Tuyết lại rơi lả tả, tạo nên lớp phủ trắng tinh ngày càng dày trên khắp những hang cùng ngõ hẻm của thành phố Old Flower.
Nhiều người đi đường mang đủ hành trang áo ấm quấn khăn len, ấy vậy mà vẫn thấy rùng mình mỗi khi các bông tuyết lành lạnh theo chân những ngọn gió đông rét mướp lướt qua, phải vội tăng nhịp bước để chóng đến nơi cần đến, để rồi lại rút về căn nhà ấm cúng của mùnh.
Còn những người vô gia cư thì sao? Có kẻ đói ở gầm cầu phải đi làm thuê trong cái rét cắt da; có kẻ lạnh phải chen chúc nhau trong những túp lều tự tạo trong công viên và chia sẻ từng tờ báo làm chăn để giữ chút hơi ấm tình người; cũng có những cụ già có lẽ đã cảm thấy quá mệt mỏi với cuộc đời mang một sắc trắng lạnh lẽo như tuyết của mình, nên đã ngủ một giấc sâu thật sâu, nhất quyết không động đậy một ngón tay mặc cho những tiếng kêu gọi thấm đẫm nước mắt của bè bạn xung quanh.
Nếu so với những mảnh đời thuộc tầng lớp dưới đáy xã hội như thế, thì có lẽ gã vô hình nên cảm thấy mình may mắn chán. Hãy nhìn cái ‘hốc’ nhỏ mà gã đang sống xem: một căn hộ bằng gỗ cũ mèm nhưng đủ chắc để không bị những cú hắt hơi làm sập; với bốn vách tường và một mái nhà phủ mạng nhện ,tuy thủng lổ chổ để mặc cho một vài bông tuyết lẻ loi đi lạc vào, nhưng vẫn làm tốt công việc che mưa che nắng của mình
Trong căn bếp bỏ hoang ở tầng dưới do hầu như chả có ai dùng đến, gã đang tranh thủ chút hơi ấm đang tàn lụi dần của cái bếp dùng than hồng, với cái nồi súp nhỏ nhặt được gần một túp lều bỏ hoang trong công viên, để nấu bữa sáng. Bỏ thêm một ít khoai tây cắt lát vụng về vào trong nồi, gã khuấy nồi súp cho đến khi khoai đủ nhừ thì liền rút một cánh tay vào trong ống áo khoác và dùng nó như một găng tay cách nhiệt để bắc cái nồi nóng đang hôi hổi lên. Đương nhiên gã không quên với cái tay còn lại lấy vài cái muỗng và chén bát.
Trước khi hơi nóng có thể ăn xuyên qua cái lớp vải cũ sườn của ống tay aó khoác, hắn bước vội trong cái hành lang gỗ tối tăm do thiếu ánh nắng lẫn ánh đèn cầy, và tiến thẳng lên căn hộ của gã ở tầng trên. Tiếng gỗ cũ rít lên kẽo kẹt theo từng bước chân của gã như một bản xướng âm ma quái của một căn nhà trọ có tuổi nhưng nổi tiếng bị ma ám này. Một lý do tại sao giá thuê nơi đây rẻ mạt nhưng chả ai dám ở cả. Ngoại trừ gã, kẻ không sợ ma nhưng ma thì chắn chắc sẽ hết hồn khi thấy gã gỡ mắt kính ra.
Hắn mở cửa hở ra một chút, lách vào và đóng vội lại ngay. Nhưng có lẽ gã hơi lo xa, vì cái thân hình nhỏ xíu của một bé gái tóc tím vẫn đang ngủ gật gù dựa đầu vào góc tường ,người thì quấn cái chăn mỏng độc nhất của gã thành nhiều lớp đặng giữ ấm. Nhờ cái chăn đó mà gã mới đủ can đảm thu hồi lại cái áo khoác ‘bất ly thân’ của mình, nhưng bù lại gã có cảm giác mình sắp cảm tới nơi rồi sau vài đêm ngủ không trên sàn nhà gỗ lạnh toát.
