“Ngươi hỏi là phải làm gì với một đứa bé không cha không mẹ? Giao nó cho trại trẻ mồ côi, tất nhiên rồi!” - Cái giọng cười đểu cáng đáng ghét đó thuộc về một lão đầu trọc lóc sần sùi, đô con, chủ nhân của một tiệm cầm đồ cũ kĩ nằm lạc lõng sâu bên trong một hệ thống chằng chịt đường ngang ngõ hẻm thiếu cả ánh sáng mặt trời ban ngày lẫn ánh đèn đường ban đêm
Đây là một cửa tiệm tồi tàn không kém căn hộ của gã vô hình, không khí thì đầy mùi gỗ mốc meo, mạng nhện giăng đầy trên những kệ tủ ẩm ướt, chứa đầy những thứ đồ dùng cầm cố mà có lẽ chủ nhân của chúng còn lâu lắm mới chuộc lại được. Cũng có khi là không bao giờ với số lãi cao ngất ngưỡng mà lão chủ tiệm đề ra, còn lão chỉ đợi hết hạn trả là hốt gọn toàn bộ đồ đạc và đem đi bán với giá hời.
Còn gã thì chỉ lẳng lặng đếm số tiền lấy được từ việc bán cái nhẫn nạm hồng ngọc đỏ au như máu bồ câu kia, và chắc mẫm là lão hói chết bầm kia đã dìm giá tối đa. Nhưng quả thật rất khó kiếm đâu ra một cửa tiệm chịu tiêu thụ đồ gian mà không bị cảnh sát rờ gáy như cái nơi tọa lạc trong một mê cung những con hẻm thế này, nên gã đành phải chấp nhận số tiền ít ỏi kiếm được, và phải kìm lòng lắm mới không thụi cái lão chủ đang cười hô hố kia.
Gã thở dài đánh sượt rồi bỏ số tiền ít ỏi kia vào túi. Ít ra cũng đủ mua một chút lương thực dữ trự cho một vài tuần ,và nếu dè sẻn chút đỉnh thì có lẽ cũng sắm được một cái chăn bông ấm cúng cho cô bé Bell, người mà theo gã chắc đang buồn và cô đơn khi phải ở nhà một mình giữa mùa đông. Hay là bán luôn cái kẹp tóc bằng bạc kia để có thêm chút tiền còm?
“Tự nhiên nhắc đến viện mồ côi thấy nhớ hồi đó khủng khiếp. Ngươi chắc chắn không biết là hồi đó ta đây từng làm trùm cả một trại trẻ mồ côi đấy…” - lão chủ xoa xoa cái đầu hói, giọng khoe khoang cứ léo nhéo như đấm vào lỗ nhĩ khiến gã chỉ muốn bỏ đi quách cho xong.
Ừ mà gã cũng đâu còn việc gì để phải ở đây nữa, ngoại trừ việc muốn tìm hiểu xem viện mồ côi là một nơi như thế nào. Nhưng có lẽ, gã đã hỏi sai người rồi cũng nên.
“Ôi, cái hồi đó ấy, ta được mệnh danh là ‘Quỷ trọc đầu’. Ta chuyên nắn gân mấy thằng nhóc láo toét dám tài lanh với ta, còn mấy nhỏ con gái thì… chậc chậc”, lão liếm mép một cách thô bỉ, “…tụi nó mà không nghe lời ta thì đừng hòng ta để yên cho. Chà chà, ta nhớ có lần…”
Thế là, lão say sưa kể về những ‘thành tích’ đã đạt được khi còn làm mưa làm gió ở cái trại trẻ mồ côi nào đó vô phúc tiếp nhận cái con quỷ ‘ác từ trong trứng ác’ ra này. Say máu đến nỗi, lão ta không hề để ý rằng nhân vật duy nhất đang nghe lão luyên thuyên là một con gió đông lạc lõng, cuốn theo những bông tuyết ngơ ngác đi vào theo lối cửa tiệm để ngỏ cửa.
Còn gã khách hàng quấn băng quen thuộc đã bốc hơi tự khi nào, lòng tự nhủ rằng sẽ không bao giờ giao cô bé cho bất cứ trại trẻ mồ côi nào hết.
