mình…” – Một giọng nói bí ẩn đột ngột vang lên, nó khiến cho cậu tự dưng bật dậy và cảnh giác, mà khoan, không chỉ cậu, hai người kia cũng cảm nhận được sự hiện diện từ giọng nói bí ẩn kia. Nó xuất phát từ đâu ?
“Hây da…” – giọng nói đó phát lên từ ngay một chiếc cửa sổ gần đó, trước khi Joseph kịp cảnh giác, Hai khẩu súng lục Ru-le đỏ và một khẩu súng phóng lựu đã chĩa thẳng vào ngay chiếc cửa sổ bởi cô gái trẻ và gã đàn ông da đen. Joseph cũng kịp rút vũ khí của mình ra: một khẩu Shotgun được cắt mất cáng súng và đang chĩa thẳng vào cửa sổ. Nhưng khi “cái thứ đó”, chính xác hơn là “người đó”, dần dần xuất hiện, công rút vũ khí của họ thành ra là vô ích.
“Ấy chà chà…Ha ha…mọi người chào đón tôi nồng nhiệt quá nhỉ.” – Từ cửa sổ, một người đàn ông đứng tuổi trèo vào, với bộ ria mép thưa thớt nhưng vẫn lớm chớm vài sợi râu bạc, gương mặt thẩn thờ và có vẻ hơi thiếu nhiệt huyết, tuy nhiên sự hiền từ của một gã trung niên vẫn còn hiện diện tại người này. Cùng với đôi găng tay mang theo nhiều hình vẽ pháp thuật, chính xác hơn là giả kim thuật, hai người lớn tuổi hơn Joseph trong căn phòng này mới nhận ra ông ta không phải là một mối nguy hiểm.
“Này mọi người, bỏ súng xuống đi chứ, đừng có làm phiền giáo sư Ninel như vậy…” – Từ sau lưng của giáo sư Ninel, một cô tiên bé nhỏ dễ thương lao ra, chặn mình lại trước khi hàng loạt viên đạn to có nhỏ có lao thẳng vào vị giáo sư trầm tính.
“Sylph à…họ hiểu rồi…” – Ninel nói với Sylph – tinh linh gió do ông triệu hồi ra, cô bé với chiếc váy nhỏ màu xanh tên Sylph dù nghe lời, nhưng vẫn cảnh giác trước hai người kia, không để cho họ làm hại vị giáo sư và cũng là chủ nhân của mình.
“Vậy ra…ông là giáo sư Ninel từ trường pháp thuật Moscow ? Tôi tưởng ông không chấp nhận làm thủ lĩnh của lực lượng Bolshevik chứ ?” – Cô gái tóc vàng nói, và hai khẩu súng của cô biến mất vào không trung.
“À…về chuyện đó thì…tôi hơi đắng đo một chút, vì tôi không phải là người hợp với chiến trường. Nhưng…” – Ninel quay sang nhìn Joseph – “Có một vài lí do khiến tôi phải chấp nhận trở lại nơi đó.”
“Hừ…” – Joseph không nói gì, chỉ thở dài một tiếng, khiến cho vũ khí của mình biến mất rồi quay lại ghế ngồi. Cả hai người kia cũng thấy thế mà thoải mái theo.
*Cốp*
Vì một lí do nào đó, Sylph bé nhỏ bay tới, cốc đầu Joseph một cái.
“Au…Cô làm gì vậy Sylph ? Mà từ khi nào một tinh linh được triệu hồi từ “Void” như cô lại có thể cốc đầu đau thế ???”
“Đau hay không không quan trọng...Có thứ con trai gì mà gặp cha mình lại không chào nổi một tiếng không ?” – Sylph bảo.
“Hừ…Như cô nói, đau hay không không quan trọng, tương tự với tôi, chào hay không cũng không quan trọng…” – Nói rồi, Joseph lại im lặng, chẳng nói gì thêm với Sylph, hay là với người đàn ông mang tên Ninel Revmira.
“Chậc…cái thằng nhóc này…”
“Được rồi…Sylph…” – Ninel nhỏ nhẹ bảo Sylph.
