“HOÀNG THẤT”, “HOẠN QUAN” VÀ CON ĐƯỜNG CỦA HAI KIÊU HÙNG
(Tác giả: Phong Trần (Nguyễn Đỗ Thuyên))
(Bài chỉ đăng ở fanpage Tam Quốc Diễn Nghĩa)
Có một định kiến đã khắc sâu vào đầu rất nhiều người đọc Tam Quốc: Tào Tháo là con cháu hoạn quan, danh tiếng không tốt; còn Lưu Bị là dòng dõi hoàng thất, nhờ một chữ danh mà có được thiên hạ.
Có thật là vậy không?
Đôi khi chỉ vì một chút ý đồ của La Quán Trung, một chút ấn tượng về ngôn ngữ, mà người ta dễ dàng quên đi cái thực chất của vấn đề.
Hai câu hỏi sau có thể làm sáng tỏ mọi thứ:
- Nếu Lưu Bị thực sự vì có “danh hoàng thất” mà có được lợi ích, vậy lợi ích đó ở đâu suốt 50 năm ông ta long đong phiêu dạt (trước khi đến Ích Châu)? Cái “lợi ích” đó có giúp đỡ thiết thực gì cho ông ta không? Có đem lại chút địa bàn nào đáng kể, chút chức tước thực thụ, chút binh quyền cho ông ta không?
- Nếu Tào Tháo thực sự là danh tiếng không tốt, bị chê là con cháu hoạn quan, vậy tại sao mưu thần danh tướng về với ông ta nhiều đến thế?
Hãy đi vào thực chất của vấn đề:
1 – “CON CHÁU HOẠN QUAN” – ĐÚNG, NHƯNG CÒN PHẢI XEM ĐÓ LÀ “HOẠN QUAN” NÀO?
“Hoạn quan” trong cái xú danh của Tào Tháo, ở đây là ông nội của Tháo, Tào Đằng. Vậy Tào Đằng là người như thế nào?
Tào Đằng, có thể nói là một hoạn quan "độc nhất vô nhị" trong thời kỳ đó, bởi ông ta không chỉ được lòng “nội đình” (hoàng thất và các hoạn quan thân cận với vua) mà còn được lòng giới danh sĩ “ngoại đình” mến mộ, bất chấp một thực tế là giới danh sĩ khinh ghét hoạn quan ra mặt, và hoạn quan cũng không từ cơ hội nào chèn ép danh sĩ (cùng với ngoại thích, đây là ba thế lực khuynh đảo triều chính cuối thời Đông Hán).
Thật vậy, từ khi làm bạn học bên cạnh Thái tử cho đến khi Thuận Đế lên ngôi, Tào Đằng làm đến Tiểu Hoàng Môn, Trung Thường Thị Đại Trường Thu, tước phong là Phí Đình Hầu (Đình Hầu là tước hầu chỉ dưới Hương Hầu và Huyện Hầu), có thể nói là một hoạn quan cực phẩm. Vậy nhưng ông ta lại đề bạt rất nhiều danh sĩ làm trọng thần trong triều, kể ra Trần Lưu có Ngu Phóng, Biện Thiều, Nam Dương có Diên Cố, Trương Ôn, Hoằng Nông có Trương Hoán, Dĩnh Xuyên có Đường Khê. Trong số đó, Trương Ôn từng làm đến Xa Kỵ Tướng Quân, Thái Úy (Tổng tư lệnh quân đội); Trương Hoán - Trương Nhiên Minh bài danh một trong "Lương Châu tam Minh" (cùng Hoàng Phủ Quy, Đoạn Quýnh), nhiều năm làm Vũ Uy thái thú, chinh chiến với Khương nhân ở biên giới phía Tây, được nhân dân ở đây lập từ thờ phụng, uy vọng trăm năm. Rất nhiều danh sĩ được Tào Đằng đề cử đều thành danh, có thực tài và nắm giữ các chức vụ quan trọng như thế. Uy vọng của Tào Đằng nhờ thế còn lớn hơn nữa.
