@Kẹo: bạn cứ yên tâm, mình sẽ cố gắng theo cho đến tận cùng : D
------------
2
Từ xa xưa, tổ tiên của chúng ta dù chưa hiểu biết nhiều nhưng họ vẫn có thể dễ dàng nhận ra rằng : chẳng có gì trên thế giới này là tồn tại vĩnh cữu. Thậm chí với những thứ vô hình như các chân lý và cả dòng thời gian thì chúng đều có điểm khởi đầu và chắc chắn đến lúc nào đó sẽ biến mất.
Ý nghĩ về tất cả những gì chúng ta đang có hiện tại rồi sẽ biến mất một ngày nào đó, trở thành hư không, trở thành quên lãng… đã khiến cho con người tự hỏi : mục đích thật sự của việc tồn tại là gì?
Đã có rất nhiều những nhà hiền triết, khoa học, lãnh đạo tôn giáo, chính trị, kể cả thường dân trên khắp thế giới đưa ra câu trả lời về vấn đề này. Có người nói mục đích thực sự của việc sống chính là để lại dấu ấn của mình trên cuộc đời này, có người bảo đó là đem lại hạnh phúc cho người khác, người thì bảo sống chỉ đơn giản là sống thôi…mỗi câu trả lời của họ đều mang một phần ý nghĩa đúng đắn nào đó của sự tồn tại, nhưng vẫn không có câu trả lời nào là đủ để thoả mãn tất cả mọi người.
Trong khi thực sự vẫn chưa có câu trả lời nào diễn tả được đầy đủ chân lý của sự sống, thì con người vẫn cứ tiếp tục kéo dài thêm sinh mệnh ngắn ngủi của mình, để mỗi ngày lại được nếm trải cái ý nghĩa của nó ngay trước mắt mà không cần dùng thêm bất cứ ngôn từ hoa mỹ nào.
…
Hay có lẽ nếu không coi nó là chân lý hay ý nghĩa thì chúng ta sẽ sống mà dễ thở hơn chăng?
-----------
Mặt trời đã khuất dạng sau chân trời, màn đêm đang buông dần xuống thị trấn New Kroy, ở cách xa nơi đó về phía nam, một phần mảnh rừng dùng làm nơi chôn cất những người đã khuất vẫn còn rực lên màu vàng úa, ở giữa nơi ấy, một con người nhỏ bé ngồi đó như một dấu chấm đen, lặng lẽ trơ trọi giữa khung cảnh đổ nát trải dài đi đến hết tầm mắt. Người kia như đang cố thủ thỉ điều gì với một ai đó, nhưng ở nơi đây thì làm gì còn ai ngoài anh ta?
…..
“Thứ mà hôm nay anh mang tới cho em có vẻ còn thua cả một kẻ lạ mặt, Cherry nhỉ? Trẻ con thì chung quy cũng thích đồ ăn hơn là hoa, phải không ?”
Joseph ngồi ôm gối trước bia mộ nhỏ bé của Cherry, mắt nhìn đăm đăm những đoá hoa đỏ anh đặt trên nấm mộ, trong lòng rối bời với những cảm xúc không xác định. Có lẽ là sau chuyện ban nãy, Joseph bỗng cảm thấy Cherry, tuy đã mất, nhưng nó vẫn thuộc một thế giới nào đó quá xa vời với cha con của Jose. Phải, khi nó còn sống, dường như luôn có một sự xa cách nào đó hiện diện giữa con bé với tất cả mọi người xung quanh, và cho đến ngày hôm nay thì Jose mới có đủ thời gian để ngẫm nghĩ lại chuyện đó.
“Rút cuộc thì người đã đến thăm em ngày hôm nay là ai thế, Cherry?”
