The Iron Eagle
Sam Fisher, Third Echelon Agent
- 4/8/06
- 15,245
- 331
Còn vụ Challenger 2 bị bắn lủng ngay phần hull thì sao nhỉ?
quả đó bắn trúng gầm xe, gầm xe thì yếu rồi, cũng như trong WOT thôi, chứ bắn thử tháp pháo hay giáp thân trên coi
ngoài ra thì đây: phần 1:
Hồ sơ NATO vs Warsaw Pact (tiếp tục từ cuốn sách xuất bản năm 1989 của của Zaloga)
Giáp:
CHo đến những năm 70 thì giáp của tank vẫn là giáp thép đồng chất. Sau đó bắt đầu xuất hiện các loại giáp ko dùng thép và ERA. Cuộc cách mạng giáp diễn ra lần đầu tiên vào những năm cuối thập niên 50 khi 1 số nước bắt đầu nghiên cứu ứng dụng của gốm vào việc bảo vệ tank. Người Mỹ khai phá việc sử dụng gốm trong chương trình tank T95 của mình trong việc chống đạn HEAT. Họ kết luận rằng những loại giáp dùng gốm hiện có ko tốt hơn hẳn giáp thép truyền thống trong phần lớn các ứng dụng. Giáp gốm ko dc xem là phù hợp cho việc bảo vệ các bề mặt có nhiều góc cạnh nằm gần vuông góc với phương ngang, ví dụ như tháp pháo, xét về cả mặt SX và bảo vệ. Trong khi những thử nghiệm của Mỹ kết luận rằng giáp gốm thích hợp hơn cho các bề mặt nằm nghiêng với góc ko lớn, ví dụ như giáp thân xe, giáp thân làm bằng thép đồng chất cũng đã cực khó để xuyên thủng rồi. Người LX thì lại nhìn vấn đề theo 1 góc cạnh khác. T-64 đã dùng giáp gốm cho thân trước trong khoảng cuối thập niên 60, dù rằng tháp pháo vẫn sử dụng thép đồng chất.
1 cột mốc quan trọng trong việc phát minh ra giáp phi kim là vào cuối thập niên 60 với sự xuất hiện của giáp Chobham của Anh. Thành phần cấu tạo nên giáp vẩn dc giữ bí mật cho đến ngày nay, nhưng có vẻ như nó là 1 tập hợp nhiều lớp thép và phi thép chồng lên nhau. Loại giáp này ko hiệu quả hơn hẳn giáp thép đồng chất trong việc bảo vệ tank khỏi đạn xuyên bằng động năng, nhưng lại có thể tăng đáng kể khả năng chống đạn HEAT từ rocket và tên lửa. Giáp Chobham dc phát triển để khắc chế lại việc sử dụng đại trà rocket và tên lửa trên chiến trường hiện đại. Nó dc tăng tốc phát triển qua kinh nghiệm của Israel trong cuộc chiến 1973 khi các loại ATGM của AI Cập như Malyutka và RPG-7 chứng tỏ điểm yếu của tank trước các vũ khí chống tank vác vai rẻ tiền. Giáp Chobham, với các phiên bản khác nhau, dc sử dụng trên các loại tank chủ lực đời mới của NATO như M1 Abrams, Challenger và Leopard 2.
Giáp Chobham khai thác điểm yếu của đạn HEAT. Đạn HEAT xuyên 1 lớp vật chất đồng chất dễ dàng hơn là 1 lớp gồm nhiều chất khác nhau. Khi cái “lưỡi khí nóng” của đạn HEAT chạm vào giáp Chobham thì nó sẽ bị bào mòn và phân tán khi đi qua các lớp vật chất với độ đặc khác nhau. Giáp Chobham cũng làm thay đổi hình dạng của tank. Cho đến năm 1970 thì mục tiêu của các nhà thiết kế là tạo ra các hình dáng cho tháp pháo và thân trước với góc nghiêng càng lớn càng tốt để tang giáp hiệu quả cho tank và tăng khả năng ricochet của đạn. Giáp Chobham thích hợp hơn cho các bề mặt phẳng lớn, vuông vức dùng trên các tank thời cuối thập niên 30.