Hắn đặt cái nồi súp nghi ngút khói xuống sàn nhà và vỗ nhẹ trên gò má ửng hồng do lạnh của cô bé. Đôi mắt tím của cô mở he hé ra một cách uể oải, rồi lại khép lại ngay khi thấy gương mặt quấn băng đeo kính râm của gã. Có lẽ cô vẫn không thích thấy mặt gã.
Nhưng dù có ghét gã đến mấy thì cái ghét không làm cô no bụng. Gã biết thế, nên chỉ lẳng lặng múc súp nóng vào một cái bát nhỏ, và để cái chén bốc hương nghi ngút trước mặt cô bé. Thế là sau một vài giây phân vân, cô bé chẳng đặng đừng mở mắt ra, vẫn cố không nhìn thẳng vào gã và giơ đôi tay nhỏ xinh đón lấy bát súp nóng. Thoáng liếc gã một cái, có vẻ như một cách cảm ơn không lời, cô múc từng muỗng súp ấm đưa lên đôi môi hơi tai tái sau một đêm lạnh giá.
Gã không múc đồ ăn vào bát của mình, mà chỉ lặng thinh quan sát sắc mặt cô bé hồng hào hẳn lên do hơi ấm từ bát súp nóng hổi. Trán cô nhăn lại rồi lại giãn ra vì lý do chi đó, mà gã đoán là do mình nấu ăn vụng quá nên cô chê. Cũng phải thôi, mới hai đêm trước cô bé vẫn còn là một tiểu thư nhỏ trong một ngôi biệt thự đầy kẻ hầu người hạ mà.
Nhưng gã lấy làm ngạc nhiên là, cũng như những buổi sáng trước, kể từ khi cô bé đến sống chung với gã trong căn phòng tồi tàn này, khi ăn xong thì cô lại rụt rè giơ cái bát không ra, ra ý muốn thêm bát nữa. Gã biết ý cô nên không ăn vội để phần cô muốn bao nhiêu cũng được, và thế là múc thêm chén nữa đưa cho. Liệu một đứa trẻ có ăn nhiều thế không, hay đơn thuần là do cô bé đói? Gã chịu thua.
Sau khi kết thúc chén thứ ba thì nét mặt cô bé nhìn rất mãn nguyện, và cô lại rúc vào tấm chăn mỏng quấn thành nhiều lớp mượn từ gã để giữ lại hơi ấm mà bữa sáng đã mang lại cho cô. Còn lòng gã thì ấm hơn một chút, không rõ vì thấy cô bé được ăn no hay là do cái dòng chảy súp ấm trong cổ họng, khi mà gã kê nguyên nồi súp nhỏ và đổ hết vào cái miệng trống hoác đen ngòm của mình. Vì bị cái nồi che mặt nên gã không thấy cô bé chun mũi ra khi chứng kiến cách ăn uống kì cục của gã.
Thế là xong bữa sáng. Gã quẹt miệng vào cái tay áo khoác của mình, và ngó ra cửa số đang bị tuyết phủ mờ mờ, nhìn vào dòng người đi đường mang áo len hối hả băng tuyết mà đi ở ngoài kia, rồi thở dài. Hy vọng đây sẽ là một buổi sáng tốt lành để ‘làm ăn’, vì tuí gã đã hết nhẵn tiền sau hai ngày trời nuôi hai miệng ăn.
Có điều gã không yên tâm lắm khi để cô bé ở lại một mình trong căn hộ tồi tàn này. Bởi vì cô luôn tìm cách trốn khỏi gã để đi tìm cha , người đã chết dưới đống đổ nát khi căn biệt thự kia phát hỏa hai đêm trước. Nhưng tại sao cô không tin điều đó ngay cả khi đã tận mắt chứng kiến người cha của mình chìm trong biển lửa? Vì cô là con người, hay vì là trẻ con?
