Năm vị Hoàng Đế tốt
Marcus Cocceius Nerva (30-98)
Sinh ngày 8/11/30 tại Narnia, 50 dặm về phía Bắc của Rome, trong 1 gia đình luật gia giàu có, có nhiều người nắm giữ các chức vụ cao trong chính phủ. Ông cố của Nerva từng là quan chấp chính năm 36 trước cn, ông nội là thành viên thân tín trong đoàn cận thần của Hoàng Đế Tiberius. Chàng trai trẻ Nerva kế thừa sự nghiệp của cha ông 1 cách tự nhiên bằng cách thu thập kinh nghiệm qua việc nắm giữ nhiều chức vụ khác nhau. Nerva cho thấy thiên tài chính trị của mình với việc liên tục đảm trách những chức vụ quan trọng qua các thời hoàng đế khác nhau. Năm 65, Nero ban cho Nerva 1 vị trí danh dự vì vai trò của ông trong việc ngăn chặn âm mưu của Piso. Mặc dù vậy Vespasian vẫn chọn Nerva làm người đồng nhiệm ở vị trí chấp chính quan sau này vào năm 71. Và đến lượt Domitian cũng trao cho Nerva chức vụ này năm 90. Những thành công liên tiếp ở các vị trí chủ chốt đã chứng tỏ Nerva là người có được sự kính trọng từ mọi phía trong xã hội La Mã. Dù rằng có tin đồn Nerva đã bị Domitian lạm dụng tình dục khi trẻ (theo sử gia Suetonius).
Giống như Claudius, Nerva là 1 vị hoàng đế bất đắc dĩ. Sử gia Cassius Dio thuật lại việc Nerva trong tình cảnh nguy hiểm khi bị Domitian khép vào tội phản quốc, đã được những nghị sĩ âm mưu ám sát Domitian tiếp cận và lựa chọn làm người kế vị. Dường như Nerva chấp nhận vai trò này chủ yếu để bảo vệ mạng sống của mình hơn là vì hoài bão chính trị. Dù nhận định trên sai hay đúng thì sự kế vị của Nerva đã được tất cả những nhân vật lãnh đạo hàng đầu La Mã, những người đã quá mệt mỏi với sự chuyên chế của Domitian, chào đón. Lúc này Nerva đã hơn sáu mươi, sức khỏe yếu, kém ăn và uống nhiều rượu. Ông là vị hoàng đến hòa nhã và tốt bụng và là 1 trong số rất hiếm các hoàng đế (có lẽ là duy nhất) có thể tuyên bố rằng: “đã chẳng làm điều gì trên cương vị Hoàng Đế mà có thể ngăn chặn việc rút lui khỏi quyền lực và trở lại đời sống bình thường trong an toàn”
Viện nguyên lão tuyên bố Nerva là Hoàng Đế ngày 18/9/96 cùng ngày với cái chết của Domitian. Mạng lưới gián điệp rộng lớn của Domitian tan rã, vài người thậm chí còn bị xử tử. Không những thế, lệnh ân xá được ban bố cho những ai bị Domitian trục xuất khỏi Rome, tài sản của những người này cũng được phục hồi. Vị bạo chúa đã ra đi và đã có 1 bầu không khí thư thái xuất hiện ở Rome. Với việc được hầu hết các nghị sĩ yêu mến, Nerva được trao tặng danh hiệu Pater Patriae (vị cha già của đất nước) ngay từ lúc mới lên nắm quyền. Những hoàng đế khác chỉ nhận được vinh dự này sau nhiều năm ngồi trên ngai vàng. Nhưng cảm giác tự do có lại sau 1 thời gian dài bị mất của những người La Mã mang đến những vấn đề mới và Nerva đã rất khó khăn để vãn hồi trật tự. Nếu như dưới thời Domitian, không ai được phép làm gì thì bây giờ người La Mã làm bất cứ gì họ thích. Chính phủ của Nerva được nhìn nhận là 1 chính phủ tốt. Các kho chứa ngũ cốc được xây dựng, hệ thống mương tưới tiêu nhận được sự sửa chữa và bảo dưỡng cần thiết. Lời tuyên thệ nổi tiếng của Nerva trước dân chúng rằng sẽ không hành quyết bất kỳ nghị sĩ nào được giữ đúng, thậm chí cả khi có đủ bằng chứng kết tội nghị sĩ Calpurnius Crassus âm mưu chống lại ông. Thuế thu nhập có được từ thừa kế được miễn trừ và đất đai được chia cho người nghèo. Nerva đã sử dụng nhiều tài sản riêng của mình để trang trải những chi phí cần thiết cho những biện pháp này.