Jose đặt câu hỏi một cách mông lung, nó giống như là hỏi chính mình hơn, vì anh biết Cherry không thể nào trả lời cho anh biết được. Jose cũng không biết mình phải nói gì hơn lúc này, anh đã không còn lý do gì để nhắc lại những kỷ niệm của con bé khi còn sống nữa, nhất là khi bỗng dưng vào ngày hôm nay anh chợt nhận ra một năm sống chung với nhau của họ không có gì là to tát cả, anh chẳng biết gì về con bé, Cherry cũng không cần phải biết về Jose hay cha anh để làm gì. Chung quy thì, đến tận lúc này Jose mới nhận ra rằng quan hệ giữa họ như là những người lạ mặt sống chung một nhà vậy.
Và cứ thế cho đến khi màn đêm buông xuống, Joseph vẫn ngồi lặng im, vùi đầu vào trong hai cánh tay với những cảm xúc hoang mang không thể giải thích được trong lòng.
…..
Từ sau cuộc đại khủng hoảng, hầu hết người dân đều bỏ nơi ở cố định của mình để đi tìm những miền đất mới có cuộc sống khá khẩm hơn, những người ở lại thì may mắn sở hữu một lượng lớn ve chai miễn phí mà những người đi biệt xứ vứt lại. Nói thế không phải có nghĩa là xấu, vì nếu biết cách dùng, số ve chai còn lại này có thể còn đem lại nhiều lợi ích hơn đống ngọc ngà châu báu mà những kẻ hành hương đã vét sạch trước khi lên đường nhiều.
Một trong những minh chứng rõ ràng nhất cho việc này đó chính là sự hiện diện của một thứ năng lượng hiếm có ở những nơi hoang tàn: điện. Joseph cũng thực sự không biết là người dân ở đây làm như thế nào, nhưng họ đã làm được một việc phi thường đó là làm hoạt động lại nhà máy phát điện bỏ hoang cách thị trấn gần cả chục cây số, rồi còn sửa chữa luôn cả những đường dây bị hư hỏng nặng nề trong thành phố, tạo một mô hình mạng lưới điện tiết kiệm và an toàn để chia sẻ cho tất cả cư dân ở đây mà không hề tính phí lấy một đồng. Tuy là thế, nhưng thị trấn chỉ cung cấp điện cho người dân từ 5 giờ đến 9 giờ tối mỗi ngày để sinh hoạt, đối với những nhà máy thì đương nhiên là ngoại lệ.
Vì chỉ có 4 tiếng đồng hồ buổi tối là có điện nên hầu hết mọi người đều tranh thủ sử dụng thời gian này để làm các công việc yêu thích của mình. Vào thời điểm đó, thị trấn New Kroy nhìn thoáng qua sẽ không khác với những thành phố xưa kia là bao, vẫn tràn ngập ánh sáng của những bóng đèn nhân tạo. Nhưng nếu đứng nhìn từ trên những toà nhà cao tầng nhìn xuống sẽ chỉ thấy một nhúm sáng nhỏ trong không gian mênh mông nơi bóng tối bao phủ gần như khắp mọi nơi.
Ánh sáng phát ra từ nơi này chỉ như là một ngọn đèn nhỏ bé yếu ớt trong cơn bão mịt mù.
…..
Trên con đường tối được chiếu sáng bởi một phần ánh đèn từ những căn nhà chung quanh, một thanh niên tóc đen, bận áo khoác màu nâu cùng loại quần xanh cho binh lính đang bước đi chậm rãi dọc trên con đường của thị trấn. Anh đi chậm không phải vì thư giãn mà là đang cố kiếm ra nhà của mình trong hàng loạt những căn nhà trông hao hao nhau nằm thành dãy ở đây.
Joseph biết nếu mình không về thì chắc chắn sẽ bỏ phí thời gian sử dụng điện quý báu, ông bố của anh hầu như chẳng thèm động đến những thiết bị điện như bóng đèn hay quạt máy trừ khi thật sự cần đến chúng lắm lắm. Có lẽ đối với người đã trở nên u ám như Aaron thì việc ở một mình trong bóng tối khiến ông cảm thấy dễ chịu hơn, ngược lại với Joseph, mỗi ngày vẫn được thấy thứ ánh sáng nhân tạo phát ra từ những bóng đèn kia mới thực sự khiến cho anh dễ chịu, nó như là một dấu hiệu nói lên rằng chúng ta vẫn còn đang sống, gần với sự văn minh, không phải là mù loà, tăm tối như là đã đến ngày tận thế.
