Tập 2: Âu Châu, hành trình huyền thoại
Chapter 5: Sài Gòn những đêm không ngủ (4)
[SPOIL]
[4:00 AM – April 25, 2012]
“Nhà thờ Tắc Sậy, thuộc địa phận thành phố Cà Mau, cách tỉnh Bạc Liêu 37km. Là một trong những địa danh tham quan nổi tiếng cho du khách nước ngoài khi đến Việt Nam, đặc biệt là những người Cơ Đốc Giáo mộ đạo.”
Cầm quyển sách hướng dẫn dành cho khách du lịch trên tay, tôi khẽ lầm bầm như đang cố giết thời gian bằng cái cách cổ điển nhất.
Tôi không theo đạo, tôi cũng chẳng tin vào bất kỳ một Đấng nào cả. Nhưng có đánh chết tôi cũng không nghĩ đến việc Lý Dương lại là người Cơ Đốc Giáo. Nếu nói theo cách của anh ta thì hẳn phải là: “Đếch thể tin được!”
Đến Việt Nam từ ngày hôm qua, chúng tôi trực tiếp thuê một chiếc xe, chạy hơn mấy trăm cây số để đến cái đất khỉ ho cò gáy mà muỗi có thể thỏa sức trêu chọc con người như ở đây.
Nửa tháng trước, thương thế của tôi đã hoàn toàn lành lặn, sức chiến đấu đã khôi phục như cũ, thậm chí còn có biểu hiện vượt trội hơn xưa, dù vỏn vẹn chỉ là về mặt kinh nghiệm chứ không phải chất lượng thân thể. Con đường đến với hóa kình còn khá xa xôi, xem ra tôi cần phải cố gắng thêm nhiều.
Nhấp một ngụm café, tôi ngả người ra sau toan chợp mắt một lúc. Vì Lý Dương đã cảnh báo từ trước rằng nơi này dân móc túi khá nhiều nên tôi đã quyết định mua café rồi chui tọt vào xe mà từ từ chờ đợi. Lại nói đến café, quả thật anh ta không nói ngoa chút nào. Café nơi này thật sự rất ngon đấy, lại còn rẻ nữa chứ.
Cái thứ café tôi vẫn thường hay uống trước kia cùng bạn bè sau khi tan học nếu so với ở đây thì thật chẳng ra gì, hình như gọi là Starbucks thì phải? Tôi đã tận mắt nhìn thấy bà chủ quán dùng phin rồi để hạt café xay mịn vào trong, sau đó lại đổ nước sôi. Cái cảm giác chờ đợi café nhỏ từng giọt thật thú vị và tao nhã làm sao.
Tôi uống cả hai loại một lúc, café đen và café sữa. Mỗi thứ mang lại một loại trải nghiệm khác nhau. Dù trước đây, tôi chẳng hề biết đến Việt Nam là cái quốc gia như thế nào và kệ xác việc nó nằm ở đâu, nhưng giờ thì hẳn phải ghi nhớ cho kỹ rồi. Thứ nhất vì nó vốn là quê hương của đội trưởng, thứ hai vì café ở đấy rất ngon.
…
Bốn giờ sáng, nhà thờ chuẩn bị cử hành phiên chầu đầu tiên trong ngày. Tôi không muốn tham dự nhưng cũng ráng nán lại một góc mà đợi vị linh mục kia thực hiện xong nghi thức nghĩa vụ mà ông phải làm.
Không biết bao lâu rồi tôi chưa đọc kinh cầu nguyện nhỉ? Hai mươi năm? Có lẽ phải hơn. Cha mẹ tôi đều là người Cơ Đốc Giáo, và từ bé tôi đã được dạy dỗ trong một gia đình với truyền thống mộ đạo lâu đời. Ngay cả ngôi trường mà tôi theo học lúc nhỏ tại Sài Gòn cũng là một trường thuộc dòng Chúa cứu thế của người Pháp xây dựng nên.
