GK - thủ môn
LB - hậu vệ trái
CB – trung vệ
RB - hậu vệ phải
LM - tiền vệ trái
CM - tiền vệ trung tâm
RM - tiền vệ phải
CF – trung phong
BS - hộ công
CÁC SƠ ĐỒ CHIẾN THUẬT BÓNG ĐÁ KINH ĐIỂN
Sơ đồ 4-4-1-1
Thủ môn - 4 hậu vệ (hai biên; hai trung vệ) - 4 tiền vệ (hai cánh, hai trung tâm) - một hộ công - một tiền đạo (trung phong).
GK - thủ môn
LB - hậu vệ trái
CB – trung vệ
RB - hậu vệ phải
LM - tiền vệ trái
CM - tiền vệ trung tâm
RM - tiền vệ phải
CF – trung phong
BS - hộ công
Ngày càng có nhiều CLB của châu Âu sử dụng một cầu thủ chơi ngay dưới trung phong, và phía trên hàng tiền vệ (gọi là hộ công).
Tầm hoạt động chính của cầu thủ hộ công là ở giữa hàng thủ và tiền vệ của đối phương. Vì vậy, theo lý thuyết, cầu thủ này sẽ có nhiều thời gian và khoảng trống hơn khi xử lý bóng so với các vị trí khác.
Một hộ công phải có khả năng cầm bóng tốt, kỹ thuật cá nhân khéo, tốc độ, nhãn quan chiến thuật cao, không những kiến tạo cơ hội làm bàn cho trung phong mà còn cần có khả năng dứt điểm như một tiền đạo thực thụ khi có thời cơ.
Sơ đồ 4-5-1
Thủ môn - 4 hậu vệ (hai biên; hai trung vệ) - 5 tiền vệ (hai cánh, 3 trung tâm) – một tiền đạo (trung phong).
GK - thủ môn
LB - hậu vệ trái
CB – trung vệ
RB - hậu vệ phải
LM - tiền vệ trái
CM - tiền vệ trung tâm
RM - tiền vệ phải
CF – trung phong
Đây là sơ đồ mà nhiều đội chọn khi phải du đấu trên sân của một đối thủ mạnh. Một đội muốn bảo toàn tỷ số thuận lợi đã giành được ở lượt đi (trong cuộc đấu có hai lượt trận) cũng thường chọn đấu pháp này.
Về lý thuyết, với 5 tiền vệ, một đội bóng sẽ mạnh hơn trong việc kiểm soát khu trung tuyến, an toàn hơn trong khâu phòng thủ. Khi đã chọn sơ đồ 4-5-1, đội bóng đó sẽ thi đấu hết trận với tư tưởng không thua là thắng, nhưng họ cũng rất nguy hiểm trong những pha phản công.
Để sơ đồ này vận hành trơn tru, tiền đạo duy nhất (trung phong) phải là cầu thủ có kỹ thuật cá nhân tốt, tốc độ cao, có khả năng đột phá, di chuyển hợp lý và dứt điểm tinh tế. Nếu không, mối liên hệ giữa trung phong và hàng tiền vệ sẽ dễ dàng bị đối thủ cắt đứt
Sơ đồ 5-3-2
Thủ môn - 5 hậu vệ (hai biên; 3 trung vệ, trong đó có thể có một trung vệ thòng) - ba tiền vệ (hai cánh, một trung tâm) – hai tiền đạo (hai trung phong).
GK - thủ môn
LB - hậu vệ trái
CB – trung vệ dập
SW - trung vệ thòng
RB - hậu vệ phải
LM - tiền vệ trái
CM - tiền vệ trung tâm
RM - tiền vệ phải
CF – trung phong
Đây là sơ đồ chiến thuật cân bằng giữa phòng ngự và tấn công nhất, và ngày càng được nhiều đội tuyển cũng như các CLB áp dụng (đặc biệt là các đội của Nam Mỹ, hoặc những đội theo trường phái bóng đá kỹ thuật Mỹ Latinh).
Trong đội hình 5-3-2, hai cầu thủ chạy cánh (hai hậu vệ biên) đóng vai trò rất quan trọng. Họ phải là những cầu thủ có tốc độ cao, khả năng cản phá và tạt tốt, lên xuống liên tục ở hai biên dọc, hỗ trợ phòng ngự và tích cực tham gia tấn công.