*
**
Tuyết lại rơi và phủ đầy trắng xóa trên những con đường tuy mới buổi sớm nhưng khách bộ hành ngày càng thưa thớt, còn những chiếc xe hơi thì xem ra chẳng nhích lên được chút nào cả so với sau vài tiếng về trước
Gã quấn băng đi ngang qua một nhóm nhân công xúc tuyết đang tranh thủ ca nghỉ của mình ở trong một con hẻm nhỏ, hớp chút rượu rẻ tiền nhằm làm ấm người lên để chống chọi với cái lạnh cóng da cắt thịt này. Tiếng bàn tán xôn xao với những hơi thở ra khói vang lên, rằng tuyết lần này rơi quá nhiều khiến những con đường đã được dọn tuyết nhanh chóng bị phủ trở lại với mốt lớp tuyết mới trắng tinh, rồi đâu đó có tiếng than thở lo rằng sẽ bị chủ thuê kiếm cớ mà bắt chẹt tiền lương.
Nghe họ nói về đợt tuyết dữ đang tràn về, gã mới để ý là hôm nay trời lạnh hơn hẳn mấy ngày trước. Lớp vải quấn băng của hắn vốn đã âm ẩm vì khí trời ẩm thấp, nay lại thêm những đợt gió rét phà vào mặt khiến da gà da vịt của hắn nổi lên, và gã có thể thấy cơn cảm mạo đang chớm của mình sắp sửa trở nặng. Đã thế những vết bỏng cũ tuy đã lành nhưng vẫn ran rát âm ỉ mỗi khi gió nổ lên. Phải về nhanh chóng thôi nếu không sẽ lăn đùng ra ốm mất. Có lẽ cô bé Bell cũng sẽ cảm thấy thế ở căn hộ cũ nát của gã.
Nhưng trước tiên gã phải sắm sửa vài món cần thiết để sống sót qua khỏi mùa đông này cái đã. Thế là, trên con đường dẫn đến căn nhà trọ tồi tàn kia, gã có ghé ngang một tiệm bán thức ăn mua thêm bánh mì vài loại thức ăn cần thiết. Nhìn món tiền ít ỏi vừa kiếm được kia vơi đi quá nửa mà chỉ có được một tuần ăn uống dè sẻn mà gã cảm thấy xót ruột quá. Thôi thì ‘của thiên trả địa’ vậy.
Rời cửa hàng với một tiếng thở dài, gã đi ngang qua một cửa hiệu quần áo, ngó vào một dãy bày áo ấm qua lớp kính trưng bày cùng với bảng giá, rồi nhún vai bỏ đi. Đa phần toàn áo ấm bằng vải len thượng hạng, hoặc khăn choàng lông thú với giá cả thuộc về ‘cõi trên’. Gã không thuộc về mấy nơi bán hàng cắt cổ thế này, mặc dù có lẽ nếu còn sống thì cha cô bé sẽ dẫn cô vào đây và sắm cho cô một bộ trang phục mùa đông tim tím dễ thương.
Điểm đến tiếp theo là một tiệm chuyên thu gom và buôn bán đồ cũ ở xa xa góc phố, nơi mà theo gã có gần hết mọi thứ trên đời. Có lẽ lúc này thì Nữ thần may mắn mới chịu hé con mắt liếc gã một cái khi bà chủ tiệm lôi ra thứ gã cần từ trong mớ lộn xộn những thứ cũ kĩ đầy bụi bặm. Đó là một cái chăn bông bị sút chỉ chút đỉnh ở một đầu, nhưng vẫn dùng được và giá cả thì cũng đủ rẻ để gã dư dả chút đỉnh với số tiền còm còn lại. Ít ra nó ấm hơn hẳn cái chăn mỏng tanh của gã mà cô bé đang xài giùm.
Có lẽ ngó gã ngô ngố giống một tên vô gia cư khi tay xách giỏ đồ ăn, tay kẹp nách cái chăn bông cũ cuộn tròn, nếu không sao người ta cứ nhìn gã chằm chằm như thế. Tranh thủ con đường đang ngày càng vắng vẻ, hắn quẹo vào một hẻm nhỏ để tàng hình. Đúng như gã đoán, chả ai buồn để ý những dấu chân khi khổ khi không hiện ra trên lớp tuyết phủ kì quái trên một ngày giá rét lạnh thấu xưuơng tới này.