Giáp Chobham ko khiến nó miễn nhiễm hoàn toàn với vũ khí chống tank của bộ binh nhưng mà khiến nó gần như thế. Trước hết là do trọng lượng cao của khối giáp Chobham đồ sộ ngăn cản việc sử dụng nó cho tất cả các bề mặt của tank. Cũng giống như giáp thép đồng chất, khả năng bảo vệ thay đổi rất lớn theo bề mặt tank. Khuôn viên mặt trước, gồm mặt trước và mặt hông trước là khu vực dc bảo vệ tốt nhất. 2 bên hông dc bảo vệ kém hơnm thường thường chỉ đủ bảo vệ đế chống đạn từ súng tự động hạng nặng. Phần hông, trần và gầm xe dc bảo vệ rất mỏng. Giáp Chobham cũng theo sơ đồ đó, tập trung vào bảo vệ khuôn viên mặt trước. Giáp Chobham với độ dày khoảng 200 mm tương đương khoảng 600-900 mm thép bảo vệ chống đạn HEAT. Điều đó có nghĩa là nó cho 3 đến 4 lần khả năng bảo vệ so với các tank đời cũ như T-64, M60, Leopard 1 hay Chieftain. Giáp Chobham ko có ý nghĩa nhiều với việc đấu tank do nó ko cho ưu thế gì khi chống đạn xuyên bằng động năng vốn sử dụng đại trà trong việc đấu tank.
Việc phát triển giáp tương đương CHobham của LX vẫn chưa dc hiểu rõ. T-64 và các phiên bản đầu tiên của T-72 chắc chắn là vẫn theo kiểu thiết kế truyền thống. Cả 2 đều có giáp than dc bảo vệ rất tốt bằng 1 lớp gốm bổ sung, nhưng tháp pháo của chúng vẫn sử dụng thép đồng chất. Trong đầu thập niên 1980m những phiên bản T-72 mới như T-72M có giáp tháp pháo dc gia cố. Vào giữa thập niên 80 lại xuất hiện thêm 2 phiên bản T-72 với giáp tháp pháo thậm chí còn dày hơn nữa. Vẫn ko rõ loại giáp gì dc thêm vào cho các phiên bản đó, nhưng chắc chắn ko đơn giản chỉ là 1 lớp thép bổ sung. Có vẻ như đó là 1 loại giáp phức hợp kiểu như Chobham nhưng với thành phần cấu tạo khác. T-80 có thể đã them nó vào trong giáp tháp pháo của mình, và LX cũng có 1 phiên bản mới của T-72 và 1 con tank có thiết kế tháp pháo giống M1 Abrams dc thử nghiệm trong khoảng năm 1986-1988. Dù vậy, việc phát triển giáp của LX đã đi 1 bước lùi so với giáp của tank NATO. Tank XL có truyền thống là giáp bao giờ cũng trâu hơn tank NATO cùng thời với nó, nhưng mà những tank ra mắt trong những năm cuối thập niên 70, như M1 Abrams, Leopard 2 và Challenger lại chỉ đối mặt với 1 con T-80 mới với giáp phức hợp tạm bợ và kém hiệu quả hơn.
Điểm yếu chính của giáp Chobham là nó ko thể dễ dàng lắp lên các phiên bản tank cũ. Nó bắt buộc phải lắp lên 1 bề mặt lớn mới có hiệu quả, và nó ko dễ dàng lắp lên các tháp pháo bo tròn của tank giai đoạn thập niên 60. Trong thập niên 70, 1 Cty của Đức khai quật lại việc sử dụng giáp ERA để chống đạn HEAT. NATO ko có hứng thú lắm với kiểu giáp ERA đó, nhưng Israel lại cảm thấy hứng thú. Israel có 1 kho tank cũ đồ sộ ko thể lắp giáp Chobham dc do thiếu tiền và giới hạn kỹ thuật. Giáp ERA cho phép phát triển bảo vệ của tang chỉ với giá thấp hơn 100.000 USD, khoảng 1 phần 10 giá của 1 con tank.
Giáp ERA gồm 1 cục chất nổ dẹp dc nhét trong 1 cái hộp nhỏ. Thứ chất nổ hoàn toàn vô hại khi va chạm với đạn dùng động năng mà chỉ phát nổ khi chạm vào lưỡi khí nóng do đạn HEAT gây ra. Khi va chạm với đạn HEAT, cái hộp sẽ nổ tung, đẩy tấm thép phía trước của cái hộp ra. Sự bật ra quá nhanh của miếng thép làm cản trở việc tạo thành cái lưỡi khí nóng hũy diệt của đạn HEAT và làm giảm hiệu quả của nó.. Người Israel đã sử dụng ERA trong cuộc chiến với Lebanon năm 1982. Người LX đã thử nghiệp ERA trước đó, cũng như Mỹ và Anh. Nhưng chính người Israel mới là người đã chứng minh khả năng của giáp ERA trong chiến đấu. LX mua lại các mảnh ERA loại “Blazer” của Israel do Syria bắt dc. Trong giữa thập niên 1980, tank LX bắt đầu lắp giáp ERA với ưu tiên là lựu lượng đóng ở Đông Đức. Đến năm 1988, chương trình này dc mở rộng đến các quân khu ở phía Tây của LX. Giáp ERA dc lắp cho các tank T-64, T-72 và T-80. Giáp ERA ít dc trang bị cho các tank đời trước như T-54/55 và T-62.