“Hừ…” – Sylph giận dỗi – “Giáo sư cũng nên dạy lại con mình đi…Nếu là tôi thì đã no đòn rồi. Người ta nói con hư tại mẹ, nhưng tôi không muốn người đời phải đổi lại là
con hư tại cha đâu”
“Ha ha…được rồi được rồi…” – Dù nói thế, Sylph vẫn biết rằng vị giáo sư này sẽ chẳng bao giờ làm như vậy với con trai của mình.
Sylph là một sinh vật triệu hồi từ “Void” – Một thế giới song song nơi những nội dung trong các Artifact tồn tại. Theo những kiến thức cơ bản của thuật triệu hồi, thì Artifact đóng vai trò vật trung gian, Mana của pháp sư làm phí vận chuyển, vòng phép để cố định vị trí chuyển qua, thứ còn lại chỉ là việc vật được triệu hồi di chuyển từ Void sang thế giới này thôi. Với những sinh vật cần một lượng Mana nhỏ để định hình, ví dụ như Sylph, những tinh linh hay sinh vật giống người khác…thì Mana do trái đất tạo ra cũng đủ cho cô sinh sống lâu dài, điều này khiến cho việc xuất hiện của những tộc người như Elf, Drawf, Orc…từ Void chuyển sang Thế giới này sinh sống, để cho Thế giới cung cấp Mana cho họ định hình, sống lâu dài và sinh con đẻ cái. Tuy nhiên, với những sinh vật hùng mạnh như Rồng hay Ác quỷ, Thiên sứ…Mana của họ tiêu tốn quá mức so với những gì Thế giới mang lại, thành ra, vai trò của pháp sư chính là người cung cấp lượng Mana thiếu thốn đó. Cho nên, những sinh vật mạnh mẽ như thế chỉ đóng vai trò là vũ khí của những pháp sư, thay vì có một chỗ để sinh sống trên Thế giới tươi đẹp này.
“Pháp thuật” trong thế giới này chỉ đơn thuần là một cách nói chung cho “những môn nghệ thuật sử dụng Mana”, bằng chứng là việc Sylph được triệu hồi bằng một quyển sách dạy giả kim thuật –
Archidoxes of Magic thay vì sách ma pháp, cho nên, “Void”, dù cái tên của nó nghĩa là hư vô, lại là một thế giới vô cùng rộng lớn, luôn luôn kéo dài, mở rộng, cả về đất đai lẫn phần tử sinh sống trong đó cho đến vô hạn.
Trở về với toa tàu tới Brody, mọi thứ lại yên ắng như trước, dù cho việc có mặt của vị giáo sư Ninel Revmira đi nữa hay không, nhóm Bolshevik cũng chẳng thể nào vui lên được, nhất là khi tình hình chiến sự đang căn thẳng ở mặt trận phía Tây nước Nga.
Ninel giống như một con mèo vậy, mỗi khi tới một nơi mới, ông luôn thích thú với việc tìm hiểu những gì xung quanh. Và ngay cả toa tàu nhỏ này thôi cũng chẳng phải là thứ có thể thoát khỏi tầm với của người đàn ông hiền từ nhưng mang chút chút gì đó vô cảm này. Ông mò mẫm trong từng hộc tủ, xem từng bức tranh, từng quyển sách, quyển Artifact của ông chỉ là một bản sao chép, thế nên, thay vì nói với Artifact của mình như bao pháp sư khác, ông chỉ có thể bình luận những gì mình thấy với tinh linh gió Sylph thôi, dù cho ở đây có đến sự tồn tại của ba người khác nữa…
“Ồ…một chiếc máy nghe nhạc…” – Sylph thốt lên khi thấy một cỗ máy phát nhạc qua đĩa than được đặt trong phòng – “Giáo sư kiếm đĩa nào để nghe xem…”
“Ờ…để ta xem nào…” – Ninel tìm kiếm xung quanh đó, và thấy được vài chiếc đĩa nhạc – “Xem thử đĩa này nào…”
Ông đặt chiếc đĩa nhạc lên, đặt chiếc kim lên đĩa và ấn nút chạy chiếc máy…
Một bản nhạc không lời giữa Piano và Violin vang lên…Và khung cảnh xung quanh dần chìm trong yên lặng, dù nó đã yên lặng trước rồi, nhưng đó là sự im lặng của việc vắng đi âm thanh nào đó làm minh chứng cho việc “có người đang ở nơi này” – một cách gọi khác cho việc thiếu đi tình người. Nay, bản nhạc đang dần dần thành tiếng đã trở thành thứ chứng minh cho sự im lặng “có tình người” đó .
