"Trong suốt quá trình khởi động máy tính, nhấn liên tục phím F8 cho đến khi Windows Advanced Options Menu xuất hiện". Bạn nên thuộc lòng câu "thần chú" này bởi vì chúng ta sẽ luôn sử dụng nó như một chiếc chìa khoá để mở cánh cửa đến với thế giới bí mật của phím F8. Lúc này trước mắt bạn sẽ không phải là một màn hình windows quen thuộc như mọi lần, mà thay vào đó là một màn hình tối đen Window Advanced Options Menu với các dòng lệnh mà có lẽ sẽ khiến bạn thắc mắc nhiều về nó.
Sau câu mời mọc ở góc trên màn hình "Please select an option:", và câu hướng dẫn phía cuối màn hình, bạn sẽ dễ dàng biết được cách điều khiển sơ bộ trong giao diện Windows Advanced Option Menu. Bằng cách này, bạn có thể khởi động chương trình Windows với các chế độ Safe mode, Enable Boot Logging, Enable VGA Mode hoặc Last Know Good Configuration...
Vậy Safe Mode là gì?
Safe Mode (chế độ khởi động an toàn) là chế độ mà khi chọn, nó cho phép người dùng khởi động vào Windows chỉ với những khả năng truy xuất các tập tin cơ bản, cũng như tạo xóa tập tin, tạo xóa user, cài đặt hoặc bỏ cài đặt chương trình và vận hành các trình điều khiển cơ bản nhất như: chuột; bàn phím, màn hình, ổ cứng, video, và một số dịch vụ hệ thống chủ yếu cần có để chạy một hệ điều hành Windows, mà không có một chương trình dịch vụ nào khác được mặc định thực thi như khi khởi động vào Windows ở chế độ thông thường. Bên cạnh đó, người dùng còn có thể chọn khởi động ở chế độ Safe Mode with Networking cũng với những trình điều khiển mặc định như chế độ Safe Mode, tuy nhiên ở đây trình điều khiển card mạng cũng được khởi động nhằm giúp người dùng có thể kết nối Internet trong chế độ Safe Mode. Hoặc bạn có thể chọn chế độ Safe Mode with Command Prompt mà hoàn toàn giống chế độ Safe Mode nhưng chỉ có điều người dùng chỉ có thể thực hiện các chỉ thị bằng dòng lệnh thay vì bằng giao diện đồ họa của Windows.
Tại sao phải khởi động ở chế độ Safe Mode?
Khi bạn có một vấn đề rắc rối trong hệ điều hành máy tính về driver (các trình điều khiển), hoặc các chế độ thiết lập trong Windows thì Safe Mode sẽ giúp bạn chuẩn đoán ra những vấn đề đó. Điều này có nghĩa là, nếu bạn không còn thấy những vấn đề rắc rối đó xuất hiện trong chế độ Safe Mode thì bạn hoàn toàn có thể tin rằng nguyên nhân gây lỗi không phải đến từ các chế độ thiết lập Windows mặc định và các trình điều khiển (driver) cơ bản để vận hành Windows. Đồng thời, nếu bạn phát hiện được lỗi gây ra bởi những phần mềm hoặc driver vừa được cài đặt thêm bạn có thể gỡ bỏ chúng để phục hồi trạng thái cũ.
Một ví dụ thực tiễn sẽ làm bạn dễ hình dung hơn: Khi bạn vừa cài đặt vào máy tính một chương trình mới hoặc một driver (trình điều khiển) thiết bị nào đó làm cho máy tính bạn xuất hiện những triệu chứng khác thường như: báo lỗi, tự khởi động lại hoặc quá chậm đến nỗi bạn không thể làm được gì cả. Lúc này, bạn có thể khởi động lại máy tính trong chế độ Safe Mode, do chỉ có một số trình điều khiển cơ bản nhất được vận hành, như vậy bạn có thể dễ dàng bỏ cài đặt những chương trình hoặc driver gây ra lỗi vừa được cài đặt để khôi phục trạng thái ban đầu.
Bên cạnh các chế độ Safe Mode, bạn sẽ dễ dàng khám phá ra những "cánh cửa" khác giúp ích khá nhiều trong việc sửa chữa máy tính như:
+ Enable Boot Logging: Chế độ này sẽ lưu lại những sự kiện xảy ra trong suốt quá trình boot (khởi động) vào một tập tin có tên là Ntbtlog.txt trong thư mục Windows. Bảng ghi lỗi này sẽ giúp bạn gỡ bỏ một số rắc rối xảy ra trong quá trình boot thông thường.
+ Enable VGA Mode: Là chế độ khởi động Windows XP với độ phân giải màn hình hiển thị mặc định 640x480. Chế độ này sẽ hữu ích cho bạn khi màn hình hiển thị không được thiết lập đúng với độ phân giải màn hình máy tính hỗ trợ, mà bạn không thể chỉnh sửa lại trong Windows ở chế độ bình thường do màn hình đã chuyển sang màn hình cảnh báo "OUT OF RANGE".
+ Last Known Good Configuration: Chế độ sẽ khởi động Windows bằng việc sử dụng cấu hình tập tin hệ thống, sự thiết lập registry, và những trình điều khiển tốt nhất mà hệ điều hành đã từng được thiết lập trước đó. Ví dụ nếu bạn vừa update (nâng cấp) một trình điều khiển thiết bị mới mà máy tính của bạn không thể khởi động một cách bình thường, thì sự lựa chọn này sẽ khôi phục lại cấu hình làm việc tốt nhất trước đó khi khởi động lại Windows.
+ Directory Service Restore Mode: Nếu bạn có một máy chủ domain controller (máy chủ), và muốn truy xuất vật lý vào domain controller, bạn có thể khởi động lại domain controller với chế độ Directory Services Restore Mode. Trong chế độ này, máy sẽ không mang chức năng là một domain controller.
+ Disable automatic restart on system failure: Tắt tính năng khởi động lại máy khi hệ thống gặp sự cố. Tính năng này nhằm giúp người dùng tự tìm và sửa lỗi hệ thống mà không có sự can thiệp "thô bạo" từ hệ điều hành.
+ Debugging Mode: cho phép những thông tin lỗi được gửi qua cáp kết nối đến một máy tính khác mà đang chạy chương trình gỡ lỗi.
+ Start Windows Normally: Khởi động Windows với chế độ bình thường.
+ Reboot: Khởi động lại máy tính.
+ OS Choices Menu: Chọn hệ điều hành cần khởi động khi máy tính của bạn được cài đặt từ 2 hệ điều hành trở lên.(Hình 3)
Làm sao để thoát khỏi chế độ Safe Mode?
Câu hỏi nghe tưởng chừng như rất khó khăn trong việc thoát khỏi chế độ Safe Mode, nhưng thực tế lại hoàn toàn ngược lại. Từ chế độ Windows Safe Mode bạn click Start/Shutdown và khởi động lại máy tính. Như vậy, máy sẽ tự động khởi động lại trong chế độ Windows thông thường.