Giáp ERA rẻ hơn giáp Chobham và có thể lắp lên tank cũ, dù vậy nó cũng ko hẳn hiệu quả. Xác suất phát nổ của giáp ERA ko hề dc bảo đảm và tính chất nổ của nó quá nguy hiểm cho bộ binh xung quanh và thậm chí cả tổ lái. Khác với giáp CHobham, nó ko hề giảm khả năng xuyên của đạn dùng động năng, mà chỉ đạn HEAT. Và nghiêm trọng hơn là nó có thể bị vô hiệu hóa bằng những biện pháp khắc chế đơn giản. Bằng cách đặt 1 quả đạn HEAT nhỏ phía trước ATGM, giáp ERA có thể bị phá hủy trước khi quả đạn chính phát nổ. Các phiên bản mới của tên lửa chống tank, VD như TOW-2A và MILAN-2J có thể phá hủy ERA dễ dàng. Có ý kiến cho rằng có thể chơi 2 lớp ERA, nhưng điều đó ko thực tế. Vì sao ? Vì Lớp thứ nhất phát nổ cũng sẽ phá hủy lớp thứ 2. Ngoài ra là giáp ERA khi nổ cũng gây ra những thiệt hại phụ. Dù rằng 1 viên ERA khi phát nổ ko ảnh hưởng đến những viên sung quanh, nhưng mà nó có thể gây thiệt hại cho lớp giáp phía sau nó nếu lớp giáp đó khả mỏng. Nó ko thể lắp trên các bề mặt giáp mỏng (10 - 20 mm) như giáp dùng trên nóc xe hay đít xe vì vụ nổ có thể làm vỡ các bề mặt giáp nằm sau viện gạch đó. Thế nên rất khó, thậm chí là ko thể lắp giáp ERA lên xe thiết giáp hạng nhẹ.
Giáp ERA hiệu quả nhất khi chống lại các loại tên lửa vác vai hạng nhẹ như LAW, RPG-7 và tương tự. Những quả rocket đó quá bé để chứa đủ đầu đạn tandem, vì vậy chúng vẫn vô hiệu chống giáp ERA ít nhất trong 1 khoảng thời gian nữa.
Giáp ERA dc biết đến nhiều nhất, nhưng ko phải là loại giáp phụ duy nhất dc phát triển trong thập niên 80. LX cũng bắt đầu trang bị các miếng giáp lớn hình bán nguyệt kiểu « móng ngựa » để tăng bảo vệ cho tank của họ trong chiến tranh Afganistan vào đầu những năm 80. Thành phần của loại giáp đó ko rõ, nhưng có khả năng là 1 miếng vỏ thép với 1 lớp giáp gốm bên trong. Giáp « móng ngựa » dc trang bị cho tank T-55 và T-62, nó đã bắt đầu dc trang bị cho các tank T-55 của CH Séc trong 1988 và có thể sẽ dc trang bị cho Đông Đức và Ba Lan trong tương lai.. Các miếng giáp phụ cũng dc gắn thêm lên giáp thân trước của T-64 của LX và T-72G của Đông Đức, nhưng thành phần của chúng ko rõ. Quân Anh cũng có chương trình tương tự, với giáp Stillbrew, để trang bị cho các tank Chieftain ở Tây Đức. Thành phần của giáp Stillbrew cũng tối mật nhưng có vẻ như nó là 1 lớp giáp phụ bị động gắn thêm chứ ko phải ERA.
Giáp tiên tiến nhất hiện tại là giáp DU của Mỹ dùng uranium nghèo, xuất hiện đầu tiên vào năm 1988. Giáp DU dc phát triển từ giáp CHobham và thêm các lớp uranium nghèo vào giữa các lớp thép. Theo những thông tin dc công bố thì nó có thể chống dc tất cả các loại đạn chống tank cho tới thời điểm hiện tại và trong tương lai gần. Cũng như các loại giáp hạng nặng, nó chỉ dc dùng cho mặt trước của phiên bản M1A1 cải tiến trở đi, chứ ko phải toàn bộ bề mặt của xe. Mỹ hco rằng LX phải mất 1 thập kỷ nữa để phát triển 1 hệ thống giáp tương đương.