Những dấu chân ấy cứ tiến về phía trước rồi quẹo vào một con hẻm nhỏ, nơi tọa lạc một ngôi nhà trọ cũ kĩ nổi tiếng với những câu chuyện ma quái. Những bông tuyết rơi ngày càng dày trám vào những chỗ hõm tạo ra trên nền tuyết trắng tinh, xóa sạch mọi dấu vết của người đi đường. Cho nên, gã không nhìn thấy được những dấu chân be bé tiến ra theo hướng ngược lại cách đó nửa giờ.
Vào đến nhà thì gã hiện hình trở lại, bỏ đồ đạc vào một ngăn tủ bếp đã được quét dọn sạch sẽ trong nhà bếp phủ bụi và mạng nhện này, rồi xách cái chăn bông tiến lên căn hộ ọp ẹp của gã trên lầu một. Hình ảnh cô bé cuốn chăn bông ấm ap ngủ một giấc ngon lành khiến lòng gã cảm thấy thú vị làm sao ấy.
Nhưng khi đã lên hết cầu thang, gã phát hiện căn phòng vô chủ kế phòng gã đã mở toang cửa. Có thể là một cơn gió mạnh đi lạc đã mở nó, nhưng gã có linh tính không lành. Chạy vội về phía căn phòng, luống cuống tra chìa khóa cái ổ khóa gỉ sét mạnh đến nỗi xém chút làm nó gãy đôi. Cánh cửa bật mở, và điều đã lo sợ đã hiện lù lù trước mắt khiến gã làm rơi cả cái chăn bông: cô bé đã biến mất, trả lại cho căn phòng sự cô độc thiếu sức sống vốn có của nó.
Liếc vội quanh phòng tìm nguyên nhân, gã thấy trái bóng nhựa lẻ loi lăn qua lại theo nhịp gió ở góc phòng, nơi có cái lỗ hổng trên tường gỗ mục, được gã che lại với môt ít gỗ vụn nhặt được ven đường. Ngó cái lỗ vừa đủ cho một đứa bé chui qua, gã bóp mạnh nắm tay, tự trách mình có thể quên một thứ quan trọng như thế này chứ. Nhưng có lẽ cô bé chưa đi xa đâu, nếu gã đuổi theo vẫn còn kịp.
Nghĩ là làm, gã hộc tốc chạy vội xuống lầu một, làm hành lang rên rỉ những tiếng kẽo kẹt khủng khiếp như sắp vỡ tan ra đến nơi, và chỉ dừng lại trước bậc thềm phủ tuyết của ngôi nhà trọ để suy nghĩ. Không có dấu chân trẻ em nào trên tuyết cả, chứng tỏ cô bé cũng đi khá lâu rồi, và gã sực nhớ là cô không có đi giày. Trời rét căm căm thế này mà đi đường không giày, không áo ấm thì chả khác nào đi tự sát.
Gã chạy ra khỏi con hẻm, mặc kệ những ánh mắt hốt hoảng né đường cho gã đi như sợ một bệnh nhân tâm thần vừa mới sút chuồng, mặc kệ cái lạnh giá mà gã vừa mới thoát được chút ít giờ lại phải đâm đầu vào. Gã cứ chạy, chạy nữa, chạy mãi trên những con đường phủ tuyết dày. Nhưng cô bé đi đâu mới được? Nãy giờ gã không nghĩ đến điều đó và cứ chạy mãi một cách vô định. Trong vô thức, đôi chân đã dẫn dắt gã theo những con đường dẫn đến nơi mà ba đêm trước đó còn là nhà của cô bé.