Nhưng từ khi gặp nạn ngoài biển, cha mẹ bị bọn hải tặc Thái Lan giết chết, tôi đâm ra mất lòng tin vào tôn giáo. Thậm chí đã từng có một quãng thời gian tôi liên tục sinh ra những suy nghĩ cực đoan hướng về sự căm ghét, và luôn tự hỏi rằng nếu Chúa trời thật sự tồn tại thì tại sao ông ta không bảo vệ cha mẹ tôi, những con chiên ngoan đạo chưa bao giờ phạm phải những điều răn giới luật?
Thế nhưng dẫu có thống hận đến mấy thì ít nhất với bổn phận làm con, tôi cũng phải hoàn thành nghĩa vụ của mình là có thể an táng cha mẹ một cách đàng hoàng. Tuy xác của ông bà đều đã vùi thây nơi biển cả, nhưng di vật thì vẫn còn. Của cha là cái đồng hồ quả lắc đã sớm không còn xài được, còn của mẹ là cặp bông tai bằng vàng. Tôi gửi hai thứ này vào nhà thờ, đặt trong một hủ tro tại phòng hài cốt để họ quanh năm được hưởng sự thanh bình.
Độ chừng nửa giờ sau, khi tất cả mọi người đều uể oải rời đi khỏi nhà nguyện, từ xa một người đàn ông vận phục trang linh mục từ từ tiến đến gần chỗ tôi.
“Lâu rồi không gặp, anh vẫn khỏe chứ?”
“Ừm, còn chưa chết được. Mấy năm qua đã làm phiền cha rồi.”
“Đừng nói vậy, nhờ có những người quyên góp thiện nguyện như anh mà đến giờ chúng tôi đã xây được ba cái trường học, bốn trại mồ côi và hai cái viện dưỡng lão rồi. Nhưng nói thật, suốt ba mươi năm giảng dạy và làm công tác từ thiện vì giáo hội, tôi chưa thấy tín đồ nào nhiệt thành như anh vậy. Người ta dù quyên góp nhưng cũng chỉ vài lần rồi thôi, còn anh thì hầu như mỗi năm đều đúng hẹn không sai lấy một ngày. Thay mặt toàn thể giáo dân Tắc Sậy chân thành cảm ơn anh, Lý Dương.”
Nhắc đến chuyện này, hình như quả thật mỗi năm vào ngày giỗ cha mẹ tôi đều gửi tiền về đây để mấy lão linh mục lo liệu cho tươm tất một chút. Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, cái đạo lý này tất nhiên đúng trong mọi trường hợp. Nhưng không nghĩ là số tiền của tôi lại được dùng cho việc từ thiện.
“Vì số tiền của anh gửi về suốt mười mấy năm qua quá nhiều nên tôi đã đặc biệt ghi chú tất cả vào sổ sách, anh xem qua một chút đi.”
Lão linh mục lấy ra một quyển sổ đưa cho tôi, trong đó chính là chi tiết toàn bộ những lần mà tôi đã gửi tiền. Bắt đầu từ năm 1999, đến nay đã là 13 năm rồi. Hai ba năm đầu chỉ gửi thành từng đợt vào ngày giỗ mỗi năm, nhưng hình như năm 2004, lúc tôi còn đang ở Iraq thì có một bức điện tín đến từ Việt Nam và hỏi xin tôi chút tiền để xây dựng cái khỉ gì đó thì phải.
Tôi chẳng quan tâm lắm nên đồng ý đại cho qua chuyện, nhưng tăng từ một lần gửi thành hai đến ba lần mỗi năm. Không phải tôi không tiếc tiền, nhìn sơ qua thì con số cũng đã lên đến gần trăm nghìn rồi, nhưng tôi quyên góp trên danh nghĩa là để phụng dưỡng hương khói cho cha mẹ nên chẳng có gì phải vướng bận trong lòng cả. Vả lại con người tôi tuy hám tài nhưng xài tiền cũng rất thẳng tay, hẳn đó là nguyên nhân chính của việc tại sao tôi vẫn chưa được lọt vào top những đại gia điển hình của Đông Nam Á.