Hệ thống bảo vệ tank ko chỉ giới hạn ở giáp bảo vệ ngoài mà còn cả làm giảm bớt thiệt hại gây ra khi tank bị trúng đạn. King nghiệm của Israel đã chứng tỏ tank có thể bị bắn hạ 5 đến 6 lần, nhưng vẫn sửa lại dc và chiến đấu tiếp. Chiến tranh dùng tank hiện đại mang tính hủy diệt rất cao. Trong cuộc chiến ngắn ngủi ở Lebanon, chống 1 đối thủ chỉ có lực lượng tank rất khiêm tốn, Israel đã có đến 300 tank bị bắn hạ, tức là khoảng 30% lực lượng ban đầu. Hồi phục các tank bị thương và giảm thiểu thiệt hại là điều kiện tiên quyết để tránh cạn kiệt lực lượng tank trên chiến trường hiện đại. Trong tổng số 300 tank Israel bị bắn hạ trong năm 1982, 108 chiếc bị thiệt hại nặng, trong đó 92 chiếc bị xuyên thủng. Trong tổng số 92 chiếc đó, 52 chiếc bị phá hủy do đám cháy xảy ra sau khi tank bị xuyên thủng. Nói cách khác, trong khi lực lượng tấn công mất đến 300 tank, khoảng 65% chỉ chịu thiệt hại khiêng tốn và có thể nhanh chóng dc sửa chữa, trong khi chỉ 17% là mất trắng.
Yếu tố tiên quyết để giảm thiểu thiệt hại là tránh cho xăng và đạn dược bốc cháy vốn có thể dẫn đến nổ xe. Việc thiết kế tank cho phép làm điều đó bằng việc thêm vào hệ thống chữa cháy tự động và bố trí đạn dược cẩn thận. Các tank đời mới của NATO có thiết bị chữa cháy tự độn HALON cho phép dập tắt nhanh chóng đám cháy do xăng dầu.. Tank LX thì ko dc bảo vệ tốt như vậy. Quan điểm thiết kế về việc bố trí đạn thì thay đổi theo quốc gia. Anh thì chọn kiểu dùng đạn 2 mảnh, với thuốc phóng cực kỳ nguy hiểm dc đặt dưới cổ tháp pháo. Mỹ và Đức thì cho rằng xài đạn 2 mảnh chỉ làm giảm tốc độ bắn (do phải nạp 2 lần), vì vậy họ dựa vào hệ thống quạt gió để giảm tác hại của đám cháy của đạn. Đạn trên tank M1 Abrams và leopard 2 vì thế nằm ngay sau gáy tháp pháo, đặng sau 1 cái cửa sập. Khi thuốc phóng bắt lửa, những ca1cnh cửa sập này sẽ tự động đóng lại để tránh lửa lan ra các phần khác của tank, vá vụ nổ sẽ dc thổi ra ngoài qua những tấm chắn đặc biệt trên trần xe, tránh chúng tác động lên tổ lái. Quan điềm của LX thì giữ đạn thật thấp dưới thân, nhưng mà từ khi thuốc phóng bắt đầu cháy thì ko có gì ngăn chặn nó hết. Isreal trong chiến tranh Lebanon 1982 thấy rằng tank T-72 vẫn dễ cháy như tank T-62 trước đó. Tank LX đặc biệt nhạy cảm với các đám cháy bên trong do việc đặt các thứ cháy nổ quá gần nhau trong 1 không gian chật hẹp.
Nhìn chung tank NATO hiện tại dc thiết kế bảo vệ tốt hơn tank của Warsaw Pact. Tank tuyến đầu của NATO có giáp tốt hơn hẳn. Các công nghệ mới như giáp DU đảm bảo ưu thế của NATO trong lĩnh vực đó. Ngoài ra, thiết kế của NATO như M1 Abrams hay Leopard 2 có những đặc điểm giảm thiểu thiệt hại gây ra do xuyên thủng giáp và giữ hy vọng để 1 con tank bị bắn hạ sẽ sống sót và tiếp tục chiến đấu sau này, cũng như tổ lái của nó.
Những lợi thế đó cũng gồm cả việc sửa chữa lại tank. Như kinh nghiệm của Israel đã chứng minh ở trên, sửa chữa lại tank là yếu tố sống còn vì những tank bị hạ có thể hồi phục để chiến đấu tiếp 1 cách nhanh chóng. Trong 1 cuộc chiến kéo dài, ko hiếm chuyện 1 tank có thể « chết » 5-6 lần trong hết chiều dài cuộc chiến, hoặc do địch quân, hoặc so hư hỏng kỹ thuật. Vì vậy điều cần làm là kéo dc chúng về và sửa chữa cho chúng tiếp tục chiến đấu. Quân đội NATO có 1 lực lượng lớn xe kéo để làm dc việc đó, nhiều hơn hẳn khối Warsaw : Các đơn vị LX có 1 xe kéo cho 14 tank trong khi tỉ lệ đó trong quân đội Tây Đức là 1 cho 7, và quân Mỹ là 1 cho 6. Ngoài ra xe kéo của NATO cũng to hơn và mạnh hơn xe của LX. VD xe M88 của Mỹ hay xe Bergepanzer của Tây Đức có cần cẩu rất mạnh và sức kéo lớn hơn xe kiểu BTS-2 của LX và cho phép làm việc thoải mái hơn.
Chỉnh sửa cuối:
)))