Cha Tào Tháo là Tào Tung (con nuôi Tào Đằng) “tính đôn hậu, ai cũng tường lòng trung hiếu, ban đầu làm Tư Lệ Hiệu Úy, rồi Linh Đế thăng lên làm Đại Tư Nông, Đại Hồng Lô, rồi thay Thôi Liệt làm Thái Úy”, nối tước Tào Đằng.
Dòng dõi như thế, quan hệ tốt như thế, thì chắc ai cũng muốn làm hoạn quan rồi.
2 – “CON CHÁU HOẠN QUAN” VÀ NHỮNG LỢI ÍCH
Những người hâm mộ Tào Tháo hẳn đều biết “chiến tích” đầu tiên của Tháo ở chính trường Lạc Dương là gì: khi làm Bắc bộ úy Lạc Dương, Tháo đã "sửa sang trị sự, làm roi 5 màu, dựng hai bên cổng tất cả 10 cây, ai phạm phải điều cấm, bất kể có là cường hào, đều bị nọc ra đánh đến chết". Và thật sự Tháo đã xách gậy đập chết chú của một trong Thập Thường Thị là Kiển Thạc.
Có lẽ không cần phải nói thêm về quyền lực của Thập Thường Thị vào thời điểm đó. Những người đối đầu với mười thái giám này đều bị đòn đau. Lang trung Trương Câu dâng sớ tố cáo chúng để rồi bị bức tử trong ngục, thậm chí danh tướng Hoàng Phủ Tung vì không hối lộ chúng mà phải bị cách chức, tước hết thực ấp. Vậy tại sao Tháo tung hoành bá đạo như thế nhưng lại không hề hấn gì?
Nếu chưa rõ ràng, hãy xét đến một hành vi cũng gần tương tự: Lưu Bị lúc là Huyện úy huyện An Hỉ, vì cái gì mà phải bỏ quan trốn đi sau khi gô cổ viên Đốc Bưu đánh cho hai trăm trượng? (trong TQDN thì người đánh Đốc Bưu là Trương Phi).
Rất rõ ràng, Bị tuy chỉ ĐÁNH BỊ THƯƠNG tay Đốc Bưu nhưng lại phải trốn bởi Bị không còn lựa chọn khác (nếu không muốn bị bắt). Tháo dù ĐÁNH CHẾT chú của Kiển Thạc nhưng dám ở lại bởi Tháo có chỗ dựa. So với Bị, gốc rễ của Tháo sâu xa, bền chắc, và CÓ THỰC CHẤT hơn nhiều. Bởi môn hạ, gia thần, người mang ơn Tào Đằng trong triều đình nhiều vô kể. Tháo gây chuyện, cũng có người nể mặt, cũng có người nói đỡ. Và sự thật là dù rất ghét Tháo, nhóm quan lại "thân hoạn quan" cũng như Thập Thường Thị cũng chỉ có thể thuyên chuyển Tháo mà thôi. Tam Quốc Chí chép: [Bọn sủng thần do đó đều ghét, nhưng không ai làm gì được, bèn cùng nhau tiến cử cho đổi qua làm Huyện Lệnh ở Đốn Khâu].
3 – “HOÀNG THẤT” VÀ “HOẠN QUAN” – ĐƯỜNG HOẠN LỘ NÀO RỘNG HƠN?
Hãy quay lại với hai thắc mắc ở đầu bài. Tại sao xuất thân của Tháo không tốt nhưng lại có nhiều cơ hội chiếm giữ nhiều lãnh thổ và nhân sự xuất sắc?
Nếu phân tích kỹ, sẽ thấy cái xú danh “con cháu hoạn quan” kia chẳng làm phương hại gì đến Tháo cả. Nếu đem so sánh tương quan với Lưu Bị, thì cái danh “Hoàng thất” lại càng thê thảm và không giúp ích được một chút gì. Cùng điểm qua các mốc chính của hai kiêu hùng này:
3.1 - KHỞI NGHIỆP: Tào Tháo bắt đầu con đường làm quan nhờ được đề cử làm Hiếu liêm. Đây là vị trí gì?