Vẫn như mọi năm, tôi đến đây thắp cho ông bà vài nén nhang, tâm sự một chút với người đã khuất rồi đi ngay. Tuy hôm nay không phải ngày giỗ nhưng tháng sau tôi phải sang London rồi, trận này lớn lắm, có khi phải bỏ mạng tại đó cũng không chừng.
Tôi có thói quen tính toán trước khi đánh, nếu trận nào tỷ lệ sống sót thấp hơn 50% thì sẽ về Việt Nam thăm cha mẹ, xem như là thắp hương lần cuối. Còn nếu dưới 10% thì dứt khoát không cần phải đi. Bởi vì lính đánh thuê tuy là loại người chuyên đem tính mạng của mình ra để cược, nhưng nếu tỷ lệ quá thấp thì đơn giản chỉ là đi thí mạng mà thôi. Người ta gọi đó là ngu chứ không phải là liều.
Khi tôi ra đến xe thì liền thấy Shiki đang nằm sau băng ghế phụ ngủ ngon lành, con bé này hẳn chỉ có lúc ngủ mới diện ra được cái bộ mặt dễ thương như vậy. Tôi cũng chẳng muốn đánh thức cô ta nên cho xe chạy thẳng về Sài Gòn.
Hôm nay là ngày 25 tháng tư, một ngày nóng bức.
…
“Nghỉ đủ chưa?”
“Sao anh biết tôi không ngủ.”
“Hơi thở của cô ổn định hơn bình thường, có người nào khi ngủ lại đi khống chế nhịp tim của mình không?”
Tôi bó tay thật rồi, và cũng xin trịnh trọng rút lại lời nhận xét ban nãy, con bé này ngủ cũng chẳng dễ thương thêm chút nào đâu. Ngay cả trong lúc ngủ mà còn cảnh giác như vậy, liệu đây có phải là một con nhóc 16 tuổi không vậy?
“Một ngày tôi ngủ chưa đến ba tiếng, nhưng ba tiếng đó mới là giấc ngủ thật sự, còn những lúc khác thì chỉ gọi là nhắm mắt dưỡng thần để bảo trì thể lực thôi.”
Nói đi nói lại, cũng tại tôi chợt quên mất thân phận thật sự của cô ta. Kinoshita Shiki, thiên tài võ đạo trăm năm có một của Nhật Bản, chỉ còn cách hóa kình cảnh giới một bước nữa thôi.
“Nhắc mới nhớ, năm 2006 tôi từng tham gia một chiến dịch ở Iran, nhưng sau cùng lại thất bại thảm hại. Đám tàn binh bọn tôi chỉ còn vỏn vẹn hơn ba mươi người, bị hai trung đội của lục quân Hoa Kỳ truy sát liên tục đến tận rìa biên giới giáp ranh giữa Pakistan và Afghanistan mới thoát được. Tại thời điểm đó chúng tôi đã chạy liên tục suốt nửa tháng trời, thậm chí cả thời gian ngủ cũng phải rút ngắn lại mà vẫn còn suýt chết mấy lần. Trong đội lúc ấy có một gã quân y người Đức, thằng cha này biết thuật thôi miên nên đã áp dụng lên vài tay súng chủ chiến để họ có thể tiến vào giấc ngủ sâu hòng nhanh chóng hồi phục thể lực. Một người bình thường thực chất chỉ ngủ chưa đến bốn tiếng một ngày, nhưng thường thì họ phải mất gần gấp đôi quãng thời gian ấy để tiến vào giấc ngủ sâu đúng nghĩa.”
“Còn anh?”
“Cô nghĩ xem? Thần kinh trung khu tuy khá phức tạp nhưng Healing Potential không phải là không thể với tới. Thêm vào đó tôi còn biết cả thuật Yoga nên dù có thôi miên hay không cũng không sao, chỉ cần tôi muốn thì lặp tức có thể tiến vào giấc ngủ sâu ngay lặp tức. Vả lại cho dù có hoạt động liên tục mấy chục giờ đồng hồ cũng chẳng thể khiến thể lực tôi cạn kiệt được, cùng lắm là suy nhược tinh thần và mệt mỏi một chút thôi.”