Dù có được sự yêu mến từ đông đảo quần chúng và viện nguyên lão nhưng Nerva vẫn không giành được điều đó từ giới quân đội. Binh lính vẫn giành tình cảm cho Domitian, người đầu tiên tăng lương cho họ kể từ thời Augustus. Quan hệ của Nerva với quân đội bước vào khủng hoảng năm 97. Nerva đã phạm sai lầm khi cho thay thế các trưởng pháp quan Secundus và Norbanus, những người lẽ ra phải được tại vị vì vai trò của họ trong việc ám sát Domitian. Thay vào đó, Casperius Aelianus, một người ủng hộ Domitian được đặt vào vị trí này và quân cận vệ dưới sự chỉ huy của vị chỉ huy mới nổi loạn chống lại Nerva. Ông bị giam trong cung điện Hoàng Đế, binh lính đòi phải giao Petronius và Parthenius cùng với cựu pháp quan Secundus cho họ để xử tử vì vai trò của những người này trong cái chết của Domitian. Nerva dũng cảm từ chối yêu sách này thậm chí sẵn sàng giao bản thân mình cho quân lính để họ giết ông thay vì giết những quan chức nói trên. Nhưng thiện chí của Nerva không có ý nghĩa vì quân cận vệ đã bắt được những người họ muốn. Petronius được hưởn cái chết nhân từ với 1 lưỡi kiếm. Parthenius không may mắn như vậy. Ông ta bị cắt bộ phận sinh dục nhét vào mồm trước khi bị cắt cổ chết. Sự tàn bạo chưa dừng lại ở đó. Nerva bị ép phải cám ơn quân cận vệ trước công chúng vì những cuộc hành hình này.
Dù Nerva không bị nguy hiểm nhưng quyền lực của ông đã không còn sau sự kiện này. Không có sự ủng hộ của quân đội, 1 vị hoàng đế không thể duy trì vương quyền lâu dài dù ông ta là 1 chính trị gia dày dạn và đã có những động thái sáng tạo trước nay chưa từng có. Nerva không có con nên nếu ông chết, ngai vàng sẽ bị bỏ trống. Nerva biết mình cần nhận con nuôi để trao quyền thừa kế, đó cũng là hành động bảo vệ vương vị của bản thân Nerva. Và Marcus Ulpius Trajanus, thống đốc vùng Thượng Đức được Nerva nhận làm người thừa kế. Trajan có được sự kính trọng và ủng hộ rộng lớn trong giới quân đội cũng như từ viện nguyên lão và dường như hội đủ tất cả những điều mà người La Mã tìm kiếm ở 1 vị Hoàng Đế. Với Trajan ở ngôi vị thừa kế, không còn ai dám thách thức vị trí của Nerva 1 lần nữa. Trajan chính thức tiếp nhận vinh dự này cuối tháng 10 năm 97 với 1 nghi lễ được tổ chức trước công chúng tại Capitol.
Nerva chết ngày 28/1/98 sau chỉ 16 tháng trị vì. Trong 1 cơn giận dữ, Nerva đột nhiên xuất mồ hôi liên tục rồi nhanh chóng chìm vào 1 cơn sốt và chết sau đó. Viện nguyên lão trao cho ông thêm 1 dấu hiệu của lòng kính trọng. Sau khi hỏa táng Nerva được đưa vào trong lăng mộ Augustus nằm bên cạnh những hoàng đế của vương triều Julio-Claudian. Thượng Đế dường như cũng buồn bã vì cái chết của Nerva vì ngày hạ huyệt Nerva, nhật thực đã xảy ra.
Marcus Ulpius Trajanus (AD 52 - AD 117)
Trajan sinh ngày 18/9 dường như là năm 52 tại Italica gần Seville (Tây Ban Nha) ngày nay và là vị Hoàng Đế La Mã đầu tiên không phải người Italy. Nhưng Trajan cũng không phải người Tây Ban Nha gốc. Ông xuất thân từ 1 dòng tộc Italy cũ ở Tuder (phía Bắc Italy) nhưng đã chọn Tây Ban Nha làm nơi định cư. Cha của Trajan, Marcus Ulpius Trajanus là người chỉ huy quân đoàn La Mã số 10 “Legion Fretensis” trong cuộc Chiến tranh Do Thái năm 67-68, sau đó trở thành chấp chính quan vào khoảng năm 70. Đến năm 75, ông trở thành thống đốc Syria, một trong những căn cứ quân sự chủ chốt của La Mã đế chế. Sau này ông còn là thống đốc của các tỉnh Baetica [1 trong 3 tỉnh của La Mã tại Hispania (nay là Iberia) có biên giới phía Tây là Lusitania (nay là Bồ Đào Nha), phía Đông Bắc là phần bờ biển Địa Trung Hải thuộc Tây Ban Nha. Đến thế kỷ thứ 8, Baetica được đổi tên thành Andalucia] và Asia (bao gồm Mysia, Lydia, Caria và Phrygia thuộc vùng tiểu Á, Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay).
