Final Fantasy IV
Title: Final Fantasy IV
Platforms: Super Famicom/Nintendo
Japan - 22/03/1991
Title: Final Fantasy IV Easytype
Platforms: Super Famicom/Nintendo
Japan - 29/10/1991
Title: Final Fantasy II
Platforms: Super Famicom/Nintendo
United States - 05/11/1991
Title: Final Fantasy IV
Platforms: Wonderswan Color
Japan - 28/03/2002
Title: Final Fantasy Collection (Final Fantasy IV + Final Fantasy V + Final Fantasy VI)
Platforms: PlayStation 1
Japan - 11/03/1999
Title: Final Fantasy Chronicles (Final Fantasy IV + Chrono Trigger)
Platforms: PlayStation 1
United States - 29/06/2001
Title: Final Fantasy Anthology( Final Fantasy IV + Final Fantasy V)
Platforms: PlayStation 1
Europe - 17/05/2002.
The History
FF IV rất thành công tại Mỹ, cũng như tại Nhật, số lượng bán ra hàng triệu bản. Sức mạnh mới của hệ thống Super Nintendo đã khiến cho người chơi say đắm bởi chất lượng đồ hoạ và âm thanh - một điểm mạnh sau này của loạt game FF. Đây là phiên bản Final Fantasy thứ hai được phát hành ở Mỹ. Square đã cho ra mắt nó với cái tên Final Fantasy II. Điều này rất dễ gây nhầm lẫn với bản Final Fantasy II (Japan).
Final Fantasy IV còn được chia làm hai loại: Final Fantasy IV Hardtype và Final Fantasy IV Easytype. Phiên bản Hardtype chỉ Final Fantasy IV lúc mới phát hành. Sau đó Square cho phát hành một phiên bản khác dễ hơn dành cho độ tuổi khác. Final Fantasy IV Easytype là nền tảng của Final Fantasy II US. Lý do tại sao chúng được chia ra như vậy sẽ nói rõ trong Game và Battle Systems.
Trong phiên bản làm lại trên cả Final Fantasy Anthology và Final Fantasy Chronicles cũng được chèn thêm một số đoạn FMV để tăng thềm phần hấp dẫn.
The Story
"One to be born from a dragon
hoisting the light and the dark
arises high up in the sky
to the still land.
Veiling the moon with the light of eternity,
it brings another promise
to mother earth
with a bounty and mercy."
- Mysidian Legend -
Trong một thế giới mà mỗi viên Crystal (lại Crystal !) đều mang trong mình một sức mạnh thần bí và huyền diệu, chúng có những quyền năng vô hạn mà không người nào có thể lường hết. Chính vì thế, chúng được các quốc gia gìn giữ và bảo vệ rất kỹ lưỡng. Nhưng vị vua của xứ Baron lại mong muốn có những báu vật đó để thực hiện những mưu đồ riêng. Hắn đã giao nhiệm vụ thu lấy những viên Crystal này cho một đày tớ trung thành và đáng tin cậy Cecil - một Dark Knight chỉ huy hạm đội tàu bay Red Wings. Sau khi giết những người dân lương thiện ở Mysidia để đem Crystal of Water về cho quốc vương. Trong suốt quá trình trở về, Cecil luôn day dứt bởi hành động của mình, Cecil tự vấn lương tâm đặt mình giữa nhiệm vụ và người dân vô tội. Cecil bắt đầu thắc mắc với quốc vương về những hành động tội lỗi đó. Với bản chất lương thiện, Cecil đã quyết định rũ bỏ quá khứ là một Dark Knight sau khi bị chính quốc vương của mình lừa tiếp lần nữa khi sát hại toàn bộ dân làng ở thị trấn Mist nhỏ bé. Hành động theo trái tim mách bảo, Cecil lên đường bảo vệ những viên Crystal khỏi rơi vào tay quốc vương Baron. Song đó cũng là lúc Cecil biết được người điều khiển giật dây quốc vương Baron là một kẻ thâm độc khác Golbez. Hắn còn điều khiển cả người bạn thân thiết Kain của Cecil nhằm khống chế Cecil. Biết mình chưa đủ sức đánh lại, Cecil đã lên núi tập luyện, giằng co giữa cái ác và thiện trong cơ thể mình, cuối cùng trở thành một Paladin cầm theo một thanh gươm truyền thuyết. Sau bao nỗ lực của Cecil nhưng đều thất bại, cuối cùng Golbez đã nắm được bốn viên Crystal của thế giới trên mặt đất và bốn viên khác ở thế giới dưới mặt đất. Hắn mong muốn mở ra một con đường nối liền hành tinh xanh với mặt trăng. Nhưng cuối cùng, tất cả đều phát hiện ra một sự thật, một thế lực điều khiển tất cả tội ác từ đầu trò chơi tới giờ, một đối thủ nguy hiểm đến từ Mặt Trăng, Zemus, kẻ điều khiển Golbez hòng sử dụng sức mạnh của Crystal để phá vỡ ấn phong của hắn trên bề mặt Mặt Trăng. Và toàn bộ sức lực cuối cùng của cả nhóm Cecil với sự giúp đỡ của những người bạn thân thiết dưới Trái Đất, họ đã đánh gục được kẻ thù nguy hiểm nhất vũ trụ, Zemus…
The Heroes
Cecil Harvey
Age : 20.