Hầu như ai cũng cố xua tan đi cái ý nghĩ là mọi chuyện rồi có thể đi đến hồi kết, họ sợ cái gọi là ngày tận thế, họ cố sống và quên đi sự thực là thế giới ngoài kia đang dần dần lụi tàn đi theo thời gian.
Vào thời đại này, cứ mỗi buổi sáng thức dậy và biết mình vẫn còn sống chứ không chết trong cái thế giới tàn bạo này thì bạn cũng đã cảm thấy hạnh phúc lắm rồi.
…..
Ngày hôm nay quả là lạ, khi vừa trở về nhà và thấy đèn điện bật sáng trưng thì Joseph đã biết có chuyện gì đó không bình thường.
Tuy vậy, anh cũng không nghĩ đó là chuyện gì quá nghiêm trọng cho đến khi mở cửa và bước vào trong.
“Con về rồi đây ! “
Đúng là có cái gì đó rất lạ, nếu nói hôm nay nhà vắng tanh thì không đúng, trước giờ nhà cửa vốn đã vắng hoe thế này rồi, nói nó ảm đạm, u ám hay sáng sủa, sạch sẽ, ngăn nắp hơn lại càng không phải. Thứ mà đang hiện diện trong nhà này, dù chẳng thể gọi là “thứ” khi nó không hữu hình trên phương diện vật chất, nhưng nó dường như là năng lượng lan truyền đi của một cảm xúc nào đó rất tích cực.
Joseph có thể cảm thấy điều đó khi bản thân đang bước dần đến gần phòng ăn.
“Bố?”-Jose lên tiếng gọi
Nhưng Aaron không có ở đó, phòng ăn thì vẫn không được ngăn nắp cho lắm như suốt mấy tháng qua, có vẻ như chẳng có thứ gì thay đổi ở đây cả, chỉ có việc Aaron tự động mở điện khi tối đến vẫn là lạ nhất.
Sau khi chuẩn bị bữa tối bằng những túi thực phẩm đóng gói mà nhà máy phát cho mình, Jose đi lên lầu tìm cha mình để mời ông xuống dùng bữa, anh đoán có lẽ ông lại leo lên căn phòng nhỏ trên gác mái để ngồi ngẫm nghĩ một mình như mọi khi cũng nên.
Nhưng một lần nữa Jose lại phán đoán sai, trên căn gác xép - nơi sạch sẽ duy nhất trong nhà - chẳng có ai ở đó cả, cửa sổ thì vẫn đang mở toang và gió lồng lộng thổi vào làm màn cửa bay phấp phới.
Khẽ tiến về phía cửa sổ, Jose đứng nhìn ra cảnh vật tối tăm bên ngoài trong chốc lát, sau đó anh kéo hai cánh cửa sổ đóng lại và đi xuống nhà. Thật lạ khi ngay cả nơi duy nhất anh nghĩ là luôn có mặt cha mình cũng không có lấy một bóng người, trong nhà giờ chỉ còn mỗi cái phòng chứa sách cũ là Jose chưa tìm, mà cái phòng ấy thực ra chính là cái nhà kho dưới tầng hầm. Cái nơi ấy thì Joseph lại không nghĩ rằng một người tàn tật như Aaron có thể xuống được đó.
Nhưng có lẽ ngày hôm nay là một ngày tuyệt vời cho những suy đoán sai lầm của Joseph, vì khi ra đằng sau nhà, nơi có lối thông dẫn xuống tầng hầm, anh đã thấy cánh cửa hầm mở toang. Tò mò dâng lên nhưng biết mình phải luôn cảnh giác, Jose quyết định trở vào trong nhà lấy khẩu súng lục mang theo để đề phòng.
