+
Bahamut: Đây là bậc tiền nhân trong FF, trước cả Moogle. Bahamut là chúa tể rồng, và thường là summon mạnh nhất trong FF. Đòn tấn công quen thuộc của Bahamut là Mega Flare(hoặc là tùm lum Flare), tái hiện hình ảnh một bóng rồng dũnh mãnh lao từ vũ trụ bao la xuống mặt đất, tung một nguồn năng lượng vĩ đại từ hàm, gây thiệt hại lớn cho trái đất. Bahamut ko đc phân biệt là chính diện hay tà đạo, với vai trò là một summon huyền thoại hùng mạnh, nó chỉ phục vụ cho bất cứ ai có khả năng chiếm hữu nó. Người chơi muốn có đc Bahamut thường phải vượt qua những thử thách gian khổ. Trong FFIX, Bahamut có một xuất hiện khá ấn tượng khi ở trong tay Kuja, và cũng là một summon mạnh của Garnet, chỉ sau Ark. Mỗi phiên bản FF chứng kiến một sự lột xác về vẻ bề ngoài và sức mạnh của summon này. Điều làm cho mình cảm thấy ham thích nhất ở mỗi phiên bản mới là Bahamut, bởi vì mỗi phiên bản Bahamut đều có vẻ đẹp riêng, cho tới bây giờ mình thích nhất là Bahamut của FFIX. Hình tượng của Bahamut đc phổ biến trong các game khác như Bahamut Lagoon hay Chocobo Racing, thậm chí Mario cũng phải đối đầu với Bahamut. Trong FFVII, Bahamut xuất hiện với nhiều hình dạng khác nhau, cụ thể là Bahamut, Neo Bahamut(Giga Flare), Bahamut ZERO(Terra Flare), Fury Bahamut(Exa Flare) và Bahamut TREMOR, trong số đó mình thích nhất là Fury Bahamut. Bạn hãy thử chọn cho mình một hình tượng Bahamut ưa thích xem!
FFXII ko có Bahamut, thay vào đó non-elemental Esper là Explodus, một summon mang hình dáng, tên gọi và tính cách giống ExDeath.
+
Odin: là summon huyền thoại xuất hiện sau Bahamut, nhưng có mặt trong hầu hết các phiên bản ngoại trừ FFX( ở đây Odin đc thay bằng Yojimbo). Vay mượn từ thần thoại Na Uy, Odin là thần tối cao cũng giống như Zeus trong thần thoại Hy Lạp. Trong FF, Odin cưỡi con ngựa tám chân(hoặc sáu chân) Sleipnir và mang một thanh đao với tuyệt chiêu sát thủ Zantetsuken, sẵn sàng chém bay đầu đối thủ. Trong một vài bản, Odin còn mang theo một cây giáo ném đâu trúng đó Gungnir. Odin gây đc ấn tượng với gamer qua cách ra đòn “1 phát chết liền” của mình, và cho dù khả năng đó ko hiệu quả với tất cả đối phương với tỉ lệ thành công có giới hạn, khó có ai bỏ qua đc summon này.(kinh nghiệm cho thấy là Odin đc dùng như cứu cánh cuối cùng trước một đối thủ dai máu như Malboro hay là các loài rồng, ngoại trừ boss. Một party mạnh thường xếp xó Odin do đòn tốn nhiều mana và ko hiệu quả. Trong FFVIII Odin đc gọi ngẫu nhiên nhưng tỉ lệ là 99%, do Seifer:d). Để có đc Odin, người chơi cũng phải khá vất vả trong trận đấu với nó, chủ yếu là thiên về tấn công vật lí và tốc độ. Odin cũng có họ hàng là Gilgamesh và Yojimbo. Gilgamesh chỉ xuất hiện với vai trò summon trong FFVIII, có 4 cây hàng thì hết ba cây là củ chuối, chỉ có cây đao của Odin mới thực sự mạnh. Còn Yojimbo thì thôi khỏi nói, trùm Penance cả triệu máu chú samurai này làm 1 nhát trong 1 phút là xong, một giải pháp cho ai lười luyện mà ham đánh trùm phụ:d
+
Ifrit: một summon lâu đời khác của FF. Ifrit là thần lửa và thường xuất hiện ngay khi các nhân vật có khả năng summon. Ifrit có vẻ bề ngoài của một quái thú địa ngục với lớp da màu máu lửa và cặp sừng cong nhọn, nhưng phần nào giống con người với tứ chi và cơ bắp. Hình tượng của Ifrit có thể đc pha trộn từ thần Pan nửa người nửa dê trong thần thoại Hy Lạp và thần đèn trong tín ngưỡng của người Ấn Độ xưa. Đòn tấn công quen thuộc của Ifrit là Hellfire. Cũng như vẻ bề ngoài, cách thức tung đòn Hellfire của Ifrit cũng thay đổi theo sự phát triển của dòng game qua từng phiên bản. Ifrit là lựa chọn của những summoner “nhập môn” vì tốn ít mana và mang thành tố lửa, dễ chọi với các quái mang thành tố băng.