Birthplace: Unknown.
Height : 178 cm.
Weight : 76 kg.
Job : Dark Knight/Paladin.
Có thể Cecil là một người anh hùng có tính cách nhất, là người hiểu rằng mình bị chi phối bởi quyền lực cao hơn, nhưng thường đặt ra những câu hỏi và xem đó là tốt hay xấu. Trong giai đoạn đầu của game không đề cập tới thời thơ ấu của Cecil, chỉ biết rằng Cecil được nuôi dưỡng ở Baron và từ đó Cecil được học những kiếm pháp của bóng đêm. Cecil nhanh chóng trở thành một Dark Knight vô song, có khả năng điều khiển hạm đội mạnh nhất thế giới, những con tàu Red Wings. Nắm giữ một đội quân mạnh nhất, thiện chiến nhất trên thế giới, Cecil rất tự hào về sức mạnh của mình và đồng đội. Trái với bề ngoài lạnh lùng và thản nhiên, Cecil là một người có cảm xúc. Khi phát hiện ra hành động mờ ám của vua Baron chống lại nhân dân và lừa dối mình, Cecil không chấp nhận trở thành một công cụ chiến tranh, cuối cùng Cecil từ bỏ địa vị chức tước cùng người con gái mình yêu dấu, không hành động mù quáng nữa mà theo lương tâm mách bảo. Về sau, khi thân phận thật sự của Cecil được khám phá: một trong hai đứa con của người đàn ông trên Mặt Trăng và người phụ nữ Trái Đất, đó cũng là lúc Cecil gánh trọng trách tiêu diệt Zemus khi cùng nhau sát cánh với người anh trai Golbez - người từng có ý muốn tiêu diệt Cecil. Phút giây mà cả Cecil lẫn Golbez đều ngẹn ngùng khi ôm nhau và gọi nhau “Anh”, “Em” như người ruột thịt thật sự miêu tả rõ nội tâm đầy cảm xúc của Cecil.
Kain Highwind
Age : 21.
Birthplace : Baron.
Height : 183 cm.
Weight : 79 kg.
Job : Dragoon.
Là đội trưởng của đội Kỵ binh của Baron, Kain xuất hiện từ ngay đầu trò chơi. Kain là bạn thời thơ ấu và được vua Baron nuôi lớn cùng Cecil. Cecil trở thành Dark Knight thì Kain lại trở thành Dragoon. Kain luôn là người kề vai sát cánh với Cecil trong những trận đấu khó khăn và nguy hiểm. Kain rất yêu Rosa – cô bạn thân ở thành Baron và là người yêu của Cecil. Rất không may, Golbez đã lợi dụng điểm này để điều khiển Kain, biến Kain thành tay sai đắc lực cho hắn. Cuối cùng thì Kain lại trở thành đồng đội của Cecil khi thoát khỏi vòng kiểm soát của Golbez. Khi trận chiến đấu không khoan nhượng với Zemus kết thúc. Cecil trở thành quốc vương thành Baron bên cạnh Rosa với tư cách là hoàng hậu, Kain tự nguyện ẩn mình cho hạnh phúc của đôi bạn thân.
Rosa Farrel
Age : 19.
Birthplace : Baron.
Height : 162 cm.
Weight : 47 kg.
Job : White Wizard.