Sylph ngồi lên vai của vị giáo sư mà thưởng thức bài nhạc. Ninel đứng đó, nhắm mắt và từ từ đung đưa nhè nhẹ thân mình theo điệu nhạc đang dần vang.
Dường như, khung cảnh xung quanh đang dần dần hoà thành một với bản nhạc không lời. Với các nốt trầm, nốt bổng cứ như là nhảy múa, đọ sức với những tiếng kêu xình xịch vô cảm mà chiếc xe lửa tạo ra.
Cô gái ngồi đó bắt đầu cảm thấy ấm lòng, tự dưng, cô lại có hứng muốn uống chút rượu, và lấy ngay bình Vodka của mình mà nốc lấy một ngụm.
Người đàn ông da đen cũng dịu lại, gã nhắm mắt thay vì tiếp tục nhìn vào màng đêm vô vọng ngoài kia, tay ôm cây súng phóng lựu trong lòng, chẳng mấy chốc, gã thiếp đi lúc nào không hay…
Không biết liệu có do bị Sylph ảnh hưởng hay không, nhưng những tiếng nhạc bắt đầu dần chạy đi theo những cơn gió nhẹ, xuyên qua hàng hàng lớp lớp kim loại thô thiển, khiến cho những người lính ngồi tại những toa “thấp kém hơn” có thể nghe được sự ngọt ngào của âm nhạc, dù rằng nỗi đắng cay của chiến tranh, của việc ra đi vòng tay hạnh phúc của gia đình, bè bạn vẫn còn đang ám ảnh con tim của họ. Tiếng nhạc đã xua tan đi tất cả, nó đã trở thành cái ôm nhỏ nhẹ sưởi ấm lên con tim của những người đang bước vào cõi chết…
Người nghe được thì ngồi thưởng thức, những kẻ không nghe thấy thì chen tới mà nghe, rồi không ai bảo ai, người người cứ nườm nượp chạy tới nơi phát ra bản nhạc đó, nghe bằng tai không được, họ lại áp tai mình vào sàn tàu, vào tường tàu, chỉ cần nghe được một chút, họ đã cảm thấy hạnh phúc rồi…Âm nhạc, có khi, nó lại chính là pháp thuật mạnh mẽ nhất, bởi vì có pháp thuật nào khiến cho con tim con người ấm áp trở lại ? Ngoại trừ âm nhạc và tình người ?
Joseph cũng cảm thấy như thế…khi mà cha cậu bật nhạc trong vô thức, cậu cũng muốn đứng lên, cùng cha cảm thụ vẻ đẹp của nó, nhớ lại thời cả gia đình cậu trước kia quây quần bên chiếc piano cũ, với lò sưởi mục nát, với bánh khô sữa lạt…tuy khó khăn, tuy khổ cực, nhưng nó lại ấm cúng, hạnh phúc hơn gấp trăm lần bây giờ…
Nhưng cậu vẫn chưa thể khiến khung cảnh đó tái hiện lại được, chính xác hơn, cậu không thể. Bức tường ngăn cách cậu và cha mình vẫn còn đó…Cái bức tường vô hình mà cậu đã tạo nên…Và cậu cũng không thể tháo dỡ nó ra được nữa…
Điều người đàn ông mang họ Revmira đó đã làm chính là điều cậu không thể tha thứ hay cho qua được.
Joseph nhìn ra ngoài bầu trời lần nữa, và nói với Veles.
“Trăng đêm nay sáng thật đấy…”[/SPOIL]
Facts:
[SPOIL]Veles: Thần mùa thu, trái đất, đất hướng Tây, địa ngục, ma thuật, sói, rắn...của thần thoại Slavic.
Sylph: Elemental gió trong giả kim thuật.
Archidoxes of Magic: Sách về thuật giả kim của nhà giả kim người Thuỵ sĩ và Đức Paracelsus
Ninel: các bạn thử đọc ngược nó lại xem nào

.[/SPOIL]