Nói như ông, nước ta không có chiến thuật coi mạng lính như rơm như rác mà đánh thí đánh liều, lợi dụng chiến thuật khôn ngoan như du kích thì có gì sai? Trần Hưng Đạo nói " khoan thư sức dân là kế sâu rễ bền gốc", từ thời nhà An Dương Vương đã dùng du kích, đến các cuộc khởi nghĩa thời kỳ Bắc thuộc như Triệu Quang Phục, thời Trần dùng đoản binh, dân binh để đánh úp tiếp tế giặc một cách phổ biến, thời Lê thì đất nước đã suy yếu do người tài, sản vật bị đem sang Tàu hết, nên cũng dùng du kích, vậy chứ trận Chi Lăng không làm như thế sao giết được Liễu Thăng? Thời Lam Sơn chỉ có 2 cách đánh chính là du kích, phục binh và bao vây cô lập thành lũy, tại vì quân Minh nó sợ không dám đánh ngoài bãi nên núp hết trong thành.
Tóm lại chiến thuật du kích nếu không dùng như một chiến thuật chủ yếu thì cũng không thể thay thế được.
Chiến tranh tổng lực với quân số lớn hơn không phải là loại đánh thí đánh liều nhá vẫn có chiến thuật đàng hoàng để dùng số đông vừa trấn áp vừa đánh tan địch mà thiệt hại ít nhất, trong chiến thuật Châu Âu gọi là "Superior Firepower", quân ta chỉ có thời chống Pháp, Mỹ mới dùng du kích vì kỹ thuật, hoả lực ta yếu hơn địch. Ngay thời Trần chống Mông Cổ, đọc sử là thấy, chả phải chiến tranh du kích, có chăng chỉ là vài nhóm dân quân địa phương đánh du kích lẻ tẻ một cách tự phát và hoàn toàn không hiệu quả với quân Nguyên-Mông, bọn chúng vẫn hoàn tất trạm tiếp tế, đồn luỹ như bình thường, còn chủ chương của quân chủ lực Trần, ngay trong một đống sách sử như Đại Việt sử ký, Việt Nam sử lược cho tới Nguyên sử thì quân Trần đều dùng chiến tranh tổng lực, trận Vạn Kiếp 10 vạn quân Trần Hưng Đạo dàn ra nghênh đón rồi khi rút lui có 10 vạn quân của vua Trần tiếp ứng, khi phản công trên trục sông hơn có tới hơn 40 vạn quân, thành Thăng Long vây những mấy lớp, lần thứ 3 thì thậm chí còn không thèm rút chạy, dàn quân bao vây địch chết cứng ngay tại Vạn Kiếp. Vì với tư duy chiến tranh thời Trung Cổ của ta là ta càng đông hơn địch thì thiệt hại của ta càng ít. Sang thời Lê, quân Lê lúc khởi nghĩa còn yếu thì du kích, còn khi đã đủ mạnh, quân số lên tới 35 vạn quân thì tràn ra mà đánh địch tới tận Đông Quan, vây 4 mặt, ngày đêm bắn phá. Trận Chi Lăng - Xương Giang, đúng hơn là tập kích chứ không phải du kích, vì để chuẩn bị đón 15 vạn quân địch, quân Lam Sơn phải đồn sức triệt phá hàng loạt đồn, thành như Xương Giang để địch không có nơi tiếp ứng, như thế là công thành luôn rồi,chưa kể trước ải Chi Lăng, địch cũng đánh nhau với quân ta ở ải Lưu, rồi quân ta mới rút về Chi Lăng mai phục địch, và trong trận Chi Lăng, quân ta 4 mặt tiến đánh, tên, phi tiêu, lao ném tới tấp quyết đánh gãy cánh quân của Liễu Thăng, nhưng vì quân địch đông hơn quân mai phục của ta nên 9 vạn quân còn lại vẫn cố chạy qua được ải Chi Lăng, và quân ta ở Chi Lăng tiếp tục truy sát sau lưng địch khiến địch càng trở nên hỗn loạn khi tiến vào các trận mai phục kế tiếp. Trong khi đó cánh quân của Mộc Thạnh bị cầm chân tại ải Lê Hoa, tức ta thủ thành, địch vây thành, đây chính là ý đồ của Lê Lợi khi cho quân đánh chiếm các đồn ải của giặc gần biên giới để đón địch, cầm chân địch nên đủ mạnh như việc cầm chân Mộc Thạnh ở ải Lê Hoa, còn rút lui và mai phục địch nếu địch mạnh ở ải Chi Lăng chứ không phải chủ chương chiến tranh du kích chọt chọt địch mấy phát rồi chạy.