Trajan là 1 hộ dân quan trong quân đội tại Syria trong nhiệm kỳ thống đốc của cha mình. Ông đạt bước thăng tiến trong sự nghiệp khi giao chức trưởng pháp quan vào năm 85. Ngay sau đó, ông trở thành tổng chỉ huy quân đoàn số 7 “Legion Gemina” đóng tại Legio (Leon) phía Bắc Tây Ban Nha. Năm 88/89, Trajan đưa quân đoàn này đến vùng Thượng Đức để giúp quân đội La Mã tại đây đàn áp cuộc nổi loạn của Saturninus chống lại Domitian. Dù đã đến quá muộn và không đóng vai trò gì trong việc đập tan cuộc nổi loạn nhưng hành động của Trajan trên danh nghĩa là đội quân đại diện cho vị Hoàng Đế đã khiến ông có được sự tín nhiệm từ Domitian và đưa Trajan trở thành Chấp chính quan năm 91. Mối quan hệ gần gũi này tự nhiên đưa Trajan vào tình trạng lúng túng sau khi Domitian bị ám sát.
Nhưng Nerva, người kế vị Domitian không phải là kẻ đố kỵ và năm 96, Trajan trở thành thống đốc vùng Thượng Đức. Đến cuối năm 97, Trajan nhận được 1 bút tín từ Nerva, thông báo rằng ông được Nerva nhận làm con nuôi. Không ai nhận ra bất kỳ dấu hiệu nào của Trajan cho thấy ông đã biết trước sự việc này. Những người ủng hộ Trajan tại Rome có lẽ đã có những vận động hành lang cần thiết nhân danh ông. Việc Trajan trở thành người kế vị là 1 động thái chính trị thuần khiết. Nerva cần 1 người thừa kế có thế lực và danh tiếng giúp ông ta củng cố lại bộ máy chính trị đang lay động 1 cách nghiêm trọng. Trajan có được sự kính trọng lớn trong giới quân đội và việc đưa ông trở thành người kế vị là biện pháp tốt nhất có thể để chống lại sự oán giận mà hầu hết giới quân nhân dành cho Nerva. Nhưng thay vì lập tức trở về Rome để nhận lễ kế vị, Trajan ở lại Thượng Đức ra lệnh triệu tập những pháp quan đứng đầu cuộc nổi loạn trước đó và lập tức cho xử tử những người này ngay khi họ đến nơi thay vì thăng chức cho họ như đã hứa. Hành động tàn nhẫn này cho tất cả thấy 1 điều rõ ràng rằng với Trajan, chính phủ Rome không phải là nơi có thể can thiệp vào. Nerva chết ngày 28/1/98. Nhưng 1 lần nữa, Trajan thấy không cần thiết phải hành động 1 cách vội vàng. Ông vẫn tiếp tục thực hiện nốt chuyến thị sát các quân đoàn La Mã dọc biên giới sông Rhine và Danube. Với việc các quân đoàn này vẫn lưu giữ những kỷ niệm và lòng yêu mến dành cho Domitian, Trajan đã có 1 bước đi khôn khoan nhằm củng cố sự ủng hộ trong giới quân đội tại đây.
Sau cùng Trajan cũng trở về Rome vào năm 99. Dân chúng hân hoan đón chào ông ngày trở về. Vị Hoàng Đế mới tiến vào Rome bằng cách đi bộ và ôm hôn tất cả các nghị sĩ. Ông thậm chí còn đi bộ giữa đám đông dân chúng, điều mà không một vị Hoàng Đế La Mã nào từng làm. Nó phần nào cho chúng ta thấy con người thực vĩ đại của Trajan. Tính khiêm tốn và sự kính trọng dành cho Viện nguyên lão cũng như dân chúng được minh chứng qua việc Trajan hứa sẽ luôn thông báo cho Viện nguyên lão về các affairs của chính phủ và qua việc Trajan tuyên bố rằng các luật lệ do Hoàng Đế ban bố sẽ thích ứng với quyền tự do của dân chúng. Trajan là mẫu đàn ông nam tính, mạnh mẽ, thích săn bắn, phi ngựa xuyên qua các cánh rừng và thậm chí trèo lên các đỉnh núi. Trong thời của ông, các dự án công cộng được phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy. Hệ thống giao thông trên toàn Italy được cải tạo, những đoạn đường băng qua vùng đầm lầy được gia cố, rất nhiều cây cầu được xây dựng, người nghèo được trợ cấp đặc biệt là trẻ em. Một quỹ đặc biệt được tạo ra để duy trì khoản trợ cấp này (và nó được duy trì cho đến 200 năm sau).