Đến khi dừng lại thở lấy hơi kế bên một cột đèn thì đã thấy ngôi biệt thự của ông Chimes Grandes quá cố hiện ra trước mắt. Cái nơi mà cách đó vài ngày vẫn còn là một ngôi biệt thự bề thế, cổ kính và mang chút tối tăm nhưng ấm áp lạ kì. Không có ai làm việc dọn dẹp đống tàn tích này trong một ngày mùa đông lạnh cóng thế này, cho dù có những dải băng đi vòng quanh hiện trường với kèm một tấm bảng trước cổng ghi ‘Không phận sự miễn vào’
Hắn sực nhớ là cô bé luôn miệng đòi tìm cha, thì có lẽ nơi đây là chỗ thích hợp nhất để tìm. Thế là, hắn vội vàng trèo lên những bức tường đóng rêu phong trơn trượt, vội đến nỗi quên tàng hình như mọi khi. Cũng may là con đường thì vắng vẻ, còn các cửa sổ nhà hàng xóm thì đóng kín mít để ngăn những cơn gió đông thâm nhập vào trong, nên không có ai thấy một cái bóng khả nghi đang trèo tường vào.
Bên trong khuôn viên chỉ có vườn cây cổ thụ và đài phun nước là còn đứng vững, còn lại thì chỉ là những cọc gỗ cháy đen đang bị vùi dần dưới lớp tuyết trắng. Hắn liền chạy vào trong đống tàn tích đó với hy vọng tìm được một mái đầu tím đang run rẩy lang thang trong đó. Nhưng chỉ hoài công vì sau một hồi tìm kiếm, gã phát hiện là không có ai ngoài gã và nhựng đợt gió đông hờ hững, vô tình.
Thất vọng, gã trèo tường đi ra và thất thểu đi trên con đường trắng tinh như một cái bánh phủ một lớp kem mới. Lòng gã thấy hối hận là đã không chiều theo mong muốn của cô bé là đi tìm người cha của mình, dù bây giờ ông đã đi về một nơi rất xa, xa tầm với tau của những người còn sống. Lẽ ra thay vì lảng tránh sự thật, thì hắn nên tìm cách giải thích cho cô hiểu và chấp nhận thực tại thì có lẽ mọi chuyện không đến nông nỗi này. Cho dù điều đó có vẻ quá sức chịu đừng của một cô bé con.
Nhưng mà… tại sao gã lại lo cho cô bé như thế, cho dù một người hoàn toàn không có quan hệ gì với gã? Gã dừng chân lại ở một ngã tư, nơi dòng giao thông đang bị ách tắc và phải những dòng xe đang cố gắng lết bánh chống chọi với lớp tuyết phủ dày theo sự chỉ đạo của những cảnh sát giao thông. Cái bóng gã phản chiếu trên một cửa kính bị nứt của một cửa hàng bán đồ nội thất, nhìn chằm chằm vào gã như thể đang mong chờ câu trả lời từ gã.
Thật sự thì gã không biết lý do tại sao gã lại có một mối quan tâm đặc biệt với cô bé như thế. Vì lòng thương cảm cho một cô bé mất cha? Vì để thực hiện di nguyện của cha cô bé, chủ nhân của ngôi nhà gã tính ăn trộm nhưng bất thành do trận hỏa hoạn?
Tấm bảng gỗ cửa tiệm kêu lạch cạch khi bị gió thổi tung bay, như thể là thiên nhiên đang phủ định giùm gã những thứ kể trên. Cái bóng trên cửa kính thì có vẻ như đang cười cười với gã, có lẽ là một ảo giác giữa ngày đông. Hay là vì gã từng sống cô độc, lủi thủi một mình giữa cái thành phố Old Flower đầy rẫy sinh vật huyền bí sống chung với con người này? Và cô bé có thể ví như một cơn gió màu tím mang lại một cái gì đó mới mẻ nhưng ấm áp vào cuộc đời lẻ loi của gã, dù cô có vẻ kiêu kì chút đỉnh. Có lẽ gã yêu quý cô bé thật, nhưng với vai vế gì thì gã không biết.
Dòng suy tưởng của gã bị cắt ngang khi một cái gì đó bị gió thổi bay và vương vướng ở chân gã. Cuí xuống thì thấy đó là một miếng vải dày cũ sờn, rất giống cái chăn cũ xì của gã. Mà nó đúng là cái chăn của gã thật, khi gã cầm lên và thấy được một vết cắn nham nhở của chuột ở một góc. Và gã nhớ lại thì không thấy cái này ở căn phòng trống không ở nhà, chứng tỏ cô bé đã đem nó theo. Bây giờ nó đây, nhưng cô bé đâu?