“Còn tôi khi ngủ thì áp dụng một loại ý cảnh Thụy Pháp của Hình Ý Quyền gọi là Trập Long Miên, dân trong nghề quen gọi là Miên Tức. Chân lý của pháp quyết này nằm ở ba chữ Hoạt Tử Nhân. Đem nhịp tim khống chế giảm đến mức thấp nhất, tất cả công năng của thân thể đều lặp tức đình trệ, gần như là chết nhưng thật ra vẫn còn sống. Khoa học gọi kiểu ngủ này là ngủ đông. Động vật máu lạnh khi ngủ đông thường có sức đề kháng và khả năng hồi phục mạnh mẽ hơn bình thường gấp mấy lần, và bản thân con người cũng không khác biệt gì mấy.”
Shiki vừa nói bằng tiếng Anh vừa xen tiếng Trung vào để nhấn mạnh vài danh từ ‘chuyên ngành’ làm tôi phải nghĩ một chút mới hiểu ra nội dung. Tiếng Trung của cô bé còn giỏi hơn cả tôi, nhưng cái kiểu nửa tây nửa tàu thế này nghe đúng thật là chẳng thể lọt lỗ tai được.
“Với một võ sư thì việc đi khám bác sĩ chẳng khác nào một sự sỉ nhục cả, anh dạy võ cho người ta mà còn bị thương thì ai dám bái anh làm thầy? Thế nên hầu hết các võ thuật gia thời trước đều cố gắng trang bị cho mình kiến thức về y học để có thể tự chữa trị cho bản thân, thậm chí là một số người mà tài nghệ y thuật của họ còn vượt xa cả võ công, Hoàng Phi Hồng là một ví dụ điển hình. Tuy nhiên không phải ai cũng có thời gian và dư thừa tinh lực để học tập những thứ xa xỉ như vậy. Cả đời luyện quyền mà chỉ cần phân tâm một chút thôi cũng khó lòng đạt đến đỉnh cao, thế nên Trập Long Miên được ra đời nhằm phục vụ cho việc hồi phục và tự chữa trị cho cơ thể trong lúc ngủ. Chỉ cần ngủ một giấc, sau khi tỉnh dậy thì thể lực và tinh thần sẽ đạt đến đỉnh cao, còn thương thế cũng sẽ hồi phục nhanh hơn bình thường gấp mấy lần.”
“Đủ… đủ rồi…”
Nhắc đến võ công là con bé lại cuồng nhiệt như vậy, nhìn qua gương chiếu hậu, cặp mắt của Shiki lúc này đang tỏa sáng hơn bao giờ hết. Bởi vì gương mặt trơ cứng nên hầu như tất cả những cung bậc cảm xúc đều dồn vào hai đôi mắt, và cũng vì thế mà nó lại trở nên xinh đẹp vô cùng.
Mãi nghĩ lan man, cảm giác thời gian trôi qua nhanh thật. Đi đường mà có người nói chuyện thế này cũng đỡ, dù hơi nặng đầu nhưng ít ra thì cũng có thể phân tán sự tập trung để chúng ta có thể dừng việc từ từ cảm nhận thời gian trôi qua bằng cả sáu giác quan.
…
“Anh từng sống ở đây à?”
Tôi chợt cảm thấy tò mò về chuyện trước kia của Lý Dương nên bật hỏi.
“Trước năm 1985.”
“Vậy sao anh lại sang Thái Lan?”
“Cha tôi là một cựu quân nhân của chế độ cũ, còn mẹ tôi thì lại chỉ là một nhà giáo nghèo mà thôi. Gia đình tôi trước kia vốn chẳng khá giả gì mấy, hay phải nói là rất nghèo, nhưng vì được chính phủ Hoa Kỳ chấp nhận đơn xin định cư nên chúng tôi mới đánh liều theo thuyền sang Indonesia để đợi người ta đón đi.”