Du kích không phải chiến lược khôn ngoan vào thời Trung Đại, vì nó phải nhường đất, chủ yếu là đồng bằng cho địch, với quân số tới hàng trăm ngàn mà nhường đồng bằng thì lấy gì nuôi quân đây. Chính vì vậy trong lần 2, Trần Hưng Đạo phải quyết định tấn công tổng lực hệ thống phồng thủ dọc sông Hồng của quân Nguyên chứ không thể đợi cho tới khi bọn nó "mệt mỏi" vì quân Nguyên đã sẵn sàng cho chiến tranh kéo dài. Khởi nghĩa Lam Sơn ban đầu quân ít thì du kích được, khi nghĩa quân càng lúc càng đông thì phải tiến quân ra giải phóng nhiều vùng đất để lấy lương thực nuôi quân. Còn sang thời Nguyễn Huệ thì chả biết tới du kích là gì vì Nguyễn Huệ toàn cho thuỷ quân dàn quân ra rồi dùng pháo và pháo hạm áp đảo quân địch và thường chỉ đánh 1 trận trong vài ngày là xong chứ không cù cưa dưa ngỗng.
Nói tóm lại, cứ giở các cuốn sách sử như Đại Việt sử ký, Việt Nam sử lược, cho tới các cuốn binh thư như của Trần Hưng Đạo, Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ sẽ thấy, quân ta thắng ngoại xâm nhờ lối chiến tranh tổng lực:
"Quân đông và hung hãn, trang bị tốt, kĩ thuật mạnh (như thời Trịnh-Nguyễn: súng ống đầy đủ, và được trang bị thêm thanh đao để cận chiến), kỉ luật cao, tướng lĩnh tài". Chứ ngồi trong rừng mà du kích trong thời Trung Đại thì số phận Việt Nam sẽ như Champa

. Còn thời chống Pháp, Mỹ thì có "đồng minh" tiếp sức rồi nên mới du kích hiệu quả và vì một trong những lý do quan trong nữa là kỹ thuật của Pháp, Mỹ hơn hẳn ta nên không thể đưa quân ra vị trí trống trải (trừ trận Điện Biên Phủ là dạng vây thành với lối chiến tranh hào).
Trong binh thư yếu lược về phép đóng dinh/trai: thì việc đóng trại trong rừng là tuyệt đối không nên
- Không đóng ở nơi núi rừng cây cối um tùm, mùa xuân mùa hạ cành lá rậm tốt; không trông thấy người ngựa, sợ giặc xuyên qua đường lạ mà lại đánh dinh trại ta; mùa thu mùa đông cỏ cây khô héo, sợ địch ở đầu gió phóng lửa mà nhân đánh cướp trại ta, khó bề tránh mà đối phó.
Và nên đóng trại ở nơi gần sông suối, có được vận lương sau lưng, bốn mặt không có núi cao, thung lũng lớn (thế khác nào đóng quân ngoài đồng bằng
- Nên ở nơi lưng cao mặt thấp, trước có sông chảy, sau có đường vận lương, bốn mặt không có núi cao lũng lớn, dù ở xa cũng không có hại.