Tiến xuống phía trong cánh cửa căn hầm đang mở toang, anh thở phào khi thấy nó được ai đó gài lại cẩn thận để tránh gió giật cửa, sẽ chẳng có tên trộm nào rãnh rỗi làm chuyện đó nên anh đoán có lẽ người đang ở trong hầm này chính là cha mình.
Đi sâu hơn vào phía trong, không gian xung quanh bắt đầu sáng dần lên so với bên ngoài, nhưng đó là ánh sáng tù mù màu vàng cam của những ngọn đèn dầu, bên trong nhà kho chỉ chứa toàn những vật cũ và ít khi có ai lui tới nên Jose cũng chẳng bắt bóng đèn ở đây làm gì. Giờ nghĩ lại thì anh thấy thật là cực khổ cho việc tìm kiếm thứ gì đó ở đây vào ban đêm.
Phòng chứa sách cũ vốn là một nơi chứa đủ thứ hầm bà lằng sách vở, đồng nát và những thứ lặt vặt khác tìm thấy ở những toà nhà bỏ hoang xung quanh. Những cuốn sách cũ đều có các trang bị ố vàng như loại giấy làm từ bả mía ngày xưa, chúng dính chặt vào nhau, cố gắng gỡ ra chỉ tổ khiến những trang ấy tanh bành, mà dù có gỡ ra được thì mực trên trang giấy đã nhoè đến độ chỉ nhìn cũng muốn hoa mắt. Nhưng bất chấp những điều ấy, vẫn có những cuốn sách được bảo quản tốt đến nỗi nhìn cứ tưởng chúng chỉ bị nhúng nước mới đây thôi.
Joseph đưa mắt nhìn quanh khắp phòng chứa đồ, anh chợt thấy cha mình đang ngồi ở một cái bàn ở gần đó, vẫn mặc cái áo rằn ri màu lính như mọi khi, chòm râu quai nón đã bạc phơ nổi bật trong bóng tối, dưới chân ông là một đống sách nằm rơi vãi khắp nơi, trang sách mở ra và gió thổi qua ổ cửa làm các trang sách đập lên nhau tạo tiếng giấy nghe giòn tai. Anh không biết cha mình đang nghiên cứu thứ gì, nhưng thật hiếm khi thấy ông ngồi đọc thứ gì đó, cha con họ ít khi dùng sách, kể cả khi nó nằm chình ình ở trước mặt, có lẽ đó là do thói quen.
“Bố, bố đang làm gì ở dưới này vậy? Mau lên ăn tối thôi.”-Jose gọi cha mình và tiến lại gần
Aaron không trả lời lại, ông chỉ lẳng lặng tháo cặp kính lão xuống, đưa tay dụi mắt cho đỡ mỏi rồi quay sang nhìn con trai mình.
“Joseph, tối nay con có bận chuyện gì không?”
“Buổi tối thì chắc không, trừ khi nhà máy điện lại bị trục trặc nữa thôi.”-Jose trả lời
“Thế thì ăn tối xong, con theo bố ra đây một lát nhé.”
“À vâng, nhưng đi đâu ạ ?”
“Ừm, lát nữa ta sẽ nói cho con biết.”-Aaron nói rồi đẩy bánh xe lăn đi-“Thôi, chúng ta đi lên nhà lại thôi.”
“Để con đẩy bố lên.”
“Thôi không cần đâu, ta có thể tự lên được, con ở lại dọn giùm ta chỗ sách rơi vãi này nhé, ta chẳng tài nào nhặt chúng lên hết được.”-Aaron nói rồi quay đi
“Vâng…”
Sau khi Aaron đi rồi, Jose quay lại dọn dẹp những cuốn sách như bố mình đã nhờ. Tuy nói là dọn dẹp nhưng Jose chỉ nhặt những cuốn sách đó lên, chồng chúng lên nhau rồi đặt đại vào chỗ nào đấy vì quả thật ở dưới đây đã khá bừa bộn rồi, không cần thiết phải đột xuất ngăn nắp làm gì. Đi đến gần cái bàn mà ban nãy cha mình ngồi, Jose có để ý nhìn vào cái trang trong cuốn sách Aaron đang đọc, chữ nghĩa ở trong đấy nhỏ và chi chít đến nỗi khiến Jose cảm thấy nản, anh chỉ để ý thấy nổi bật lên hình vẽ một sinh vật lạ nằm cuộn tròn trong một thứ như là quả trứng trông khá đáng sợ.