“Tuy nhiên… chỉ vì… chỉ vì một nhóm cướp biển mà mọi hi vọng về một tương lai tươi sáng của gia đình tôi đều đã tan thành mây khói.”
Lý Dương chậm rãi kể, chất giọng trầm ấm của anh ta phải nói là cực kỳ hợp với mấy cải cảnh hồi tưởng đậm chất bi thương thế này. Nhưng dần anh ta càng nói càng kích động, tuy không biểu hiện gì qua gương mặt nhưng cặp mắt đỏ ngầu hằn lên từng sợi tơ máu và ngữ điệu lên xuống thất thường đã sớm bán đứng anh ta rồi.
“Nếu nói bởi chính sự đói kém đã ép gia đình tôi đến bước đường cùng, và tất cả cũng chỉ vì hai chữ ‘mưu sinh’ mà thôi thì cô tin không?”
Tôi không trả lời câu hỏi ấy, bởi vì căn bản từ khi sinh ra tôi đã được bọc trong nhung lụa. Một cuộc sống no ấm chỉ thiếu thốn mỗi tình cảm thì chẳng thể nào ép một đứa trẻ hiểu ra hai chữ ‘mưu sinh’ được. Xem ra quá khứ của Lý Dương còn đặc sắc hơn tôi nghĩ nhiều. Khó có thể tưởng tượng nổi tại sao anh ta lại có thể kiêng trì sống đến lúc này. Con người thật là một loài động vật phức tạp.
“Có trả thù được không?”
“Không.”
Lý Dương rút ra một điếu thuốc, tự châm rồi thở dài kể tiếp.
“Lúc đó tôi chỉ mới tám tuổi, không thể nhớ rõ được mặt mũi của bọn nó. Bởi thế sau này ra biển… cứ gặp hải tặc là tôi giết, bất kể già trẻ lớn bé. Cô không tưởng tượng nổi đâu, lão binh chịu trách nhiệm huấn luyện tôi tại trại quân sự tập trung là một bậc thầy trong loại hình nghệ thuật tra tấn bức cung. Ông ta dạy tôi trò lột da, tôi liền đem áp dụng lên người bọn cướp biển.”
“Lột từng mảnh da là trình độ loại kém, nếu có thể lột thành từng sợi thì tạm xếp hạng trung bình, còn nếu đem cả bộ da lột ra một lúc thì xem như tốt nghiệp. Sau khi lột xong tôi liền cắt lưỡi bọn nó để tránh việc tự sát, rồi tôi đạp từng đứa xuống biển, vừa uống bia vừa xem bọn nó vùng vẫy trong sự đau đớn tột cùng. Phải mất gần mười mấy phút chúng nó mới chết được, nếu đứa nào may mắn lọt vào hàm cá mập thì được chết nhanh hơn một chút.”
Tởm!
Nghe anh ta kể bằng cái giọng phè phè như chẳng có chuyện gì đáng bận tâm làm bao tử tôi lộn nhào hết mấy vòng. Đâu phải tôi chưa giết người bao giờ, nhưng dù có hận thù đến mức nào đi chăng nữa thì tôi cũng chẳng dám tra tấn người khác bằng cái kiểu man rợ như vậy. Không phải vì tôi sợ mà chùn tay, nhưng chỉ có loại người biến thái và đầu óc không được bình thường mới có thể thoải mái ung dung khi làm ra những hành động như vậy.
Lý Dương… gã này dần làm tôi sợ hãi.
Trước kia khi đánh với anh ta, thứ làm tôi cảm thấy áp lực chỉ vỏn vẹn là sức mạnh, còn giờ thì chính là vì cái tâm lý biến thái của anh ta.
“Dừng… đủ lắm rồi. Tôi ngủ tiếp đây.”
