iceteazz
Liu Kang, Champion of Earthrealm
- 16/5/08
- 5,116
- 976
_ Hôm nọ ngồi đọc 1 số tài liệu quân sự về Xuân Thu - Chiến Quốc mới ngớ người, hoá ra trận tàn sát lớn nhất lịch sử cổ đại Tàu - trận Trường Bình có lẽ là bịa đặt quân số. Thời Chiến Quốc chiến tranh liên miên, kéo dài hơn nhiều lần so với Xuân Thu, nên dù các quân chủ chăm lo phát triển để có dân + tiền đi đánh nhau thì coi như tổng lực lượng không lệch quá nhiều so với thời Xuân Thu, chẳng qua tiền của và nhân lực thay vì xây đình đài lầu các thì đổ vào xây tường thành và đúc vũ khí.
_ Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, tuy binh chế mỗi nước mỗi khác, nhưng căn bản vẫn là binh chế từ " Tư Mã pháp " của thời Chu ( Tư Mã là chức quan chưởng quân sự nói chung ) như thế này : 5 người là 1 ngũ, 5 ngũ là 1 lưỡng - lượng ( 25 ), 4 lưỡng là 1 tốt ( 100 ) 5 tốt là 1 lữ ( 500 ) 5 lữ là 1 sư ( 2500 ) 5 sư là 1 quân ( 12 500 ) Tuỳ mỗi nước mà 1 quân có quân số khác nhau có thể từ 10 000 tới 15 000. Thời đó các nước chiến đấu hay dùng chiến xa làm đơn vị, 1 chiến xa kéo theo khoảng 50 lính đi bộ phía sau, nên các chư hầu cỡ lớn gọi là ngàn thừa quốc gia vì họ tối đa có thể huy động cả nước quân số 50 000 lính ~ 1 000 chiến xa. Ở đây tam quân là chia đại khái, một quân sẽ có 12 500 người là " đủ số" nhưng thường sẽ có nhiều hơn gồm cả đinh tráng bị trưng đi làm dân phu, lúc cần có thể tham chiến phụ, tất nhiên 99% lính trong quân là trưng tập từ lãnh địa phân phong của các sĩ, phu, khanh tộc. Chư hầu lớn cỡ Tề, Tấn, Tần, Sở thì về quy chế có tam quân, các chư hầu nhỏ hơn như Tống, Vệ, Trịnh thì có 2 quân, các tiểu bang thì chỉ có 1 quân.
_ Trận đại chiến Thành Bộc quyết định ngôi bá chủ giữa Tấn và Sở gồm ... 2 vạn người mỗi bên, tổng 4 vạn, từ đấy mở ra 100 năm tranh bá Tấn - Sở. Dân số nước Tấn lúc cực thịnh là khoảng 4 triệu, chiếm 1/4 toàn bộ chư hầu, và họ cũng chỉ là 1 500 thừa quốc gia.
_ Giờ tính Chiến Quốc 3 nhà phân Tấn : Triệu Nguỵ Hàn, cứ cho là mặc dù chiến tranh nảy lửa, coi như dân số nước Triệu tăng gấp 2 ( do chiếm được thêm nước Đại ở phía bắc, Trung Sơn ở phía đông - 2 nước Nhung Địch ) thì cũng chỉ cỡ 3 - 4 triệu là nhiều. Với trình độ sản xuất thời đó ( 1 năm 1 vụ trồng hạt kê xen kẽ đậu tương, chưa có tiểu mạch như thời Hán ) hệ thống đường xá lạc hậu, vận tải khó khăn, thì nước Triệu có nuôi nổi 45 vạn thanh niên lao động chiếm 1/8 dân số đem đi phục vụ chiến tranh không ? chưa kể trận này kéo dài hơn 1 năm với nhiều giai đoạn, kéo dài qua cả thời điểm gieo cấy lương thực, tức là coi như chỉ có 20 vạn người cũng là thiếu đi không ít hơn 1/3 sức lao động toàn quốc, xây kho lương, tích trữ, vận tải, xây thành trong núi etc. Nói thật mình cực kỳ nghi ngờ con số 45 vạn người tham chiến trong sử Tàu, phải chăng là do nhà nho thời Hán vì bêu xấu bạo Tần nên chém gió, vì thời Xuân Thu - Chiến Quốc sử gia họ viết sử chiến tranh rất khái quát và sơ hở, không có con số cụ thể, chỉ có thể tính quân số theo đơn vị là quân, mỗi quân do 1 - 2 khanh sĩ chỉ huy, càng nhiều quốc gia và khanh sĩ thì càng nhiều quân đoàn, thế thôi chứ ko có sử nào cùng thời ghi lại con số 45 vạn cả.
_ Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, tuy binh chế mỗi nước mỗi khác, nhưng căn bản vẫn là binh chế từ " Tư Mã pháp " của thời Chu ( Tư Mã là chức quan chưởng quân sự nói chung ) như thế này : 5 người là 1 ngũ, 5 ngũ là 1 lưỡng - lượng ( 25 ), 4 lưỡng là 1 tốt ( 100 ) 5 tốt là 1 lữ ( 500 ) 5 lữ là 1 sư ( 2500 ) 5 sư là 1 quân ( 12 500 ) Tuỳ mỗi nước mà 1 quân có quân số khác nhau có thể từ 10 000 tới 15 000. Thời đó các nước chiến đấu hay dùng chiến xa làm đơn vị, 1 chiến xa kéo theo khoảng 50 lính đi bộ phía sau, nên các chư hầu cỡ lớn gọi là ngàn thừa quốc gia vì họ tối đa có thể huy động cả nước quân số 50 000 lính ~ 1 000 chiến xa. Ở đây tam quân là chia đại khái, một quân sẽ có 12 500 người là " đủ số" nhưng thường sẽ có nhiều hơn gồm cả đinh tráng bị trưng đi làm dân phu, lúc cần có thể tham chiến phụ, tất nhiên 99% lính trong quân là trưng tập từ lãnh địa phân phong của các sĩ, phu, khanh tộc. Chư hầu lớn cỡ Tề, Tấn, Tần, Sở thì về quy chế có tam quân, các chư hầu nhỏ hơn như Tống, Vệ, Trịnh thì có 2 quân, các tiểu bang thì chỉ có 1 quân.
_ Trận đại chiến Thành Bộc quyết định ngôi bá chủ giữa Tấn và Sở gồm ... 2 vạn người mỗi bên, tổng 4 vạn, từ đấy mở ra 100 năm tranh bá Tấn - Sở. Dân số nước Tấn lúc cực thịnh là khoảng 4 triệu, chiếm 1/4 toàn bộ chư hầu, và họ cũng chỉ là 1 500 thừa quốc gia.
_ Giờ tính Chiến Quốc 3 nhà phân Tấn : Triệu Nguỵ Hàn, cứ cho là mặc dù chiến tranh nảy lửa, coi như dân số nước Triệu tăng gấp 2 ( do chiếm được thêm nước Đại ở phía bắc, Trung Sơn ở phía đông - 2 nước Nhung Địch ) thì cũng chỉ cỡ 3 - 4 triệu là nhiều. Với trình độ sản xuất thời đó ( 1 năm 1 vụ trồng hạt kê xen kẽ đậu tương, chưa có tiểu mạch như thời Hán ) hệ thống đường xá lạc hậu, vận tải khó khăn, thì nước Triệu có nuôi nổi 45 vạn thanh niên lao động chiếm 1/8 dân số đem đi phục vụ chiến tranh không ? chưa kể trận này kéo dài hơn 1 năm với nhiều giai đoạn, kéo dài qua cả thời điểm gieo cấy lương thực, tức là coi như chỉ có 20 vạn người cũng là thiếu đi không ít hơn 1/3 sức lao động toàn quốc, xây kho lương, tích trữ, vận tải, xây thành trong núi etc. Nói thật mình cực kỳ nghi ngờ con số 45 vạn người tham chiến trong sử Tàu, phải chăng là do nhà nho thời Hán vì bêu xấu bạo Tần nên chém gió, vì thời Xuân Thu - Chiến Quốc sử gia họ viết sử chiến tranh rất khái quát và sơ hở, không có con số cụ thể, chỉ có thể tính quân số theo đơn vị là quân, mỗi quân do 1 - 2 khanh sĩ chỉ huy, càng nhiều quốc gia và khanh sĩ thì càng nhiều quân đoàn, thế thôi chứ ko có sử nào cùng thời ghi lại con số 45 vạn cả.
Chỉnh sửa cuối:


Về việc bạn nói thành 1 vạn người bị 4 vạn vây công đó là chuyện bình thường vì 1 vạn dân chỉ kiếm ra tầm 1-2000 đinh tráng thủ thành, so với 4 vạn người tấn công là quá yếu, tới Chiến Quốc thì các kỹ thuật công thành vũ khí lạnh đã khá tiến bộ rồi nên với 4 vạn người đánh 1 ấp 1 vạn không khó, khó là kiếm đủ lương nuôi 4 vạn cái miệng ở 1 khu vực nhỏ hẹp quanh thành, khó là chiếm thành khi bên mình chưa hết lương phải lùi 