Sức công phá và khả năng phòng thủ của các đội áp dụng sơ đồ này phần lớn phụ thuộc vào phong độ của hai hậu vệ cánh. Bởi ba tiền vệ chơi khá sát nhau, và thường bó vào giữa để gây sức ép ở trung lộ bằng những pha phối hợp bật tường nhanh khi có thời cơ
Sơ đồ chiến thuật 4-3-3
Thủ môn - bốn hậu vệ (hai biên, hai trung vệ) - ba tiền vệ (hai cánh, một trung tâm) – ba tiền đạo (hai biên, một trung phong)
GK - thủ môn
LB - hậu vệ trái
CB – trung vệ
RB - hậu vệ phải
LM - tiền vệ trái
CM - tiền vệ trung tâm
RM - tiền vệ phải
CF – trung phong
LW - tiền đạo biên trái
RW - tiền đạo phải
Đây là sơ đồ chiến thuật thiên về tấn công nhất. Ba tiền vệ chơi khá gần nhau để tăng khả năng hỗ trợ cho hàng phòng ngự. Trong khi đó, ba tiền đạo trải ngang sân để gây sức ép về phía khung thành đối phương trên diện rộng.
Rất ít đội khởi đầu trận đấu theo đội hình này. Nhưng nếu buộc phải kiếm tìm bàn thắng bằng mọi giá, các HLV sẽ tung thêm tiền đạo vào sân hoặc đẩy tiền vệ lên cao để hình thành hàng công gồm ba người
Sơ đồ chiến thuật 4-4-2
Thủ môn - bốn hậu vệ (hai biên, hai trung vệ) - bốn tiền vệ (hai cánh, hai trung tâm) - hai tiền đạo (hai trung phong).
GK - thủ môn
LB - hậu vệ trái
CB - trung vệ
RB - hậu vệ phải
LM - tiền vệ trái
CM - tiền vệ trung tâm
RM - tiền vệ phải
CF - trung phong
Đây là sơ đồ chiến thuật phổ biến của bóng đá Anh. Để đội hình này vận hành tốt, tuyến tiền vệ phải duy trì cự ly hợp lý, có khả năng dâng cao nhanh hỗ trợ tấn công và rút kịp thời để tăng cường phòng ngự khi bị phản công.
Trong hai tiền vệ trung tâm, một sẽ thường xuyên dâng cao để hộ công cho hai tiền đạo. Người còn lại đóng vai trò điều nhịp trận đấu và phòng thủ trung lộ (đây còn gọi là tiền vệ trụ).
Sơ đồ chiến thuật 4-2-4
- Lịch sử ra đời: Chiến thuật này ra đời chính thức vào năm 1958 với sự đăng quang của Braxin tại cúp thế giới Thụy Điển. Người sáng tạo ra chiến thuật này là HLV Bela Guttman của CLB MTK (Hungary), sau đó ông mang sang Brazil. Về sau người ta tranh cãi về " bản quyền " của sáng tạo này là của người Hungary hay Brazil
4: gồm 2 hậu về và 2 trung vệ trong khu vực phòng ngự.
2: gồm 2 tiền vệ kỹ thuật trong khu vực trung tâm
4: gồm 4 tiền đạo ở hàng tấn công.
- Tính ưu việt:
- Sơ đồ 4-2-4 còn có tính ưu việt ở chỗ: 2 tiền đạo phía trong và 2 tièn vệ luôn có thể hoán đổi vị trí cho nhau tuỳ theo tình thế. Tính đồng bộ của sơ đồ này rất cao (trong khi các vị trí ở sơ đồ WM chỉ chơi cá nhân, các cầu thủ ít linh hoạt, chơi phần sân của đồng đội). Tính sáng tạo của các tiền vệ trong sơ đồ 4-2-4 được phát huy tối đa.
(So với sơ đồ WM thì trong sơ đồ 4-2-4: không ai chuyên gánh vác trọng trách ghi bàn, cá 4 tiền đạo đều xông xáo như nhau)
Sơ đồ chiến thuật WM (chiến thuật 3-2-2-3):
Lịch sử ra đời: Chiến thuật này xuất hiện vào năm 1930 tại Anh, Áo và Thụy Sỹ. Đây là lối chơi tiền thân của chiến thuật 4-2-4 phát triển vào giữa 1956. Năm 1925, luật việt vị thay đổi, chỉ cần 2 cầu thủ của đội phòng ngự (chức không pahỉ 3 như trước đó) đứng giữa khung thành và cầu thủ tấn công, thì pha tấn công coi như hợp lệ. Tình huống việt vị giảm hẳn. HLV huyền thoại Hertbert Chapman của CLB Arsenal phát hiện với luật mới này, các pha phản công sẽ trở nên nguy hiểm hơn. Ông đã bỏ ngay sơ đồ 2-3-5 (phổ biến lúc ấy) và khai sinh sơ đồ 3-2-2-3 (WM).