Cuộn mình vào một góc, tôi tranh thủ chợp mắt lấy sức. Múi giờ chỉ cách có vài tiếng nhưng chẳng hiểu sao ngay bây giờ tôi lại thèm một giấc ngủ vô cùng. Là tại café ở đây kém chất lượng hay vì cơ thể tôi có vấn đề?
“Xin lỗi.”
“Không sao, năm nào về nước làm giỗ cho ông bà già mà tôi chẳng buồn bực một lúc? Nhưng năm nay thì lại khác, cảm giác khó chịu trôi qua rất nhanh, hẳn là vì có cô ở đây.”
Lý Dương đột nhiên cười nhăn nhở, thái độ thay đổi xoành xoạch một cách chóng mặt, và cái vẻ mặt vô tư cùng đôi mắt u buồn ấy làm tôi phát nản. Ghét không chịu được.
“Anh là người đầu tiên có thể khiến tôi chủ động nói ra lời xin lỗi.”
“Này, cô em nghĩ câu trả lời của mình nghe có vẻ liên quan lắm sao?”
Đúng là chẳng liên quan thật.
…
Dưới màn đêm nặng trĩu thê lương, ánh trăng khuyết hết phân nửa tỏa sáng vằng vặc như đang dần chuyển sang màu bạc, lạnh lùng quan sát nhân sinh như mọi sự vốn chẳng liên quan đến mình. Tác dụng duy nhất của nó chỉ đơn giản là soi đường mà thôi, dù rằng cột đèn có thể thay thế nhưng dẫu sao đi chăng nữa thì phạm vi nhìn được cũng rất hạn chế.
Ánh trăng, bóng đêm, kẻ trốn chạy và người truy đuổi.
Tất cả những yếu tố tưởng chừng như chẳng hề liên quan đến nhau vô tình lại tạo nên một khung cảnh đấu tranh vô cùng hoành tráng để giành giật sự sống về tay mình.
Lý Dương hít mạnh một hơi, cơ bắp toàn thân co rút lại tụ thành từng bó chắc nịt, không còn giữ lại dáng cao gầy vô hại nữa mà dần to ra thấy rõ, tốc độ một lần nữa tăng lên đến mức khó tin.
Một đấm đánh mạnh vào sống lưng của kẻ đang chạy trước mặt khiến cho đốt xương sống chịu lực lặp tức nát vụn, té nhào ra đất. Lý Dương liền bỏ qua gã mà đuổi theo hai kẻ còn lại, nhưng trước khi đi cũng không hề quên tặng thêm cho đối phương một đạp vào đầu.
Vỡ tung.
Dịch não tràn ra mặt đường, máu và màn đêm dưới ánh trăng bạc càng thêm lộng lẫy vạn phần.
Healing Potential giúp thân thể của Lý Dương đạt đến cấp độ của một hóa kình cao thủ. Lực tay lên đến gần một tấn, tốc độ chạy tối đa ít nhất phải đạt đến 50m/s, tương đương với một chiếc xe hơi phân khối lớn lao đi với vận tốc 180km/h. Cộng thêm sức bật khủng khiếp cùng tấm thân chắc chắn như thép. Trong trạng thái Level Upper như vậy, Lý Dương gần như vô địch khi cận chiến.
Đã thế còn chưa tính đến khả năng kiểm soát thân thể tinh vi đến từng ngóc ngách mà chỉ có những võ thuật tông sư cảnh giới Nhân Thần Hợp Nhất trong truyền thuyết mới có thể làm được. Khả năng khống chế lực của Lý Dương sợ rằng còn cao hơn là những quyền sư luyện võ mấy chục năm.
Nếu nói Healing Potential là một con chip vi xử lý siêu hạng thì thân thể lúc này của Lý Dương chẳng qua chỉ là một cái máy tính loại ‘xuất sắc’ mà thôi, còn chưa phải là một ‘siêu máy tính’ đúng nghĩa. Bởi thế mới cần đến sự khống chế, chứ nếu để mặc hắn ‘quậy’ thả ga thì sợ rằng sớm muộn gì thân thể cũng sẽ bị hỏng nặng.