Nhưng dù có rất nhiều ưu điểm, Trajan vẫn không thể là người hoàn hảo. Ông nghiện rượu, ưa thích những chàng trai trẻ và thực sự đam mê chiến tranh. Cảm hứng với chiến tranh của Trajan chủ yếu bắt nguồn từ 1 lý do đơn giản là ông quá giỏi về nó. Trajan là 1 vị tướng thiên tài với rất nhiều chiến tích quân sự, rất nổi tiếng trong giới quân đội đặc biệt với việc ông sẵn lòng chia sẻ gian khổ với quân lính của mình. Chiến dịch quân sự nổi tiếng nhất của Trajan là cuộc chiến với Dacia, vương quốc hùng mạnh phía Bắc sông Danube (thuộc Romania ngày này). Hai cuộc chiến tranh được tiến hành và kết quả là sự hủy diệt và sát nhập Dacia thành 1 tỉnh của La mã vào năm 106. Câu chuyện về chiến tranh Dacia được minh họa bằng một tác phẩm điêu khắc ấn tượng với những đường chạm xoáy trôn ốc hướng lên phía trên chung quanh “Trajan’s Colum”, một công trình nghệ thuật được đặt tại Quảng trường Trajan tại Rome. Hầu hết kho tàng khổng lồ chiếm được từ Dacia được dùng để xây dựng các dự án công cộng bao gồm một hải cảng mới tại Ostia và Quảng trường Trajan.
Niềm đam mê chiến tranh & các chiến dịch quân sự không cho Trajan được nghỉ ngơi. Năm 114, Trajan lại tiếp tục 1 cuộc chiến mới. Và toàn bộ phần đời còn lại của ông là để dành cho chiến dịch quân sự ở phía Đông này, cuộc chiến với Đế chế Parthian (kẻ thù không đội trời chung của La Mã ở phía Đông, Đế quốc có lãnh thổ trải dài trên những vùng đất mà ngày nay là Iran, Iraq, Azerbaijan, Armenia, Georgia, phía đông Thổ Nhĩ Kỳ, phía đông Syria, Turkmenistan, Afghanistan, Tajikistan, Pakistan, Kuwait, vùng bờ biển Vịnh Ba Tư thuộc Saudi Arabia, Bahrain và Các tiểu Vương Quốc A Rập thống nhất). Trajan trước tiên sát nhập Armenia vào La mã rồi mở 1 cuộc chiến ngoạn mục chinh phục toàn bộ Mesopatamia bao gồm cả Ctesiphon, thủ đô của Parthian. Nhưng lúc này, ngôi sao chiếu mệnh của Trajan bắt đầu đi xuống. Các cuộc khởi nghĩa của người Do Thái ở Trung Đông và chiến dịch chinh phục Mesopotamian trước đó đã làm suy yếu khả năng tiếp tục chiến tranh của quân La Mã. Những thất bại quân sự đầu tiên làm mờ đi danh tiếng bất khả chiến bại của Trajan. Ông đưa quân lui về Syria rồi quay lại Rome. Nhưng Trajan đã không bao giờ còn được thấy lại trung tâm quyền lực của mình nữa. Với tiền sử về bệnh rối loạn tuần hoàn máu, mà ông nghi ngờ là do bị đầu độc, 1 cơn đột quỵ đã khiến Trajan bán thân bất toại. Không lâu sau đó, ngày 9/8/117, Trajan chết tại Selinus thuộc Cilicia (phía Nam Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay). Thi thể ông được đưa tới Seleucia để hỏa táng. Tro táng sau đó được đưa về Rome, đựng trong 1 chiếc bình bằng vàng và được đặt trong bệ của “Trajan’s Colum”.
Trajan được tôn xưng là vị Hoàng Đế hầu như hoàn hảo, tên tuổi ông được La Mã mãi mãi ghi nhớ. Cuộc sống của ông là tấm gương mà các Hoàng Đế La Mã sau này khao khát noi theo. Và cho tới tận thế kỷ thứ 4, Viện nguyên lão La Mã vẫn cầu phước cho các vị Hoàng Đế mới bằng câuPۅÜCó phúc hơn Augustus và giỏi hơn Trajan” (felicior Augusto, melior Traiano)
Publius Aelius Hadrianus (AD 76 - AD 138)
Hadrian sinh ngày 24/1/76 có lẽ là tại Rome. Họ tộc Hadrian là những người La Mã khai khẩn tại Picenum, Đông Bắc – Tây Ban Nha. Họ sống ở Italica (gần Seville, Tây Ban Nha ngày nay). Với việc Trajan cũng xuất thân từ Italica và là anh em con bác con chú với cha của Hadrian, dòng tộc Hadrian vô danh tự nhiên sở hữu một mối quan hệ đầy quyền lực. Năm 86, cha Hadrian qua đời và Hadrian, lúc đó 10 tuổi sống dưới sự bảo trợ của 2 người là Acilius Attianus (1 quan chức La Mã) và Trajan. Cố gắng đầu tiên của Trajan nhằm tạo ra 1 sự nghiệp quân sự cho chàng trai Hadrian lúc 15 tuổi không thành công vì Hadrian thích 1 cuộc sống dễ dàng, ưa săn bắn và hưởng thụ đời sống xa hoa ngoài quân đội. Trajan tức giận ra lệnh cho Hadrian rời bỏ vị trí trong quân đội tại vùng Thượng Đức đến Rome để giám sát. Chàng trai trẻ Hadrian, kẻ trước nay vẫn phụ lòng mong đợi của người bảo trợ quyền lực Trajan, trở thành quan tòa tại 1 tòa án dân sự ở Rome. Không lâu sau đó, Hadrian trở thành 1 sĩ quan quân đội thuộc Quân Đoàn La Mã số 2 “Legion Adiutrix” và sau đó phục vụ trong Quân Đoàn La Mã số 5 “Legion Macedonia” tại vùng Danube.
