Được, em không đùa nữa, đây là 1 số chi tiết về sâm và linh chi :hug: :
A SÂM :
Có rất nhiều loại nhân sâm. Nếu căn cứ vào nguồn khai thác, có thể chia làm 2 loại là dã sơn sâm (mọc tự nhiên, còn gọi là sâm rừng), nguyên sâm (được gieo trồng, còn gọi là sâm vườn). Căn cứ vào nguồn gốc địa lý thì có sâm Trung Quốc (cát lâm sâm, liêu sâm), sâm Triều Tiên, Nhật Bản (Cao Ly sâm), sâm Mỹ (Tây Dương sâm), sâm Việt Nam (Ngọc Linh sâm)...
Nếu căn cứ vào cách thức chế biến thì có sinh sái sâm (loại để nguyên vỏ, rửa sạch đất cát rồi phơi khô), đại lực sâm (khi chế biến có nhúng vào nước sôi vài phút rồi lấy ra phơi khô), hồng sâm (loại bỏ rễ, râu sấy khô mà thành, còn gọi là thạch trụ sâm), bạch sâm (loại ngâm tẩm trong nước đường đặc, còn gọi là đường sâm), cáp bì sâm (trước tiên ngâm trong nước sôi, sau đó ngâm trong nước đường loãng)...
Ngoài ra, còn có sâm trà, sâm lát, sâm viên nang..., tùy theo công nghệ bào chế.
Bên cạnh những phẩm chất và công dụng chung, mỗi loại nhân sâm lại có những đặc tính và năng lực riêng.
Nhận biết nhân sâm rừng
Đây là loại sâm mọc hoang, chất lượng tốt. Rễ ngắn và thô, dài bằng hoặc ngắn hơn thân rễ một chút, thường có hai nhánh rễ chính, trông giống hình người, đầu trên có đường vằn ngang nhỏ và sâu, thân rễ nhỏ dài, thường từ 3-9 cm, phần trên uốn khúc gồ ghề, quen gọi là “rễ cổ nhọn”.
Bát rễ dày đặc, phía dưới không có mắt rễ và khá trơn bóng, thường gọi là “rễ tròn”. Rễ râu thưa thớt, dài gấp 2 lần rễ chính, dai, khó bẻ gãy, có nốt sần nổi lên rất rõ, được gọi là “trân châu điểm” hay “hạt trân châu”.
Cách phân biệt:
- Đầu rễ của sâm trồng hơi ngắn, bát rễ tương đối ít. Đầu rễ sâm rừng nhỏ dài, bát rễ sâu và dày, đầu rễ cong hình giống cổ nhọn, có rễ tròn.
- Thân của sâm trồng dài, phần vai có các vằn ngang hơi thưa, nông, không liên tục. Thân sâm rừng giống như thân hoàng tinh, dài bằng hoặc ngắn, nhỏ hơn, đầu rễ vằn, chỗ vai nhỏ mà sâu, màu đen, phần nhiều có hình xoáy ốc liên tục.
- Vỏ sâm trồng ráp và xốp giòn, còn vỏ sâm rừng mịn và chắc.
- Thân sâm trồng tương đối nhiều, thường từ 3 nhánh trở lên, trên dưới to nhỏ không đều. Thân sâm rừng chỉ có 1-2 nhánh, rất ít gặp loại có 3 nhánh.
-Râu sâm trồng không có nốt sần, hoặc có nhưng không rõ. Râu sâm rừng dài, dai và có nốt trân châu rõ.
Hồng sâm
Hồng sâm Triều Tiên có hình trụ hoặc hình vuông tròn, rễ thô ngắn, dài 1,5-2 cm, đường kính trên dưới gần bằng nhau, phần lớn là đơn nhánh và rất ít rễ phụ, màu nâu đỏ hơi đục. Hồng sâm Trung Quốc bề mặt trong mờ, màu nâu hồng, thỉnh thoảng có đốm màu nâu sẫm đục, có khía dọc, vân và vết rễ nhỏ, phần trên có các vân tròn. :cool:
Hồng sâm Nhật Bản rễ hơi nhỏ hơn rễ sâm Triều Tiên, phần trên thường có màu vàng, vỏ ráp, đoạn giữa và dưới to thô hơn đầu trên, rễ phụ ngắn, thót lại, nhìn chung hình thể và màu sắc nằm giữa hồng sâm Triều Tiên và hồng sâm Trung Quốc.
Bạch Sâm
Những củ sâm không đủ tiêu chuẩn để làm hồng sâm thì được chế thành bạch sâm. Củ sâm được rửa sạch đất cát rồi nhúng vào nước sôi vài phút, sau đó tẩm đường vài ngày rồi phơi hoặc sấy khô ở nhiệt độ không quá 60 độ C. Dược liệu đã chế biến có màu trắng ngà, mềm, thường có tinh thể đường bám ngoài mặt. Mặt cắt ngang có màu trắng ngà, vằn hình tia, xốp, mùi thơm, vị ngọt. Rễ chính hình trụ, mập và ngắn, phần đỉnh có thân rễ dài nhỏ, phía trên nó có các chỗ lõm hình xoáy trôn ốc đan xen nhau, tuổi đời càng lâu thì thân rễ càng dài. Bên cạnh thân rễ thường mọc một hoặc vài sợi rễ. Đầu trên của rễ chính có vằn dày, phía dưới thường phân nhánh.
Tây Dương sâm
Loại sâm này chủ yếu được nhập từ các nước như Mỹ, Canada và Pháp, có công dụng khá tốt và được người tiêu dùng ưa chuộng. Bởi vậy, gian thương thường dùng sâm nội để giả mạo làm Tây dương sâm kiếm lời.