Não người giới hạn tiềm lực dưới vạch 10% cũng là vì nguyên nhân này, áp lực tải lên thân thể cũng tương đương với sức mạnh mà chúng ta có được. Siêu nhân mà không sở hữu thân thể của siêu nhân thì chẳng qua cũng chỉ là những siêu nhân trong thoáng chốc mà thôi.
Nhưng nếu có thể nâng cấp ‘bề ngoài’ lên một tầng cao mới, sợ rằng thực lực chân chính của Lý Dương cũng không hề thua kém những quái kiệt trong truyền thuyết giới võ thuật, hay gần gũi hơn chính là gã Judas, một nhân vật Bán Thánh với sức mạnh vượt xa trí tưởng tượng của con người.
Trước kia, Lý Dương còn khá mù mờ về năng lực của mình, và hắn luôn dựa vào uy lực của vũ khí nóng. Thế nhưng từ khi được Shiki chỉ điểm, cuối cùng thì Lý Dương cũng đã tìm ra phần còn sót trong phong cách chiến đấu của mình.
Vận kình và phát khí.
Sở hữu thân thể cấp bậc hóa kình cao thủ, không có lý do gì mà Lý Dương lại không thể tạo ra khí. Phương pháp vận hành chỉ cần Shiki nói qua một lần, hắn liền có thể hiểu rõ, bởi thân thể con người chính là thứ mà Lý Dương thông thạo hơn bất cứ ai.
Nếu chịu từ bỏ danh phận lính đánh thuê, bước ra vũ đài thế giới với thân phận của một võ thuật gia thì Lý Dương sẽ rất nhanh trở thành tâm điểm. Bởi vì hóa kình cao thủ trên thế giới này rất ít, và sự kiện một hóa kình cao thủ dưới bốn mươi tuổi ra đời sợ rằng còn đáng quan tâm hơn cả việc tỷ giá hối đoái chứng khoáng tăng vọt. Thậm chí nếu muốn, Lý Dương hoàn toàn có thể dựa vào danh tiếng để mở võ quán chiêu sinh cũng không thành vấn đề.
Võ thuật, đơn giản chỉ bao gồm ba yếu tố.
Sức mạnh, tốc độ và kỹ thuật.
Vận khí phát kình chính là thứ kỹ thuật mà Lý Dương khiếm khuyết.
Nhảy bật lên cao, Lý Dương lao thẳng về phía đối phương như một con sư tử dũng mãnh… là bằng cả bốn chi. Tư thế hoang dại này thoạt nhìn có vẻ rất kém thẩm mỹ, nhưng nếu lọt vào ánh mắt của một dân chuyên nghiệp thì sợ rằng họ sẽ cực kỳ hoảng sợ.
Kỹ thuật nhảy vồ bám sát tư thế chuẩn của những động vật săn mồi nơi thảo nguyên Châu Phi này được xem như là đòn phản kích sau cùng khi lâm vào tuyệt cảnh của một quân nhân. Loại kỹ thuật liều mạng này cực kỳ khó thực hiện, đã thế sau khi dùng xong buộc phải nhanh chóng kết liễu đối phương, và thường thì khi làm ra hành động như vậy thì trên miệng sẽ ngậm một con dao hoặc hai tay đã sẵn sàng giật chốt lựu đạn.
Tuy nhiên, Lý Dương lại dùng nó một cách hết sức ung dung. Chẳng phải để liều mạng, mà đơn giản chỉ vì để túm lấy cổ áo của kẻ địch mà thôi.
Giật mạnh!
Lý Dương đáp hai chân xuống đất, hai tay kéo về sau khiến hai gã kia bị nhấc bổng lên không trung như hai bao gạo đang treo lủng lẳng.
Vung tay ném một ‘bao’ khiến nó đập mạnh vào tường.
Bức tường sụp đổ, và lại thêm một con người đang sống sờ sờ ‘vỡ tung’.