Là một White Wizard ở thành Baron. Rosa yêu Cecil ngay từ cái nhìn đầu tiên và cô cũng cảm nhận được tình cảm mà Cecil dành cho mình, mặc dù Cecil là một con người mồ côi và lạnh lùng. Quan tâm và lo lắng cho Cecil khi Cecil phải thực hiện nhiệm vụ ở Mist, Rosa linh tính có chuyện không lành và quyết định đi theo Cecil. Trong suốt quá trình chơi, bạn sẽ không ít lần chứng kiến sự buồn vui của đôi nhân vật này, nó phát triển cung bậc tình cảm rõ rệt. Ở giai đoạn đầu, với vai trò là White Wizard, Rosa gần như vô dụng. Mãi đoạn cuối của game, những phép tấn công Trắng của cô trở nên hết sức thuyết phục và là một trong hai mũi tấn công sắc bén đánh thắng siêu trùm Zemus.
Rydia
Age: 7.
Birthplace:Mist.
Height: 122 cm.
Weight: 37 kg.
Job: Caller.
Một đứa bé nhỏ của thị trấn Mist, nơi mà Cecil và Kain vô tình mang tai họa thảm sát toàn bộ dân làng khi mắc mưu đem đến cho dân làng những con quái vật. Chỉ có một mình Rydia sống sót. Song cô bé vẫn rất hoảng sợ, nhưng nhờ chính tấm lòng hướng thiện sửa sai lỗi lầm mà Cecil đã có một cô bé cực kỳ có ích cho trận đấu sau này.
Tellah
Birthplace: Mysidia.
Age: 60.
Height: 163 cm.
Weight: 46 kg.
Job: Sage.
Một pháp sư truyền thuyết vô cùng tài giỏi của xứ sở Myssidia, một xứ sở phép thuật, người mang một mối thù sâu đậm với Golbez khi đã giết đứa cháu gái yêu Anna. Gia nhập nhóm Cecil khi ông lên núi luyện phép thuật thì gặp Cecil đang mong muốn trở thành một Paladin truyền thuyết. Tellah muốn có lại được phép thuật mạnh mẽ nhất, Meteor, phép thuật có thể đánh gục được Golbez. Cuối cùng khi đã nhớ lại được phép thuật xưa, do tuổi già nên không thể đủ sức sống sót sau khi thi triển phép thuật truyền thuyết đó. Mặc cho mọi người ngăn cản, Tellah đã sử dụng đòn thế đó lên Golbez, rất đáng tiếc là Golbez không chết, nhưng Tellah đã hy sinh với cơn báo thù chưa được trả. Đây là nhân vật duy nhất trong Final Fantasy IV phải hy sinh.
Edward Van Muir
Age: 24.
Birthplace: Damcyan.
Height: 172 cm.
Weight: 58 kg.
Job: Bard.
Hoàng tử của Damcyan, người đã trốn đi cùng với Anna khi Tellah không chấp nhận đám cưới. Tuy vậy vận may không đến với họ. Đoàn tàu Red Wings đến cướp đi viên Crystal của Damcyan đã đem đi người yêu thương nhất Anna của Edward. Ban đầu, Tellah đổ lỗi cho Edward nhưng sau đó Tellah hiểu ra và mang mối thù với Golbez. Còn Edward thì gia nhập nhóm của Cecil và không ít lần giúp Cecil thoát chết bởi mưu kế của Golbez. Là một nhân vật rất yếu và may mắn cho ta là anh ta không tham gia vào giai đoạn cuối

.
Yang
Birthplace: Fabul.
Age: 35.
Height: 169 cm.
Weight: 65 kg.
Job: Karate Master.
Một võ sỹ mạnh khoẻ nhất của xứ Fabul và đứng đầu lực lượng quân đội của Fabul. Cecil gặp Yang khi Yang đang tập luyện và bị tấn công bởi lực lượng của Golbez. Sau sự giúp đỡ của Cecil, Yang đã thuyết phục vua Fabul đồng ý cho Cecil và Yang bảo vệ viên Crystal của đất nước. Đến giữa trò chơi, Yang có một hành động rất anh hùng. Chịu ở lại trong một căn phòng với ba khẩu thần công sắp nổ để giữ cho chúng không bắn ra tiêu diệt một đất nước dưới lòng đất. May mắn thay, Yang thoát chết và có sự hỗ trợ tuyệt vời khi Cecil chiến đấu chống lại Zemus.
Cid Pollendia
Birthplace: Baron.
Age: 54.
Height: 151cm.
Weight: 87 kg.
Job: Engineer.