“Hiếu liêm” – cũng như “Mậu tài”, là những vị trí “tập sự làm quan”. Theo quan chế của nhà Hán đương thời, cứ 20 vạn người mới chọn ra 1 người là Hiếu liêm, và chỉ Thái thú một quận mới có quyền tiến cử. (Xét theo dân số thì mỗi huyện chỉ có 1-2 suất Hiếu liêm mỗi năm, chuyên giúp việc trong huyện như chủ bộ, tòng sự... Mậu tài là danh hiệu còn cao hơn hiếu liêm, mỗi châu chỉ được 1 người do Thứ sử tiến cử mỗi năm).
Và vì là “tiến cử”, nên ngoài thực học thì “quan hệ” và “xuất thân” cũng rất quan trọng. Anh có tài, nhưng không ai tiến cử, thì cơ hội làm quan của anh cũng rất thấp. Và điều này ứng rất đúng vào trường hợp của Lưu Bị.
Trong lúc Tháo được tiến cử, thì Bị làm gì? Không có xuất thân tốt, Bị chỉ có thể đi học - con đường phổ biến của giới hàn môn. Cũng may mà còn chút danh tiếng họ Lưu, được đi học chung với Công Tôn Toản, được thờ danh tướng dẹp khăn vàng Lư Thực làm thầy. Về mở đầu đường quan chức, Bị đã bất lợi hơn Tháo một bậc.
3.2 – CƠ HỘI TIẾN THÂN TRONG THỜI BÌNH:
Nhờ được tiến cử, Tháo có chức ngay. Cái chức này không tầm thường. Nó là một THỰC CHỨC: Bắc bộ úy Lạc Dương (Cảnh sát trưởng khu vực phía Bắc của Lạc Dương). Về mặt uy vọng và bổng lộc, nó có thể bằng hoặc hơn Thái thú của một quận trung hoặc quận nhỏ, vì Lạc Dương là đế đô, chức bộ úy cũng chỉ có 2 người là Bắc bộ úy và Nam bộ úy chia nhau mà thôi.
Trong lúc này, một “hoàng thất bắn đại bác mới tới” như Lưu Bị rốt cuộc có dùng được cái danh đó để giành được cơ hội nào không? Hay cũng chỉ biết đi học như bao sĩ tử hàn môn (nghèo hèn) khác?
Còn Tào Tháo, khi đó đã tận dụng cơ hội và chức quan đó để thu phục dân tâm, tạo nên uy vọng rồi. Sửa sang trị sự, khiêu chiến Thập Thường Thị tuy khiến hoạn quan ganh ghét nhưng cũng đem lại không ít tiếng tăm tốt đẹp cho Tháo trong lòng dân chúng. Về cơ hội tiến thân, Bị lại chậm hơn Tháo hai bước rồi.
3.3 – CƠ HỘI THĂNG TIẾN TRONG THỜI CHIẾN:
Nếu không có loạn Khăn Vàng, thì thật khó nói về cơ hội quật khởi của Bị. Nhờ có Khăn Vàng, Bị có cơ hội lập quân công và từ đó được thăng chức:
- Bị dẫn bộ thuộc theo quan Hiệu úy Trâu Tĩnh đánh dẹp giặc Khăn vàng có công, được thăng làm Huyện Uý huyện An Hỉ, trực thuộc Trung Sơn quốc của quận Trác, Ký châu (tương đương Trưởng Công an huyện của một huyện. Ở huyện thì đứng đầu là Huyện Lệnh, văn có Huyện Thừa mà võ là Huyện Úy).