Đặc điểm nhận dạng: Thân chính có hình trụ hoặc hình thoi, nặng, chất cứng. Bát rễ có đốt rõ. Vỏ có vằn ngang hoặc có nốt sần lỗ nông và các vằn dọc nông nhỏ chi chít. Vỏ chỗ mặt cắt ngang có thể thấy các vạch nhựa có dạng chấm nâu vàng, tạo thành từng lớp vằn rõ. Mặt ngoài có màu vàng nhạt hoặc màu vàng gạo, mặt cắt phẳng, màu trắng ngà, hơi bột. Vị hơi đắng, khi nhai có cảm giác hơi hăng đắng và có mùi thơm mát đặc trưng của Tây Dương sâm. :p
B LINH CHI
Linh chi có rất nhiều tên gọi: Nấm vạn năm, nấm thần tiên, cỏ huyền diệu… trong đó, tên gọi Linh chi là phổ biến nhất và được truyền tụng từ hàng ngàn năm nay với nhiều truyền thuyết.
Thần nông bản thảo” ra đời cách đây 2000 năm đề cập đến 356 dược thảo thì Linh chi được xếp vào loại thượng dược, ở vị trí số 1. Đến thời nhà Minh, Lý Thời Trân viết Bản Thảo Cương Mục gồm 2000 loại thuốc thì Linh chi vẫn xếp hàng đầu. Ông còn phân biệt Linh chi theo màu sắc: đỏ, vàng, đen, tím, trắng, xanh. Linh chi thường được dùng như một loại thực phẩm tốt cho sức khỏe ::)
Tên gọi là Linh chi thảo nhưng thực ra đây không phải là cỏ mà là một loại nấm có tên khoa học là Ganoderma lucidum (Leyss ex Fr.) Karst, tên thông dụng ở Việt Nam là Linh Chi, Lingshi (Trung Quốc) và Reishi (Nhật Bản) rất hiếm và qúy vì khó tìm gặp trong thiên nhiên. Thế giới chỉ thật sự nghiên cứu về Linh chi từ hơn 2 thập kỷ nay sau khi một nhà khoa học Nhật trồng Linh chi thành công trong phòng thí nghiệm vào năm 1972, sau đó lan dần ra các nước và lãnh thổ như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Hoa Kỳ, Thái Lan, Malaisia và Việt Nam. Hiện nay Linh chi đỏ được xem là tốt nhất trong các loại Linh chi. :o
Những nghiên cứu mới đây cho thấy Linh chi có tác dụng chống stress, suy nhược thần kinh kéo dài, mất ngủ, ăn không ngon, tiêu hóa kém, điều hòa ổn định huyết áp, chống dị ứng nhờ các acid ganedoric, chống lão hóa nhờ tính năng khử gốc tự do trong cơ thể… Mọi hiệu lực của Linh chi đều thông qua tác dụng điều hòa, củng cố sức đề kháng của cơ thể, nâng thể trạng cơ thể trong những tình huống mất ổn định, bị tác hại như nhiễm độc, nhiễm trùng.
Những khảo sát dược lý và lâm sàng hiện nay cho thấy Linh chi không có độc tính, không có tác dụng phụ dù dùng nhiều và dài ngày, không tương kỵ với những dược liệu khác hoặc tân dược trong điều trị. :p
Linh chi tác dụng như nguyên tố vi lượng và khoáng chất giúp cơ thể phòng vệ và hoạt động tốt hơn, khi uống kèm với các loại thuốc trị bệnh khác sẽ nâng cao hiệu qủa và tác dụng của thuốc đó nhờ khả năng hấp thu tốt của cơ thể người bệnh, giúp người bệnh phục hồi nhanh hơn. Linh chi điều hòa, bình thường hóa, ổn định ở những giới hạn tối ưu các hoạt động chức năng chính của cơ thể, tăng sức thích nghi của cơ thể đối với những biến động của môi trường, khuyến khích và tăng sức đề kháng của cơ thể. Tuy nhiên bình thường ngày nào cũng dùng Linh chi thì có thể tốt, nhưng đôi lúc không thật sự cần thiết, ngoài ra nếu qúa lạm dụng Linh chi có thể khiến cơ thể kiệt sức vì phải liên tục sản sinh chất đề kháng :cool:
Hiện nay dân gian vẫn truyền tụng loại nấm Linh chi cổ (tên khoa học là Ganoderma applanatum) như một loại thần dược, tuy nhiên theo ông Cổ Đức Trọng, trong thiên nhiên đường kính nấm khá lớn và tuổi có thể lên đến mười, hai mươi năm. Còn nếu giả định đến hàng trăm năm thì cần có những khảo sát chắc chắn bằng carborn đồng vị, vì lẽ đây là nấm ký sinh và hoại sinh trên cây, do đó nó dùng carbon của cây chủ và các chất khoáng để sống, khi phát triển nhiều năm nó đồng thời làm cây chủ suy kiệt và đến một lúc nào đó thì chết và khi đó bản thể thân nấm cũng chết theo, qủa thể không sinh trưởng nữa, khô và rụi dần. Vì vậy nếu cho rằng nấm có hàng trăm năm tuổi thì cây chủ cũng đã sống được hàng trăm tuổi :o
C ĐIỂM KHÁC BIỆT :
Chắc đọc đến đây thì ai cũng hiểu sự khac biệt giữa linh chi và sâm. Em xin liệt kê một số điểm sau :
- Linh chi có tuổi thọ trung bình lớn hơn sâm
- Linh chi có giá trị về kinh tế và dinh dưỡng vượt hơn hẳn sâm
- Linh chi được sử dụng kèm với các loại thuốc khác
- Linh chi đắt hơn sâm