- Không đúng à mà lại còn nathing

?
- Không phải là tàu bọc kim loại mà là được phủ đồng chống mối mọt sâu biển
Copper sheathing.
- Không phải "mua và cải tạo" mà là "mua, tháo ra, học và đóng lại", nguyên văn đoạn đó đây:
http://biengioihaidao.wordpress.com...c-the-ky-xvii-xviii-va-dau-the-ky-xix-phan-3/ (Tài liệu về phần đóng tàu được trích dẫn từ Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà 1792-1793-Sir John Barrow, 1st Baronet)
- Cậu đọc quyển Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802 của Tạ Chí Đại Trường mà chẳng biết chắt lọc gì cả, ai bảo Tây Sơn không biết đóng tàu to khi ngay trong quyển ấy viết: "Thực ra sau khi làm chìm chiếc tàu Macao tịch thu được của người Bồ bị bão dạt vào Quy Nhơn, Tây Sơn cũng cố gắng phát triển thủy quân. Nguyễn Huệ đã cho đóng những chiếc "đại-hiệu-thuyền" có thể chở nổi con voi. Có lẽ đó là những chiếc tàu mà người Anh đi lạc vào thành Quảng Nam chuyến tháp tùng phái bộ Macartney đã nhìn thấy và ước lượng đến 150 tấn trọng tải và chắc cũng là loại tàu Định Quốc mà Vũ Văn Dũng đem án ngữ ở cửa Thị Nại trong trận thủy chiến 1801".
- Thời điểm xét đã làm gì có tuần dương (cruiser) với pháo hạm (thật sự chưa hiểu là tàu gì) chỉ có tàu pháo(Gunboat), Thuyền phóng hỏa(Fire ship), Xà-lúp(Sloop), Brig, tàu ga-lê-ôn (Galleon), tàu phơ-ri-ghết(frigate). Thuyền kiểu tây của vua Gia Long đóng theo kiểu
6th Rate đấy ạ, với số lượng khá luôn và
5th Rate cho đến
4th Rate với số lượng khiêm tốn hơn.
P/S: Không hiểu ông nào đề ra cái cách đọc class tàu chiến nửa tây nửa ta chẳng theo chuẩn nước nào làm tìm thông tin khó kinh dị.
_ Về việc phủ đồng chống muối + hà biển thì em mới biết ok, trước cứ nghĩ nó gần hỏng thì về cảng bảo dưỡng, thay thế lớp gỗ. Nhưng chắc là để thuận lợi đi xa mà ít phải cập cảng sửa chữa.
_ Link chết. Về mua, cải tạo, hay là mua, tháo, rồi học, rồi đóng lại có nhiều cái để bàn. Thứ nhất, tháo 1 chiếc tàu, các bộ phận, rồi học lại là làm được, thì TS họ cũng học được, Tàu cũng có thể học được, thậm chí Nhật nếu mua được 1 cái frigate cũng học được. Nhưng thực tế không phải. Gia Định ( tạm gọi phe Nguyễn Ánh như thế cho dễ, bên kia là Tây Sơn ) cũng chỉ chế được thuyền hàng cỡ lớn để chở lương, và cũng chế y hệt kiểu hải thuyền Trung quốc, chứ không chế được tuần dương hạm, vì đơn giản thuyền buôn kết cấu rất khác với thuyền chiến, cần nhiều xắp xếp vô cùng " hiện đại " cho việc sử dụng trọng pháo.
Ví dụ nho nhỏ : trên tàu 2 tầng pháo làm sao để đại pháo cỡ 18 pound đặt tầng dưới không làm vỡ sàn gỗ, pháo 9 pound ở tầng trên sao cho thuyền gặp thời tiết gió mạnh không bị rung lắc. Pháo trên thuyền không hề nhẹ, đặt sai chỗ, kết cấu khoang không đúng, sẽ không chịu tải tốt, khi bắn thậm chí làm vỡ sàn thuyền, hoặc làm thuyền rung quá mạnh, vỡ lớp vỏ hai bên. Ngoài ra còn dự trù việc đi trên biển có sóng lớn, mưa bão v...v... Đó là chưa kể hệ thống phương tiện bơm nước tràn khi thủng thuyền lúc giao chiến, rồi cần cẩu pháo, bảo dưỡng thuốc nổ ( vốn rất khác hàng hoà bình thường ) v...v.. Nói chung cả 2 bên đều không có pháo hạm 2 tầng, và chỉ có tàu cấp tuần dương, nhưng cũng chỉ 30 pháo trở xuống theo như em đọc ở 1 tài liệu. Phần lớn tàu chiến đấu chỉ là cải tạo lại tàu buôn, làm kiểu tàu buôn vũ trang, vừa chở hàng, chở lính, lại có hoả lực khá mạnh.