Năm 97, khi Trajan, lúc đó đang là tư lệnh Quân đội La Mã vùng Thượng Đức, được Nerva nhận làm con nuôi, Hadrian là người được cử mang lời chúc mừng của Quân Đoàn số 5 tới vị Hoàng Đế tương lai. Đến năm 98, Nerva qua đời và Hadrian đứng trước 1 cơ hội lớn. Đó là 1 cuộc đua để trở thành người đầu tiên mang tin về cái chết của Nerva đến cho Trajan. Với quyết tâm cao độ, Hadrian phi ngựa đêm ngày tới Đức, vượt qua hàng loạt chướng ngại vật được sắp đặt có chủ ý dọc đường đi và đạt được điều mình mong muốn dù phải đi bộ trên đoạn đường cuối cùng. Sự biết ơn của Trajan là không phải nghi ngờ và Hadrian trở thành 1 người bạn rất gần gũi của vị Hoàng Đế. Năm 100, Hadrian cưới Vibia Sabina, con gái của Matidia Augusta (cháu ruột Trajan) sau khi đã tháp tùng vị Hoàng Đế về đến Rome nhận chức. Trong chiến tranh Darcia lần 1, Hadrian là quan chức phụ trách hậu cần và là sĩ quan hành chính. Đến chiến tranh Darcia lần 2 ngay sau đó, Hadrian đã là tư lệnh Quân Đoàn La Mã số 1 “Legion Minervia” và khi trở lại Rome sau chiến tranh, Hadrian nhận chức pháp quan vào năm 106, trở thành Thống Đốc vùng Hạ Pannonia (1 phần Hungary và phía Bắc Yugoslavia ngày nay) 1 năm sau đó và là Chấp chính quan năm 108. Khi Trajan dấn thân vào cuộc chiến tranh với Parthian năm 114, Hadrian 1 lần nữa được nắm giữ 1 chức vụ chủ chốt, lần này là Thống Đốc của căn cứ địa quân sự quan trọng Syria.
Hadrian, không nghi ngờ gì, là người có vị trí cao trong thời Trajan trị vì, nhưng cũng không có dấu hiệu trực tiếp nào cho thấy ông được sắp đặt để trở thành người thừa kế. Việc Hadrian kế vị là 1 điều bí ẩn, Trajan có lẽ đã quyết định cho Hadrian quyền thừa kế vào phút lâm chung trên giường bệnh. Nhưng những sự kiện diễn ra tiếp theo quả thực là rất đáng ngờ. Trajan chết ngày 8/8/117 nhưng ngày công bố lại là 11/8, trong khi đó tin Hadrian được Trajan nhận làm người kế vị được thông báo vào ngày 9/8. Theo sử gia Dio Cassius (165-sau 229), việc Hadrian kế vị hoàn toàn do sự sắp đặt của Nữ Hoàng Plotina, người đã giữ bí mật cái chết của Trajan trong nhiều ngày. Trong thời gian đó, bà gửi vài lá thư tới Viện nguyên lão tuyên bố người kế vị là Hadrian. Trên những lá thư này là chữ ký của bà thay vì của Trajan với lý do có lẽ là do bệnh tình của vị Hoàng Đế không cho phép ông viết nữa. Một tin đồn khác khẳng định rằng Nữ Hoàng đã cho ai đó giả mạo Trajan trong phòng ngủ của ông. Và chỉ khi sự kế vị của Hadrian đã được đảm bảo, bà mới cho tuyên bố cái chết của Trajan. Hadrian, lúc đó đang ở Syria đã đến dự lễ hỏa táng Trajan tại Seleucia với tư cách là Hoàng Đế mới của La Mã.