Trong các phiên bản Final Fantasy cái tên Cid luôn gắn với phi thuyền. Trong phiên bản này Cid là một thợ máy tài ba nhất thế giới. Người chế tạo ra hạm đội bay mạnh mẽ nhất, Red Wings. Sau này đi theo Cecil, Cid là người giúp cho Cecil nâng cấp những chiếc tàu bay trở nên mạnh mẽ hơn rất nhiều. Đó thực sự là những giúp đỡ lớn lao. Tuy điều khiển ít nhưng Cid lại gây cảm tình khi tự nguyện dùng thuốc nổ chặn đường hạm đội Red Wings dưới lệnh của Golbez truy đuổi Cecil. Rất may là Cid không bị chết.
Edge Geraldine
Age: 26.
Birthplace: Eblan.
Height: 175 cm.
Weight: 63 kg.
Job: Ninja.
Là một hoàng tử của đất nước Eblan, một đất nước với toà lâu đài bị tàn phá với quái vật đã phải di cư xuống hang động để chờ thời nổi dậy. Đã đi theo Cecil khi chứng kiên tài năng đánh gục Rubicant, một Friend tài giỏi, Friend of Fire. Là nhân vật xuất hiện giai đoạn cuối của game, anh ta có thể nói là vô dụng giai đoạn này, thua xa các nhân vật khác trong trận đánh trùm Zemus. Ngoài ra nhân vật này đối kháng dữ dội với Cid, và là người thầm yêu quý Rydia (Cái này tôi thấy khó hiểu bởi tuổi của cả hai).
Palom & Porom
Age: 5.
Birthplace: Mysidia.
Height: 125 cm.
Weight: 37 kg.
Class: Black Mage (Palom) and White Mage (Parom).
Palom và người chị sinh đôi của mình, Porom là hai cặp bài trùng vô cùng hiệu quả khi cả hai cùng hợp sức. Mỗi người mang một dạng phép thuật riêng. Palom học Black, Porom học White. Được nuôi dạy bởi vị pháp sư già ở Mysidia, cả hai rất hiệu động và vô tư. Hai đứa bé đã dẫn đường cho Cecil lên núi luyện thành Paladin theo truyền thuyết của Mysidia. Giữa trò chơi, hai đứa bé đã tự nguyện hoá đá để cíu thoát Cecil ra khỏi hai bức tướng ép lại bởi ma thuật của Golbez. Thật may là sau này hai đứa bé đã được giải thoát bởi phép thuật.
Fusoya
Age: Unknown.
Birthplace: Unknown.
Height: 166 cm.
Weight: Unknown.
Class: Lunarian.
Một người Mặt Trăng đầy bí ẩn và cực kè tài giỏi với toàn bộ các phép White và Black Magic. Là người đã giúp Cecil rất nhiều khi ở Mặt Trăng. Biết rất nhiều chuyện và là người mang mọi bí mật của trò chơi, FuSoYa đã cùng vơi một Golbez hoàn lương hợp sức tiêu diệt Zemus nhưng thất bại. Cuối cùng với sức mạnh của viên Light Crystal, Cecil đã giúp Fusoya hoàn thành trách nhiệm nặng nề: Tiêu diệt Zemus.
The Villains
Trước tiên là vua Baron nhưng ngay sau đó, Cecil đã phát hiện ra kẻ giật dây cho quốc vương là Golbez.
Golbez, kẻ thù nguy hiểm cũng là người anh em với Cecil. Là một kẻ độc ác, tàn bạo, thủ đoạn. Nhưng cuối cùng Golbez chỉ là nạn nhân và đã cùng với nhóm bạn Cecil chống lại kẻ thù nguy hiểm nhất của vũ trụ, Zemus kẻ đã bị phong ấn trên bề mặt của mặt trăng từ rất lâu.
Bốn con quỷ thuộc hạ của Golbez cũng có những thuộc tính riêng. Earth, Water, Air và Fire. Đó là Milon (Earth), Kainazzo (Water), Valvalis (Air) và Rubicant (Fire). Tuy Rubicant mới đầu xuất hiện với dáng vẻ oai phong nhưng thực ra, tất cả nhưng tên thuộc hạ đều rất yếu.
Game & Battle system
Final Fantasy IV có thể nói là nền tảng cho những game đỉnh cao về sau như Final Fantasy VI hay Final Fantasy IX. Toàn bộ game là một sự sáng tạo của Square so với những game trước. Mỗi nhân vật có một đặc điểm riêng không thể pha trộn hay đổi jobs như trước. Các nhân vật có điểm mạnh yếu mà ta cần khai thác. Cũng không thể thay đổi thành phần nhân vật theo ý mình nên chú ý kết hợp đa dạng giữa phép thuật và tấn công.