Khó hiểu không kém là trông cô bé rất lờ đờ vào buổi sáng nhưng lại năng động lạ thường khi hoàng hôn xuống, làm gã tốn hai đêm ngủ gật gà gật gù áng ngữ ngay cửa để chặn đường trốn của cô. Lúc gã đang bận suy nghĩ thì cô bé nắm vạt áo khoác cũ sờn gã
“Chú ơi”, cô lặp lại điều mà cô luôn nói ngay khi chịu bắt chuyện với gã, “Cho cháu đi tìm ba, được không?”
Gã lắc đầu, nhưng lại không dám mở miệng nói thẳng thừng rằng cha cô bé đã mất. Làm sao để giải thích cho cô hiểu mà không làm cô đau lòng? Một câu hỏi lớn không lời đáp.
Né tránh là thế, vậy mà cô vẫn khóc. Nhìn giọt lệ đang lớn dần trên mi mắt cô mà lòng gã thấy thật xót xa. Nhưng lạ một điều là không như hai ngày trước, khi bị từ chối là cô mếu máo làm ầm lên, với một chất giọng khoẻ kinh người, lan xa đến nỗi những người vô gia đang câu cá trên dòng sông đóng băng, ở cách đó một khu nhà cũng phải giật mình đánh rớt cần câu.
Còn bây giờ cô chỉ lẳng lặng bỏ tay áo gã ra, xoay người vào tường và vùi mặt vào cái chăn, đôi bờ vai mảnh khảnh rung lên. Có lẽ cô bé đã hiểu là năn nỉ vô ích nên không đòi nữa chăng?
Thật tình thì gã không biết làm sao để dỗ dành cô cả, vì gã chưa từng dỗ dành ai và chưa từng được ai dỗ dành. Nhìn cô bé như thế khiến gã thắc mắc không biết khi còn nhỏ mình có như thế không. Ờ mà hồi nhỏ gã ra sao nhỉ? Ký ức gã trắng tinh như cái bông tuyết nhỏ xíu đi lạc vào trong phòng, bay lờ đờ trước mặt gã.
Gã khều trái bóng nhựa nằm lăn lóc trong góc phòng, một thứ gã tiện tay nẫng luôn khi ‘nhập nha’ một cửa hàng đồ chơi, và đặt kế bên cô bé, hy vọng cô sẽ có cái mà chơi và sẽ không buồn vì phải ở lại một mình khi gã phải ra ngoài kiếm chút tiền còm. Trẻ con hay vui đùa với những trái bóng lắm, hay ít ra là gã nghĩ thế khi thấy chúng giành lộn với nhau trái bóng nhựa xanh xanh đỏ đỏ ở công viên vào những ngày đẹp trời hiếm hoi ở cái thành sụt sùi mưa này.
Với một tiếng rít két do đóng cánh cửa phòng han gỉ, gã tra chiếc chìa khóa đầy gỉ đỏ vào trong ổ và khoá nó lại với một tiếng cách. Áp tai vào cửa để nghe xem có tiếng động gì bất thường từ cô bé không, gã chỉ nghe tiếng cô bé thút tha thút thít. Lòng gã lưỡng lự lắm, nhưng cả cô bé và gã không thể ăn tuyết mà sống qua ngày được. Cũng không thể đem cô bé theo, phần vì vướng tay vướng chân, phần thì… gã không hiểu sao mình không muốn cho cô bé biết mình kiếm tiền như thế nào.
Cho nên, gã đành thở dài bước chân trên cái sàn nhà kẽo kẹt một cách nặng nề, rồi rời khỏi cái nhà trọ tồi tàn này.
*
**
Thời tiết gần mùa đông ngày càng tệ hơn. Nhiệt độ bên ngoài càng lúc càng xuống thấp, có lẽ đã thấp hơn qua mức không độ.