Ném người đến chết, loại hành động này sợ rằng chỉ từng nghe qua trong tiểu thuyết võ hiệp hay phim ảnh mà thôi.
Quay sang, Lý Dương trực tiếp đấm mạnh vào cửa khẩu của ‘bao gạo’ còn lại, móc ra một viên thuốc con nhộng nho nhỏ được giấu dưới răng hàm, dù bộ răng của gã kia giờ chỉ còn là dĩ vãng.
“Muốn tự sát? Đã hỏi tao chưa?”
Lý Dương dập đối phương xuống đất, nhưng vì đã khéo léo khống chế lực nên gã cũng không đến nỗi phải chết. Sau đó Lý Dương từ từ bẻ hết tứ chi của gã khiến cho khắp nơi đều vang vọng lên thanh âm đau đớn như có kẻ bị thọc tiết vậy.
“Trả lời tao ba câu hỏi, tao sẽ cho mày chết nhanh chóng.”
Cơn đau quằng quại kéo đến từng cơn khiến ‘bao gạo’ dần dần nhìn rõ cái chết, nhưng vì đã bị Lý Dương dùng tay bịt chặt miệng lại nên chẳng thể gào thét thêm được, cùng lắm là chỉ vang lên những thanh âm đứt quãng như mèo kêu mà thôi.
Chọc ngón tay vào cổ đối phương, Lý Dương kéo đứt sợi dây thần kinh cảm giác, tức thì ‘bao gạo’ liền cảm thấy toàn thân nhẹ bỗng, cơn đau biến mất nhưng thân thể cũng chẳng trao quyền kiểm soát cho gã nữa rồi.
“Tụi mày là ai?”
“Hội… Tam… Hoàng.”
Vì đã chứng kiến rõ ràng thực lực như quái vật của Lý Dương nên đối phương hết sức phối hợp trả lời.
“Đến đây làm gì?”
“Vĩ tuyến 17, cụ thể là Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh nửa tháng trước đã phát ra sóng từ trường mạnh hơn bình thường trong vòng hai phút mười chín giây. Chúng tôi được cử đến để tìm hiểu sự việc.”
“Chẳng lẽ là…”
Lý Dương chợt nhíu mày.
“Thế thằng bé đâu?”
“Nó chạy trốn rồi… chúng tôi tính đuổi theo thì các người đến…”
Còn không để gã nói hết lời, Lý Dương đã một đấm đánh nát đầu đối phương.
Giảm đi tải trọng, thân thể từ từ thu gọn lại như bình thường. Mồ hôi bắt đầu tuông trào như thác đổ, Lý Dương thầm thở dài một hơi nặng trĩu.
“Quả nhiên phương pháp bế khí khiến trạng thái Level Upper có thể kéo dài thời gian sử dụng ra thêm vài phút, bất quá tác dụng phụ dường như còn nặng hơn bình thường.”
Dần hòa mình vào màn đêm mù mịt, Lý Dương muốn nhanh chóng tìm được Shiki. Đối phương là người của Hội Tam Hoàng nên càng không đơn giản, vả lại chúng có bốn người nhưng lại chia thành hai đường chạy khác nhau. Ba gã này rất kém cỏi, rất có thể gã còn lại mới là tay đánh chủ lực.
Bỏ lại ba cái xác biến dạng, Lý Dương một lần nữa chạy như bay.
…
Dòng sông bốc cháy bởi ngọn lửa màu xanh, sức nóng mãnh liệt thiêu đốt tạo nên từng cơn hơi nước dày đặc như mây mù.
Kinoshita Shiki đứng bên bờ sông, đôi bàn tay nhuộm đầy máu đỏ, dưới chân là một cái xác không đầu.
Cô bé cười, một nụ cười thê lương giả tạo.
Cô bé cười, điệu cười đó chẳng qua chỉ là một động tác kéo da mặt kèm theo tiếng âm thanh phát ra từ cổ họng mà thôi.
Nhưng đúng thật là cô rất vui.
Shiki cười, nhưng chẳng ai hiểu vì sao.
[/SPOIL]