Câu trả lời lại một lần nữa từ trên trời rơi xuống khi gã thoáng thấy một cái gì đó tim tím hiện ra trên cái cửa kính trước mặt. Gã ngoái đầu lại thì thấy một mái đầu tím đang gục ở trong một chiếc xe đen xe xì như thể mới nhúng vào hắc ín lôi ra. Gã tàng hình và tiến lại quan sát thì thấy cô bé đang ngồi bên trong cái xe, với hai gã áo đen nhìn rất hắc ám ngồi trấn cửa 2 bên và một tên áo đen tài xế khác. Bọn này không phải là người tốt, gã nhận ra ngay lập tức. Có lẽ là bọn bắt cóc trẻ con đòi tiền chuộc. Cô bé từng là một tiểu thư mà.
Gã chưa kịp làm gì thì cái xe lăn bánh chạy đi. Tại sao vào lúc này thì cái ngã tư phủ tuyết lại được lưu thông. Gã không trách mấy anh công an giao thông hay mấy nguoi nhân công xúc tuyết cần mẫn, nhưng sao lại đúng vào cái lúc gã vừa tìm được cô bé thế này chứ thì thông đường?
Không thể để chiếc xe chạy đi được như thế được. Thế là gã chạy theo khi chiếc xe vẫn còn ở tốc độ có thể bắt kịp bằng hai chân và đạp đuôi xe phóng lên trên nóc, làm một cái rầm. Chiếc xe dừng lại và một tên áo đen thò đầu ra ngó lên xem cái quỷ gì vừa rơi trên nóc xe thế. May là gã đã tàng hình sẵn nên không bị phát hiện, nên cái tên đó chỉ nhún vai rồi rụt đầu vô.
“Chắc là bọn mèo hoang nhảy nóc xe thôi”, gã ngó qua cửa kính xe thấy tên áo đen báo cáo với đồng bọn
“Hừ, tao mặc kệ” – Một tên aó đen to con, có vẻ là sếp sòng của cả bọn cau có – “Tụi bây liệu hồn chạy nhanh lên cho tao. Gần đến giờ giao hàng rồi”
Hàng? Hàng gì? Cô bé Bell à? Bọn chúng coi cô bé là một món hàng ? Mới nghĩ tới đó là hắn thấy sôi gan. Đây là lần đầu tiên gã nếm trải cảm xúc giận dữ kể từ khi có mặt trên cõi đời này.
"…Giết…"
Tiếng nói ghê rợn đó vang lên, nghe xa xăm nhưng cũng rất gần, khiến gã giật mình. Nhưng gã không có thời gian để kiểm tra nguồn gốc tiếng nói, vì phải vội móc những ngón tay quấn băng vào cái khe gờ cửa kính ở phía trước do chiếc xe đột ngột tăng tốc, xém chút nữa hất gã văn luôn xuống đường.
Chiếc xe chạy ngày càng nhanh trên những con đường thông thoáng, mà có lẽ chỉ sau nửa tiếng nửa là sẽ lại ngập trong tuyết. Thật khó khăn cho gã để giữ vừa giữ mình nép sát nóc xe trên cái tốc độ chết người này, vừa không gây ra tiếng động khả nghi nào cả. Đã thế thêm cái lạnh cắt da ám vào lớp vỏ kim loại của mui xe và những ngọn gió đông lạnh lẽo nữa. Phen này gã bị cảm mất thôi.
Những ngôi nhà san sát nhau thi nhau vụt qua dưới sự chuyển động của xe, và trở nên ngày càng thưa dần khi tiến đến ngoại ô thành phố. Và nó cứ thế tiếp tục lăn bánh cho đến khi gã nghe được tiếng sóng vỗ rì rào và chiếc xe hơi giảm tốc dần khi đến một nơi có lưới thép han gỉ vây quanh cùng với một tấm biển to đùng ngay cổng vào.
Bến cảng Rockersea, nơi giao thương kinh tế giữa thành phố Old Flower và phần còn lại của the giới.