Trên những con đường phủ tuyết trắng tinh tươm, ngoài những khách bộ hành bận rộn với những toan tính riêng của mình, nay còn xuất hiện những người làm công đang hì hục xúc tuyết với độc mỗi chiếc xẻng, một cái áo ấm mỏng và cái mũ bảo hộ để lưu thông con đường tuyết phủ đến ống quyển. Có lẽ họ cần tiền lắm mới phải đi ‘bán sức lao động’ giữa tiết trời cắt da cắt thịt như thế này.
Bước nhanh trên những con đường đã được dọn một phần tuyết dưới bàn tay thoăn thoắt của họ, gã cũng hiểu được phần nào cái cảm giác túi tiền rỗng tuếch mà phải lo toan cho từng miếng cơm manh áo đặng sống sót qua mùa đông khắc nghiệt này. Vòng đời của những nhân công xúc tuyết thuê, hay cũng như những kẻ làm thuê khác cứ luẩn quẩn trong cái vòng làm việc cật lực để lấy tiền nuôi thân, đặng có sức khoẻ để rồi phải làm việc cật lực tiếp.
Nhưng ít ra những người nghèo như thế sống bằng chính sức lao động của mình, còn gã thì không như thế. Nói cho rõ ràng rành mạch thì, với cái bộ dạng quấn băng như thế thì số người chủ dám thuê gã làm việc đếm trên đầu ngón tay. Và, như đã nói ở đâu đó, gã rất ghét cái ánh mắt xót thương hoặc xa lánh mà người khác dành cho gã mỗi khi họ thảng thốt thấy gương mặt xác ướp của gã. Thế nên, gã từ chối đứng vào hàng ngũ những kẻ làm thuê lương thiện và bước vào một chỗ tăm tối hơn: nghiệp đạo chích.
Sống với cái nghề thó của thiên hạ này từ rất rất lâu rồi, khi mà dân có tiền có của bắt đầu đổ về đây sinh sống, nên gã biết rất rành những thủ thuật ‘cầm nhầm’ của giới đạo chích’. Đã thế, với khả năng tàng hình của mình đã nâng khả năng ‘nhập nha’ và ‘nẫng của’ của gã thuộc hàng bậc thầy. Hầu hết các vụ đều trót lọt, trừ những lúc xui xẻo bị bắt quả tang những tay Thánh-hộ-vệ, những kẻ bảo vệ an ninh giữa người và sinh vật huyền bí tại Old Flower. May mắn là gã đều tàng hình chạy thoát được, không thì rắc rối to.
Chân gã thoăn thoắt đưa gã một ngã tư đường nơi đã từng chen chúc xe cộ và người qua lại, giờ người thì thưa thớt, còn xe cộ thì chỉ có những chiếc xui xẻo bị mắc kẹt giữa lớp tuyết phủ dày cả tấc, với chủ xe la ó yêu cầu qua điện thoại gửi ngay những thợ đào tuyết tới. Hắn dừng lại tại đây một lúc để quan sát.
Xa xa bên trái có lò bánh mì trưng bày những chiếc bánh vàng ươm, thơm phức sau lớp cửa kính, khiến những ai bụng đói trong cái rét lập cập này cũng phải ngoái nhìn nhỏ dãi khi đi ngang qua. Thường những tiệm bán bánh không có nhiều tiền lắm, nên gã bỏ qua.
Mé bên phải có một tiệm quần aó ấm với khách khứa đông nườm nượp, đa phần là những bậc cha mẹ đi mua sắm áo leo, khăn quàng cổ để giữ ấm cho con cái họ. Nói đến cha mẹ thì gã lại nghĩ đến hình ảnh cô bé Bell đang phải quấn cái chăn mỏng tang ở nhà, khẽ rung người mỗi khi những ngọn gió rét len vào được trong căn phòng lủng lổ chổ. Thế là, danh sách những thứ cần mua đầu tiên cả gã có thêm một dòng “Đồ giữ ấm cho cô bé con”, sau dòng đầu tiên là “Đồ ăn dự trữ”.