“Không lẽ đây là truyện kinh dị sao? Mà cha mình có hứng thú với loại truyện này từ khi nào vậy?”-Jose tự hỏi
Không có thời gian để ý đến những chuyện đó nữa vì cái bụng đói, Jose gập cuốn sách lại và đem nó chồng lên đống sách ban nãy mình để trong góc, sau đó anh thổi tắt đèn dầu rồi đi lên.
…
Vài tiếng sau bữa tối, thời điểm lúc đó khoảng trên dưới 10 giờ đêm, toàn bộ điện đã cúp, bên ngoài trời thì bắt đầu đổ mưa, Joseph nhìn cơn mưa qua ô kính ngán ngẩm trong khi Aaron chẳng hề để ý đến những gì xảy ra xung quanh, tâm trí ông vẫn đang dành sức lực dể suy nghĩ về chuyện gì đó trông có vẻ phiền não.
“Mưa thế này thì chúng ta vẫn đi chứ ạ?”-Joseph quay lại hỏi cha mình-“Hay là để sáng sớm mai.”
“Không, đừng đợi nữa, chúng ta đi ngay bây giờ đi.”-Aaron đáp
…..
Sau khi cả hai đã ra khỏi nhà và xích chặt cánh cửa lỏng leo lại, Joseph mặc áo mưa vào rồi cõng cha mình ra chiếc xa lăn đặt ngoài con đường đá phẳng vì anh không thể nào đẩy nổi nó ở con đường bị hư hại gần những căn nhà này.
Sau khi đặt ông xuống ghế xe lăn, Joseph lấy cái áo mưa thứ hai trùm lên cho cha mình rồi hỏi
“Chúng ta đi đâu giờ này hả bố ?”
“Chúng ta ra nghĩa trang, bố muốn thăm mộ của Cherry.”-Aaron nói
“Ơ? Nhưng giờ này đã trễ quá rồi, lại còn mưa, hay là để mai đi bố ơi.”
“Con cứ đưa ta tới đó đi, ta cũng có chuyện muốn nói với con khi tới đó.”
Joseph phân vân, anh không biết có nên chiều ý cha mình để ông đội gió, đội mưa đi ra nghĩa trang vào giờ này không, hay là nên vì sức khoẻ của cha mình mà làm trái ý của ông.
“Đi thôi nào, Joseph !”-Aaron giục
“Thôi, có ra đó thêm lần nữa cũng không sao, mình cũng muốn kiểm tra xem mộ con bé có bị gì không trong thời tiết mưa gió thế này?”-Jose nhủ thầm
“À khoan, lấy cái gói đó cho bố ! “-Aaron bỗng chỉ về phía hàng rào, nơi có một thứ gì đó dài dài được gói lại và được dựng đứng ở đó.
Joseph cảm thấy thứ gì đó như là thanh gỗ dày, tròn và nặng khi đến nhấc vật đó lên, nhưng việc cơn mưa lạnh thấu xương đang tuôn xối xả xuống da thịt mình khiến anh bận tâm nhiều hơn là có thứ gì nằm trong cái túi nọ.
Sau khi đặt cái gói ấy lên xe lăn cho Aaron giữ, Jose nhờ ông cầm giùm đèn pha để soi đường đi cho mình, sau đó anh bắt đầu đẩy chiếc xe lăn bánh đi.
Trong thoáng chốc, Jose bỗng nghĩ : đi trong một đêm tối đen mù mịt như thế này khiến cho anh có cảm giác như sẽ không bao giờ có thể quay trở về được nữa.