_ Còn rate thuyền, nó có từ tk 17 bác ạ, ví dụ tàu 1st rate đầu tiên có lẽ là đây
http://en.wikipedia.org/wiki/HMS_Royal_Prince_(1663) 92 khẩu pháo. Thời TS, bên tây âu họ xếp : hơn 100 khẩu là 1st rate, 90+ là 2nd rate, 60+ là third rate dưới đó 30+ là forth và Frigate là tầm 28 khẩu trở xuống, 1 tầng pháo và khoảng 450 tấn. Nếu tính tàu của bên Gia Định 4th rate thì nó phải cỡ 1000 tấn .... nhưng tàu bên TS chở được voi cũng chỉ được xác định khoảng 150 tấn, vẫn còn quá bé so với frigate mới có dưới 30 pháo ! Quan điểm cá nhân em, tàu buôn thời đó không có tàu nào hơn 500 tấn cả, vì hơn đó là thuộc về tàu quân sự rồi ( vì kĩ thuật đóng cực cao mới làm nổi ) nên cùng lắm Gia Định có hơn 10 tàu
bán-frigate mà thôi.
_ Còn về chức năng thuyền, thực ra tk 17 nó chưa có Ship-of-the-line, nhưng thời Tây Sơn, cuối tk 18 rồi, và Ship-of-the-line xuất hiện khá nhiều, thuộc về các cường quốc lớn nhằm canh me mấy đại cảng, đường biển gần nội địa châu Âu ( frigate để đi xa, vì an toàn, ổn định hơn, Ship-of-the-line quá nặng nề, coi như pháo đài phòng thủ - tấn công ở tầm gần lục địa. )
- - - Updated - - -
ngụ binh ư nông nghĩa của nó là "gửi binh ở nhà nông", chứ ko phải là lấy nông làm binh. Đọc đâu đó ko nhớ thì đây là binh chế của nhà Đường. Nhật Bản thời Nara cũng học lại nhưng đến thời Heian thì thất bại vì thế lực giòng họ ở địa phương quá mạnh. Binh lính gửi về nhà nông là thành gia binh của các hào trưởng luôn. Rốt cuộc triều đình cũng giao luôn công việc trưng tập điều động binh lính cho địa phương luôn.
_ Đúng ạ, cái này nó khá đơn giản như bác nói, tóm 1 câu hiện đại : lính thường trực thì cũng phải làm nông để giảm chi phí, hay : bộ đội làm kinh tế. Thế thôi, mà rất rất nhiều người lại tưởng ngược lại : nhà nông dân vừa làm nông vừa làm lính lol
_ Và trên hết, tại sao lại phải vác lính đi làm kinh tế ? đơn giản là vì kinh tế thời cổ, thậm chí còn không đủ chi phí nuôi sống lính thường trực, khi đi lính ngoài 1 phần lương bổng, phải tự làm mà ăn, nhà nước cho khai khẩn ở ngay vùng đồn trú, lính tự làm nông luôn. Còn lúc chiến tranh, ngoài lính thường trực, nhà nước còn " bắt lính " tham gia chiến đấu từ nông dân các vùng nữa, đặc biệt ở ngay vùng chiến sự thì càng nhiều hơn. Vì lẽ đó, Nguyễn Huệ trên đường bắc tiến đánh quân Thanh, qua Thanh Hoá liền bắt lính 3 đinh lây 1 ( 30% suất đinh ) lấy thêm 1 vạn quân kéo ra Bắc. Rõ ràng số người này không thể nào là lính có huấn luyện của Tây Sơn được, nhưng vẫn phải tham gia quân đội Tây Sơn, đơn giản đó là tập tục chiến tranh thời này ( và trước đó nữa ) của VN nói chung và Châu Á nói riêng.