+
Shiva: giống như Ifrit, Shiva cũng là một summon lâu đời và xuất hiện sớm trong game. Trái với Ifrit, Shiva mang thành tố băng. Shiva mang hình dáng của một người phụ nữ trẻ gợi cảm nhưng lạnh lùng với lớp da xanh xao. Điểm nổi bật của Shiva là nàng tiên tuyết này chỉ mặc hai mảnh, đôi khi chỉ có một mảnh:d, nên nét “sexy” đã khiến Shiva đc các Fan hâm mộ. Trong hai phiên bản FFVIII và X đã tạo nên một hình ảnh đẹp nhất của Shiva cho tới lúc này. Cái tên Shiva lấy từ tên của thần sáng tạo và hủy diệt trong tín ngưỡng của người Ấn Độ, ko hỉu sao vị thần này là nam nhưng Shiva trong game lại là nữ, và đặc điểm của cả hai ko giống nhau lắm nên có thể cả hai ko liên quan tới nhau. Vì mang yếu tố của băng nên Shiva đối địch sâu sắc với Ifrit, tuy nhiên ít khi thấy hai vị thần này đánh nhau. Đòn tấn công của Shiva là Diamond Dust và ko hề thay đổi qua các phiên bản, cơ bản là Shiva đóng băng tất cả đối thủ bằng một khối băng khổng lồ. Squaresoft đã rất khéo léo khi gắn kết hình ảnh của băng giá với một người phụ nữ gợi cảm, đây là một kết hợp đậm tính nghệ thuật( có thể là do ảnh hưởng từ câu chuyện bà chúa tuyết, nhưng bả đâu có “sexy” :d). Shiva thường xuất hiện song song với Ifrit ngoại trừ trong Crisis Core, khi mà Ifrit đóng lẻ. Trong FFXII, summon băng ko phải là Shiva mà là Mateus the Corrupt. Shiva xuất hiện trong FFXII Relevant Wing.
+
Ramuh: lửa, băng và sét là ba yếu tố thường gặp trong FF, và Ramuh là một bổ sung cho một bộ ba summon hoàn chỉnh, thích hợp khi chiến đấu với kẻ thù đứng trong nước. Tuy nhiên vị trí của thần sét ko phải lúc nào cũng vững như hai summon kia, trong hai phiên bản nổi bật VIII và X, Ramuh bị soán ngôi bởi Quetzalcoalt và Ixion. Quetzalcoatl là tên một con rắn khổng lồ trong văn hóa người da đỏ( Aztech hay Maya gì đó ko nhớ), còn Ixion là tên của một vị vua trong thần thoại Hy Lạp, con của chiến thần Ares và là người đầu tiên phạm tội giết người ruột thịt, Ixion đã làm tình với đám mây mà hắn tưởng là Hera, tạo ra loài nhân mã, Ixion cũng là tên của một thiên thể trong thái dương hệ( ko liên quan tới con ngựa một sừng trong FFX lắm, ngoại trừ chi tiết nhân mã). Ramuh mang hìng dáng của một nam pháp sư già và đòn chí mạng của Ramuh là Judgement Bolt, với Quetzalcoatl thì đó là Thunder Storm còn Ixion thì dùng Thor’s Hammer. Ramuh thường xuất hiện ngay sau Shiva và Ifrit, và bộ ba này tha hồ làm mưa làm gió lên đầu một đám quái đông nhưng yếu, dùng các summon này lên một đối thủ trâu bò thì ko phải là giải pháp tốt. Ramuh cũng có những đóng góp cho cốt truyện của game, trong FFVI và IX, Ramuh giúp đỡ nhân vật nữ chính. Ramuh có lẽ đóng vai trò của một vị hiền triết trong quần thể summon, khi mà ông ta luôn là người tồn tại sau cùng của một sự hủy diệt để cho hậu thế biết về sự tồn tại của các summon( FFVI và IX). Ramuh mang bản tính của một con người hiền lành và tốt bụng, có cảm tình với loài Moogle( Ramuh dạy cho Mog trong FFVI nói tiếng người). Xét về quan hệ với các summon khác, Ramuh có lẽ quen biết với Ifrit do trong FFIV: The After Years, Ramuh sẽ mất đi nếu bạn đánh ông ta mà ko mang theo Ifrit để vị thần lửa này thuyết phục Ramuh, đồng thời Ramuh đứng vị trí sau Ifrit trong bản summon.