Cách thay đổi của Chapman: kéo hai tiền đạo về hàng tiền vệ; kéo một tiền vệ về hàng hậu vệ. Thế là từ sơ đồ 2-3-5 thiên về tấn công ồ ạt nhưng phòng thủ kém, Chapman có sơ đồ 3-2-2-3 chặt hơn trong phòng ngự, dễ lấy bóng ở giữa sân hơn và sắc bén trong phản công. Giới bóng đá Anh tự hào về phát minh của Chapman đến nỗi họ gần như không có thay đổi nào suốt 2 thập kỷ sau đó.
W: là 3 hậu vệ và 2 tiền vệ ở khu vực phòng ngự.
M: là 2 tiền vệ và 3 tiền đạo ở khu vực tấn công.
5 cầu thủ ở khu W chỉ lo kèm người thật chặt, đôi khi mù quáng. Với lối chơi này các tiền vệ giữa trước đây là những người được tự do sáng tạo, phát triển tấn công thì giờ đấy chủ yếu trở thành các hậu vệ.
- Điểm yếu của sơ đồ WM: các vị trí của từng cầu thủ trong đội hình không mang tính linh hoạt; hậu vệ phải luôn kèm tiền đạo trái của đối phương, hậu vệ trái kèm tiền đạo phải, trung vệ kèm trung phong. (So với sơ đồ 4-2-4: không ai chuyên gánh vác trọng trách ghi bàn, cá 4 tiền đạo đều xông xáo như nhau)
-------------------------------- " Sưu tập "-------------------------------------------
---------- Post added at 22:03 ---------- Previous post was at 22:00 ----------
Sơ đồ chiến thuật 4-4-2 hiện đại
I. Bối cảnh ra đời
Không hoa mỹ như bóng đá Tây Ban Nha, không phóng khoáng như bóng đá Anh, những trận bóng đá tại Iatalia luôn được xem là cuộc đấu trí về chiến thuật, là những pha bóng quyết liệt hơn mức cần thiết và thường bị cắt vụn bởi những pha phạm lỗi. Vào những năm cuối thập kỷ 80 thế kỷ trước, khi sơ đồ chiến thuật 3-5-2 phát triển mạnh mẽ tại châu Âu và đánh bật sơ đồ chiến thuật 4-4-2 cổ điển. Cùng trên nền tảng sơ đồ chiến thuật 4-4-2 cổ điển đó, HLV người Italia Arrigo Sacchi của đội bóng đỏ đen thành MiLan khai sinh ra một sơ đồ chiến thuật khác, sơ đồ chiến thuật 4-4-2 hiện đại (modern).
Một cuộc cách tân về bóng đá, châu Âu chuyển từ sơ đồ 3-5-2 sang sơ đồ 4-4-2 hiện đại. Bắt đầu từ Euro 1992, đội tuyển Italia và các câu lạc bộ trong nước đã gần như chuyển hẳn sang sơ đồ chiến thuật này, đến World Cup 94, sơ đồ chiến thuật 4-4-2 hiện đại đã trở thành phổ biến đối với đội tuyển bóng đá các quốc gia.
Trên cơ sở của từng trận đấu và cầu thủ mà các HLV có được, cũng như tùy thuộc vào từng đối thủ mà nhiệm vụ của từng cầu thủ trong sơ đồ này có thể được thay đổi cho phù hợp.
II. Phân chia sân cỏ
Trong sơ đồ chiến thuật 4-4-2, sân cỏ được chia làm 3 phần theo chiều dọc gồm 1/3 phải, 1/3 giữa và 1/3 trái (hình 1a) và 3 phần theo chiều ngang gồm 1/3 tấn công, 1/3 trung tuyến và 1/3 phòng thủ (hình 1b)
Hình 1a
Hình 1b
Theo tên gọi của cách chia trên, phòng thủ được tập trung ở khu vực 1/3 phòng thủ, tấn công tập trung ở khu vực 1/3 tấn công. So với hai khu vực 1/3 biên thì khu vực 1/3 giữa được đánh giá là quan trong hơn trong cả phóng thủ lẫn phản công.
Kết hợp cả hai cách phân chia trên, sân cỏ được chia làm 9 phần như hình 1c.
Qua hình 2, có thể nhận thấy sơ đồ 4-4-2 có sự hài hòa về phòng thủ và phản công. Và để có một thế trận tốt thì mỗi cầu thủ trong sơ đồ chiến thuật này phải ý thức rõ về vị trí và trách nhiệm của mình