- Tuy đã bắt đầu có chức, nhưng thiếu "xuất thân" và "quan hệ", con đường của Bị còn lắm nhọc nhằn. Chẳng hạn: sau khi tiếp tục lập công ở Đan Dương dưới trướng Quán Khâu Nghị, Bị được phong làm Huyện Úy huyện Cao Đường. Về thực chất là "đi ngang", không lên không xuống, bằng chức cũ, đã vậy còn phải xa quê hương, mà nói trắng ra là Quán Khâu Nghị thấy có tài nên trưng dụng Bị luôn.
Vậy Tháo thì sao? Khi Khăn Vàng vừa xuất hiện, Tháo CHƯA CẦN LÀM GÌ đã được phong ngay làm Kỵ Đô Úy (phụ trách kỵ binh của 1 Quận). Và khi Tháo lập quân công ở Dĩnh Xuyên, bèn được phong ngay làm Tế Nam Tướng. Tế Nam quốc gồm đến 10 huyện – chức của Tháo tương đương với Chủ tịch Ủy ban nhân dân một quận vừa (hoặc một huyện rất lớn) – rất chênh lệch so với cái chức Trưởng Công an huyện của Lưu Bị.
Tiếp dòng chiến sự, sau mấy lần lập công nữa, Bị mới lên được chức Bình Nguyên lệnh, rồi Bình Nguyên tướng (Bình Nguyên xưa được phong là "quốc" nên sách hay chép là Bình Nguyên quốc, về mặt quản lý hành chính thì nó tương đương với một huyện lớn – trực thuộc quận Trác của Ký châu, cũng giống Trung Sơn quốc, Tế Nam quốc vậy). À vâng, sau quá nhiều nỗ lực đánh đấm, cuối cùng anh Bị cũng lên được cái chức Chủ tịch UBND một huyện lớn phía Bắc. Nhưng khi đó thì Tháo đã được phong là Thái thú Đông quận (Chủ tịch UBND một quận lớn ở Trung Nguyên) luôn rồi. Đường hoạn lộ của Bị vẫn cứ sau Tháo ba bước.
Nhưng lúc đó Tháo làm gì? Tháo đã phát ốm với Hán triều, đách thèm làm quan, bỏ về nhà mộ binh luôn. Vốn liếng về danh tiếng và quan hệ trong thời kỳ này Tháo đã tích lũy đủ.
KẾT:
Rất rõ ràng, “xuất thân” và “quan hệ” khác nhau đã đem lại những THÀNH QUẢ THỰC TẾ rất khác nhau đối với hai kiêu hùng thời trẻ - vốn có lý tưởng và năng lực không quá chênh lệch nhau. Định kiến về xuất thân của Bị và Tháo, đã đến lúc cần phải được xem xét lại.
Nôm na thì, Tào Tháo là điển hình của người có gia thế, có tài năng và lý tưởng, lại có quan hệ sâu rộng, có thể bị một bộ phận quan lại ganh ghét nhưng cũng chẳng làm gì được. Bù lại Tháo dành được uy vọng trong lòng dân chúng cũng như một bộ phận giới quan lại/sĩ tộc trẻ tuổi, có hoài bão. Đó chính là tiền đề khiến cho rất nhiều nhân tài sau này lựa chọn về dưới trướng của Tháo.
Không phải Lưu Bị thua kém Tào Tháo về lý tưởng và năng lực, mà là Bị thua Tháo về XUẤT THÂN và CƠ HỘI THỂ HIỆN. Khi những Tuân Úc, Quách Gia...lựa chọn Tào Tháo, họ đâu có biết Lưu Bị là ai? Khi Khổng Dung ở Bắc Hải bị vây khốn và cầu cứu Lưu Bị, thậm chí Bị đã nói: [Khổng Bắc Hải cũng biết đến Lưu Bị à?] Câu nói cho thấy rõ, lúc đó Bị cần danh tiếng và Bị chưa có danh tiếng lớn. Bị, đơn giản là phải dùng tận năng lực để phấn đấu, để tạo ra danh tiếng mà thôi.