Lúc có tiền thì tính thế, còn lúc này thì gã làm lơ cái cửa hàng đông đúc đó vì rất khó thoát thân với lượng người đông đúc như thế. Và mắt gã chấm ngay một cửa hàng bán trang sức ở đối diện cửa hàng áo ấm kia. Vàng và nữ trang luôn đem lại nhiều tiền, và lại rất nhỏ gọn để mang đi. Đây sẽ là ‘con mồi’ của gã.
Quẹo vào một con hẻm nhỏ tối tăm và tàng hình, gã đi ra và bước đi sau lưng một quý bà hơi bị phì nhiêu, với áo len đỏ chói cùng khăn choàng da cáo quấn quanh cổ và hàng tá trang sức đắt tiền trên người. Cẩn thận để dấu chân của mình trên tuyết đè chồng lên dấu chân thuộc cỡ bự của bà ta nhằm ‘hợp pháp hóa’ chúng, hắn theo đuôi bà ta, đi vào cửa hàng luôn.
Tiệm nữ trang này chắc thuộc loại hàng nhất nhì thành phố nên bên trong rộng rãi cùng hàng hàng lớp lớp những quầy nữ trang. Và quý bà phốp phát kia mới bước vào đã kêu ngay đem ra món đắt tiền nhất với vẻ mặt vênh vênh phát ghét.
Người nhân viên nam, có lẽ phải kìm lắm mới không đấm vào mặt bà ta, vội khúm núm đem ra những món hàng thượng hạng nhất mà cửa hàng có được, miệng thì vồn vã nói xuất xứ từng món, dù lòng chắc mẫm bà này chả quan tâm gì ngoại trừ việc nữ trang được nạm kim cương hay đính hồng ngọc.
Gã quan sát quý bà kênh kiệu kia hết cầm từng món lên ngắm nghía, ướm thử rồi chê ỏng chê eo, lòng chỉ muốn chơi bà ta một vố cho bõ ghét. Thế là, nhân lúc người nhân viên đang luống cuống chọn ra những món trang sức khác theo yêu cầu của khách hàng, còn quý bà thì bận ngó nghiêng những món khác ở tủ kính kế bên, hắn liền giơ hai tay chạm vào hai món trang sức gần nhất và có vẻ đắt nhất.
Người nhân viên quay lại đưa thêm hàng mới, và khi đang gom những món đồ cũ bị chê lại thì trố mắt ra vì thấy mất tiêu hai món. Anh ta nhã nhặn bảo bà ta cho xin lại hai món trang sức đó thì bà ta tím mặt vì giận, và bắt đầu to tiếng nạt nộ. Còn anh ta thì có vẻ như tức nước vỡ bờ, cũng phản bác lại với những lời lẽ không được lọt lỗ tai cho lắm.
Lợi dụng việc cãi vả thu hút sự chú ý của mọi người trong cửa hàng, gã cười thầm và nhè nhẹ bước ra đẩy cửa kính. Sức hút của cuộc cãi vả đủ lớn để không ai để ý cánh cửa kêu kẽo kẹt và những dấu chân kì lạ tự nhiên hiện ra trên nền tuyết, đi ngày càng xa cho đến một cái hốc tối nhỏ khác cách xa hiện trường phạm tội hơn nửa dặm.
Tại đây, gã hiện hình với hai cái hộp nhỏ trên tay. Giấu chúng dưới lớp áo khoác để không ai vô ý nhìn thấy, gã mở ra để ngắm nghía chiến lợi phẩm của mình.
Mội cái chưa một chiếc nhẫn nạm hồng ngọc đỏ như máu bồ câu, có lẽ là hàng bán được giá. Còn cái kia không có vẻ đắt tiền lắm. Hình như nó là một cái kẹp cài tóc hình cánh chim bạc như màu ánh trăng dìu dịu.
Không hiểu sao, gã lại nghĩ rằng nó hợp với mái tóc tím thẫm như màn đêm của cô bé.