Ngay từ khi bắt đầu trên cương vị là Hoàng Đế La Mã, Hadrian đã thể hiện rõ ông là 1 người độc lập. Một trong những quyết định đầu tiên của Hadrian là hủy bỏ đường biên giới phía Đông mà Trajan vừa chinh phục trong chiến dịch quân sự cuối cùng của ông. Một thế kỷ trước, Augustus từng nói rằng những người nối nghiệp ông nên duy trì La Mã đế chế trong phạm vi đường biên giới tự nhiên tạo bởi các con sông Rhine, Danube, và Euphrates. Trajan đã phá vỡ nguyên tắc đó và đẩy biên giới La Mã về phía Đông, sang bên kia con sông Euphrates. Mệnh lệnh của Hadrian 1 lần nữa đưa La Mã trở lại phía sau Euphrates. Sự rút lui này, sự từ bỏ lãnh địa mà quân đội La Mã vừa giành được bằng máu, là rất khó giải thích. Hadrian không ngay lập tức trở về Rome. Trước tiên , ông đến vùng Hạ Đức giải quyết rắc rối với những người Sarmatian tại biên giới. Trong lúc ở đây, Hadrian tái xác nhận việc (Trajan) sát nhập Darcia vào La Mã. Kỷ niệm về Trajan, những mỏ vàng của người Darcian và sự nghi ngờ của binh lính về quyết định rút quân khỏi những vùng đất đã chiếm đóng đã khiến Hadrian nhận ra 1 điều rằng lui quân về sau đường biên giới tự nhiên theo lời khuyên của Augustus không phải lúc nào cũng là khôn ngoan.
Nếu Hadrian bắt đầu quyền lực 1 cách đáng kính như người tiền nhiệm thì có thể ông đã thoát khỏi 1 khởi đầu tồi tệ. Hadrian vẫn chưa về đến Rome nhưng 4 nghị sĩ đáng kính, tất cả đều là cựu Chấp chính quan những người ở vị trí cao nhất trong xã hội La Mã đã bị giết vì âm mưu chống lại Hadrian. Rất nhiều người nhìn nhận những cuộc hành hình này là cách mà Hadrian dùng để loại trừ những kẻ đe dọa ngôi vị của ông ta. Cả 4 nghị sĩ nói trên đều là bạn của Trajan. Lusius Quietus từng là chỉ huy quân đội còn Gaius Nigrinus là 1 chính khách giàu có và quyền lực đến mức đã từng được cho là người kế vị tiềm năng của Trajan. Nhưng điều khiến “vụ affair của 4 Chấp chính quan” này bị coi là 1 điều đáng xấu hổ là việc Hadrian từ chối nhận bất cứ trách nhiệm nào. Các Hoàng Đế khác có lẽ đã chọn cách tuyên bố rằng kẻ cai trị cần thiết phải hành động 1 cách tàn nhẫn để có thể mang lại cho Đế Chế sự ổn định và 1 chính phủ vững mạnh, nhưng Hadrian phủ nhận tất cả thậm chí còn đi xa tới mức tuyên thệ sự trong sạch của mình trước dân chúng. Hơn thế nữa, Hadrian tuyên bố Viện nguyên lão đã ra lệnh hành hình (về mặt luật pháp là đúng) trước khi đổ trách nhiệm dứt khoát lên đầu Attianus, trưởng pháp quan (và cùng với Trajan là người đồng giám hộ của Hadrian khi còn nhỏ). Tuy nhiên, nếu Attianus quả thật đã làm gì không đúng trong mắt Hadrian thì rất khó hiểu việc Hadrian lại trao cho ông ta vị trí Chấp chính quan ngay sau đó.
Bất chấp việc khởi đầu đáng xấu hổ đó, Hadrian nhanh chóng chứng tỏ ông là 1 Hoàng Đế giỏi. Kỷ luật quân đội được siết chặt và tuyến phòng thủ dọc biên giới được củng cố. Chương trình phúc lợi dành cho người nghèo của Trajan được mở rộng hơn nữa. Và trên tất cả, Hadrian nổi tiếng vì nỗ lực thị sát những vùng lãnh thổ của đế chế để có thể tự mình thẩm tra các chính quyền địa phương. Chiến dịch du hành này bắt đầu bằng chuyến thị sát tới Gaul vào năm 121 và kết thúc hơn 10 năm sau đó khi Hadrian trở lại Rome vào năm 133-134. Không có bất kỳ vị Hoàng Đế nào khác từng quan sát thấy nhiều thứ trên đế chế của mình như Hadrian. Từ miền viễn Tây của Tây Ban Nha đến miền viễn Đông của Pontus (thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), từ cực Bắc xa xôi của nước Anh cho đến miền cận Nam của sa mạc Sahara hoang vắng trên đất Lybia, Hadrian đã tận mắt chứng kiến tất cả. Đây không chỉ đơn thuần là 1 chuyến vãn cảnh. Xa hơn thế, Hadrian muốn tự mình thu thập thông tin về những vấn đề mà các địa phương La Mã đang gặp phải. Các thư ký của ông biên soạn thành sách toàn bộ lượng thông tin này. Kết quả nổi tiếng nhất có được từ những thu thập của bản thân Hadrian sau chuyến đi có lẽ là quyết định cho xây dựng 1 bức tường lớn mà ngày nay vẫn còn nhìn thấy cắt ngang lãnh thổ phía Bắc nước Anh. Bức tường Hadrian, che chắn lãnh thổ (tỉnh) nước Anh của La Mã khỏi sự nhòm ngó của những tộc người hoang dại ở phía Bắc hòn đảo. Ngay từ khi còn bé, Hadrian đã bị quyến rũ bởi sự tinh tế của nền văn hóa Hy Lạp. Chắc chắn bởi vậy mà ông bị những người cùng thời gán cho cái tên “người Hy Lạp”. Khi đã trở thành Hoàng Đế, sự ưa chuộng mọi thứ liên quan đến Hy Lạp là đặc điểm riêng của Hadrian. Trong thời gian trị vì, Hadrian tới thăm Athens, lúc đó vẫn là trung tâm văn hóa lớn, không dưới 3 lần. Không chỉ Rome mà cả Athens cũng được hưởng lợi lớn từ nhà bảo trợ quyền năng với kế hoạch xây dựng những công trình kiến trúc vĩ đại tại các thành phố khác nhau.