+
Leviathan: đây là summon có thể nói là mạnh thứ hai sau Bahamut. Xuất hiện từ FFII và tồn tại mãi tới FFIX. Một điều lạ là FFX đề cao yếu tố nước hơn các bản khác nhưng hoàn toàn ko có Aeon nước, do đó Leviathan vắng bóng. Lí do có lẽ là vì Yuna ko biết lặn nên ko gọi đc Leviathan:d, tuy nhiên có một con quái vật tên là Shinryu có vẻ ngoài khá giống Leviathan. Leviathan có hình dạng của một con rắn biển trong thần thoại, cái tên Leviathan là mượn từ tên của con cá voi khổng lồ trong kinh thánh, con cá này lớn tới nỗi ko thể nào có hai con cùng tồn tại trên Trái Đất. Tương tự như Bahamut và Odin, Leviathan đòi hỏi người chơi vượt qua một trận đấu trùm gian nan để sở hữu summon của nó, trận đấu này thường bị game over do Leviathan mở hàng trước bằng Tidal Wave, chiêu đặc trưng của nó, tuy nhiên qua nhiều phiên bản chiêu này đc đặt tên là Tsunami, dù gì thì cũng là sóng thần. Do là yếu tố nước nên nhược điểm chết người của Leviathan là sét, và đòn của nó lâu lâu lại bị hấp thu bởi các loài thủy quái vật. Trong FFIV, Leviathan là chúa biển và là vua của Eidolon. Là một summon mang thành tố nhưng Leviathan mạnh hơn nhiều so với bộ ba kia, tuy nhiên yếu hơn Bahamut, vốn tấn công bằng non- element. Trong FFII, vốn chưa có summon, Leviathan là con thủy quái khổng lồ nuốt cả nhóm Firion vào bụng, khiến họ tìm ra con đường tiếp cận Mateus. FFXII có Esper nước là Famfrit the Darkening Cloud, lấy hình tượng từ Cloud of Darkness.
+
Atomos: Là hình tượng tiêu biểu cho summon mang yếu tố bóng tối, Atomos đôi khi đc thay thế bằng các summon khác như Diablos, Hades, Ark hay Anima. Atomos được miêu tả như một cánh cổng, hút mọi thứ vào hư không và dùng trọng lực bóng tối. Diablos thì đc mệnh danh là sứ giả bóng tối, với đòn đánh Gravija liên quan đến trọng lực. Ark là một chiếc phi thuyền của người Terra, với tuyệt chiêu Eternal Darkness. Còn Anima là aeon sinh ra từ linh hồn của mẹ Seymour trong FFX, có hình dáng gần giống form cuối cùng của Ultimecia, với khả năng điều khiển không gian và chiêu Oblivion. Trong FF XII Esper của bóng tối và trọng lực là Zeromus, tên của trùm cuối FFIV. Các summon bóng tối này xuất hiện rất hạn chế trong dòng game, nhưng đều có mặt trong những phiên bản nổi bật.
Còn cái vụ Knight, mình nói nhầm, Knight phải có Ability cover để bảo vệ đồng đội, shield có thể trang bị, mà Knight thì ko hợp với Squall chút nào cả
Còn về Job, mình muốn đề cập ở đây là chủ yếu thiên về cốt truyện hơn, có nghĩa là Ability có ảnh hưởng tới cốt truyện, nên nói chung, Terra vẫn là Sage. Mà bạn nói nghe ghê quá, những nhân vật đc biết bao nhiu người hâm mộ mà là bụi đời, phản quốc. Nói giảm nói tránh ko đc sao, chẳng hạn như Adventuer và nghĩa quân chẳng hạn.