Hệ thống battle cải tiến khá nhiều. Về mặt đồ họa thì sự xuất hiện đa dạng và hài hoà của khung nền gây nhiều cảm hứng cho gamer thời đó. FF IV còn ra mắt một dạng chiến trận mới mà ngày nay vẫn tồn tại trong các game FF: Active Time Battle. Hệ thống này đã lật đổ chế độ chơi theo lượt truyền thống với sự khẩn trương gấp rút tạo nên sự thú vị cho người chơi. Tuy nhiên, trong battle, hệ thống này chỉ có thể nhận biết bởi cách ra đòn chứ thanh ATB vẫn chưa xuất hiện trong trận đánh.
Số nhân vật điều khiển cùng lúc đạt tối đa: 5 nhân vật, tăng độ hỗ trợ lên rất nhiều trong game và rất lý thú.
Cách tính Level và Exp vẫn như cũ, không có nhiều thay đổi.
Còn một điều chú ý cho ai muốn chơi Final Fantasy IV. FF IV quái vật lúc ban đầu rất dễ, không hề đáng ngại. Kể cả trùm cũng thế, nếu chịu khó luyện Lv một chút là ổn. Điều tôi muốn nói là giai đoạn về cuối của game. Có những trận đánh rất khó. Điển hình như một con trùm bình thường. Khi mới vào trận nó cast Count (bây giờ là Doom) lên cả 5 nhân vật với khả năng bị nhiễm là 100%. Trong 10 số đếm, nhân vật sẽ tiêu. Và với lượng HP cao chót vót, cả nhóm không thể hạ được với 10 số đếm như vậy. Và điển hình cực cao nữa là con trùm Zemus, kẻ sau khi bị hạ bởi Light Crystal đã biến thành con quái vật Zeromus. Có lượng HP siêu cao vào lúc đó. Không có những đòn sát thủ như Ozma của FF9 tấn công đồng loạt tất cả nhân vật và. Nhưng Zeromus có đòn tấn công làm chết một đối thủ, và đòn đó được tung ra thường xuyên. Đòn thế của Final Fantasy IV không nhiều như các phiên bản về sau như có thể Revive hay Auto-Life nên cần phải chú ý khi oánh với nó. Tấn công sức mạnh thì cực chuối - yếu vật. Nói thể để ai muốn thử biết cách mà đánh. Đây có lẽ là con trùm cuối khó nhất trong các phiên bản Final Fantasy.
Như tôi đã nói có hai loại Final Fantasy Easy và Hard. Bản thân tôi mới chơi bản Easy. Bản Hard không được phát hành bằng Tiếng Anh mà được dịch không dưới danh nghĩa của Square. Trong phiên bản Hard thì hạn chế một số command trong trận đánh khiến cho cách chơi có khó hơn. Mặt khác lời thoại thay đổi khá nhiều dù cho cốt truyện vẫn không thay đổi. Một số tình tiết có hơi thay đổi dù ko ảnh hưởng nhiều. Tên các nhân vật, sự kiên, phép thuật có thay đổi. Như trong phiên bản tiếng Nhật thì Fire, Faira, Faiga thì phiên bản Easy là Fire 1, 2, 3. Tên nhân vật cũng có thay đổi, ví dụ Kain là Cain, Tellah là Tella, Fusoya là Foo-soo-ya... Noi chung la dzay...
The Graphics & Music
Tôi rất ấn tượng với đồ hoạ của Final Fantasy IV. Nó không rực rỡ như bây giờ, nhưng với hệ máy SNES, quả thực nhưng khung cảnh của nó rất dịu mắt và không gây chói loá như Final Fantasy I & II. Trông những ngôi nhà, hay cây cối lại thấy rất vui mắt.
Phần âm nhac, Great, rất tuyệt, âm nhạc đã tận dụng tối đa khả năng của hệ máy chơi game nổi tiếng này. Âm thanh cực kỳ truyền cảm và báo hiệu một thời kỳ đỉnh cao của Nobuo Uematsu. Tôi rất thích những bản nhạc ở mỗi khu vực và kể cả nhạc nền trong trận đánh. Rất tuyệt. Nói cho cùng, nó hay ngang như Final Fantasy IX hay bất kỳ phiên bản nào.
Final Recommendation
Một game cực kỳ tuyệt vời, bạn sẽ không thể chê khi tham gia chuyến phiêu lưu của người anh hùng Cecil, con người mang rất nhiều tính cách có dáng dấp cho một phiên bản hiện đại của Final Fantasy. Hãy down nó về và thưởng thức. Enjoy.