Tình yêu lớn mà Hadrian dành cho nghệ thuật cũng bị hoen ố bởi khoảng tối phía trong con người ông. Apollpdorus Damascus, kiến trúc sư riêng của Trajan, tác giả bản thiết kế Quảng trường Trajan được mời đến để góp ý cho 1 ngôi đền do chính Hadrian thiết kế. Hadrian thay đổi thái độ ngay khi Apollpdorus đưa ra ý kiến. Apollpdorus trước tiên bị trục xuất rồi bị hành quyết sau đó. Những vị Hoàng Đế vĩ đại luôn cho thấy họ có đủ khả năng đối phó với các chỉ trích và sẵn lòng lắng nghe những lời khuyên nhưng Hadrian rõ ràng không có khả năng đó hoặc không sẵn sàng thực hiện nó. Hadrian là người có sở thích tình dục phức tạp. Trong Historia Augusta (sử liệu về tiểu sử của các Hoàng Đế La Mã giai đoạn từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ 3, bắt đầu với Hadrian kết thúc với Carus) Hadrian bị chỉ trích vì cả hai sở thích tình dục với những chàng trai trẻ đẹp và với những phụ nữ đã có chồng. Mối quan hệ của Hadrian với vợ được giữ kín nhưng lời đồn đại rằng Hadrian từng cố gắng đầu độc vợ mình phần nào cho thấy 1 sự thực có lẽ còn tồi tệ hơn thế. Sau nay sở thích tình dục đồng tính của Hadrian trở thành chuyện công khai nhưng mọi tư liệu còn lại về giai đoạn này lại không rõ ràng. Hầu hết mọi sự chú ý đều hướng đến chàng thanh niên Antinous, người mà Hadrian rất yêu quý. Bức tượng của Antinous còn lại đến ngày nay cho thấy sự bảo trợ mà vị Hoàng Đế dành cho chàng trai này lớn đến mức ông cho tạc tượng anh ta. Năm 130, Antinous hộ tống Hadrian tới Ai Cập và đột ngột chết 1 cách khá bí ẩn trong 1 chuyến đi trên sông Nile. Những gì được biết là Antinous đã ngã xuống sông và bị chết đuối. Nhưng có lời đồn rằng Antinous đã được dùng làm vật hiến tế cho 1 nghi lễ huyền bí của Phương Đông. Nguyên nhân cái chết của chàng trai trẻ này có thể không rõ ràng nhưng sự đau đớn sâu sắc mà Hadrian dành cho anh ta là sự thật. Ông thậm chí còn dựng lên 1 thành phố bên bờ sông Nile, nơi Antinous chết đuối & đặt tên là Antinoopolis. Nếu câu chuyện này là sự thực dù chỉ vài phần thì đó là 1 hành động không tương xứng với 1 vị Hoàng Đế và mang lại cho Hadrian nhiều lời nhạo báng
Nếu như việc xây dựng Antinoopolis mới chỉ khiến vài người nhíu mày thì cố gắng khôi phục Jerusalem sau đó của Hadrian quả thực là 1 bất hạnh. Jerusalem chưa bao giờ được khôi phục kể từ khi bị Titus hủy diệt năm 71. Một cách không chính thức, Hadrian mưu cầu 1 hành động lịch sử vĩ đại là cho xây dựng 1 thành phố mới nơi đó với tên gọi Aelia Capitolina. Đó là 1 thành phố La Mã tráng lệ, là ngôi đền vĩ đại mà La Mã đế chế kiêu hãnh dâng lên vị thần Jupiter. Người Do Thái khó lòng chấp nhận hành động này và lặng lẽ quan sát sự báng bổ mà vị Hoàng Đế La Mã dự định dành cho chốn linh thiêng nhất của họ, ngôi đền Salomon. Và rồi dưới sự lãnh đạo của Simeon BarKochba, cuộc khởi nghĩa đầy cay đắng của người Do Thái nổ ra năm 132. Mãi đến cuối năm 135, La Mã mới giành lại quyền kiểm soát với sự hy sinh của hơn nửa triệu người Do Thái. Đó có lẽ là cuộc chiến tranh của riêng Hadrian, cuộc chiến mà chỉ có duy nhất ông ta là người thực sự phải chịu trách nhiệm. Nhưng cũng cần phải nhấn mạnh rằng những rắc rối chung quanh cuộc khởi nghĩa của người Do Thái và sự đàn áp tàn bạo dành cho nó chỉ là nét cá biệt trong triều đại Hadrian. Ngoại trừ sự việc này, chính phủ của Hadrian là 1 chính phủ ôn hòa và thận trọng. Hadrian quan tâm sâu sắc đến luật pháp. Ông chỉ định luật gia nổi tiếng người Châu Phi Lucius Salvius Julianus soạn thảo 1 đạo luật rõ ràng và cho văn phòng pháp quan La Mã công bố mỗi năm. Đây là 1 sự kiện quan trọng trong nền luật pháp La mã. Nó cung cấp cho người lao động nghèo cơ hội có được những kiến thức tối thiểu về quyền được luật pháp che chở mà họ được hưởng.
Năm 136, Hadrian, lúc này 60 tuổi và sức khỏe bắt đầu đi xuống, muốn tìm kiếm 1 người thừa kế. Có thể Hadrian kiếm tìm sự bảo vệ trước mối đe dọa của những kẻ đang nhòm ngó chiếc ngai vàng trong khi ông ta ngày càng suy yếu. Hoặc cũng có thể Hadrian chỉ đơn giản tìm kiếm 1 cuộc chuyển giao quyền lực an toàn cho Đế chế. Cho dù là vì cái gì đi nữa, Hadrian nhận Lucius Ceionius Commodus làm người thừa kế. Và 1 lần nữa khoảng tối trong con người Hadrian lại bộc lộ khi ông ta ra lệnh cho những người bị nghi ngờ là có thể đe dọa sự kế vị của Commodus tự tử, đáng kể nhất trong số đó phải kể đến Lucius Julius Ursus Servianus, nghị sĩ xuất sắc và là anh em rể của Hadrian. Dù đã được chọn làm người thừa kế, dù mới chỉ ở tuổi 30, nhưng sau 1 cơn bạo bệnh, Commondus qua đời ngày 1/1/138. Một tháng sau đó, Hadrian nhận Antonius Pius, 1 nghị sĩ rất đáng kính làm người kế vị với điều kiện Pius (không có con) đến lượt mình phải nhận người cháu trai đầy triển vọng của Hadrian là Marcus Aurelius và Lucius Verus (con trai của Commondus) làm người thừa kế.
Chuỗi ngày cuối cùng của Hadrian rất không êm ả. Ông suy sụp hơn bao giờ hết và trải qua những cơn đau dai dẳng & dữ dội trên giường bệnh. Hadrian muốn chấm dứt cuộc đời mình bằng 1 lưỡi kiếm hay 1 liều thuốc độc nhưng những người phục vụ ngày càng thận trọng giữ những thứ đó ngoài tầm tay của ông. Một lúc nào đó, ông thậm chí còn ra lệnh được cho 1 người hầu ngốc ngếch có tên là Mastor giết ông. Nhưng ở thời khắc cuối cùng, Mastor đã không thể thực hiện được mệnh lệnh đó. Tuyệt vọng, Hadrian giao toàn bộ chính phủ vào trong tay Pius, tuyên bố nghỉ hưu, rồi qua đời không lâu sau đó vào ngày 10/7/138 tại khu nghỉ dưỡng Baiae. Là 1 nhà chính trị thiên tài đã có công duy trì sự ổn định và hòa bình cho La Mã đế chế trong vòng 20 năm, nhưng Hadrian qua đời mà không có được sự ưa chuộng của dân chúng. Hadrian là 1 vị Hoàng Đế có giáo dục, ông đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho đức tin, cho luật pháp, cho nghệ thuật, và cho nền văn minh La Mã. Nhưng Hadrian cũng đồng thời mang trong mình 1 khoảng tối khiến ông nhiều lúc bị nhìn nhận như Nero hay Domitian. Ông đã sống trong sự lo sợ. Và 1 vị Hoàng Đế luôn lo sợ khó lòng được dân chúng ưa chuộng. Thi thể Hadrian được hỏa táng 2 lần tại 2 nơi khác nhau, những gì còn lại được đặt trong lăng mộ mà ông tự xây cho mình tại Rome. Viện nguyên lão sau đó miễn cưỡng truy phong cho Hadrian theo yêu cầu của Antonius Pius.
[SIZE="5"]www.lichsuvn.info[/SIZE]