Sau cái kết của một câu truyện cổ tích...
[spoil]
Mọi chuyện tưởng tất cả đã kết thúc ở cái đêm Vô Hình tay trong tay cô bé Bell, mắt nhìn đăm đăm vào vẻ hòan hảo của mặt trăng tròn vành vạnh trong cái đêm tuyết rơi đó. Một kết thúc đẹp như một giấc mơ, một đọan kết có hậu của một câu truyện cổ tích.
Thế nhưng, đời không đẹp như người ta tưởng. Đúng là cuộc đời đôi khi hào phóng ban tặng cho những “diễn viên của cuộc đời” những khỏanh khắc đẹp như mơ, để rồi lạnh lùng đánh thức họ dậy với thực tại nghiệt ngã, lấp đầy tâm trí họ với những trở trăn lo tòan của đời thường
Sự thật thì cũng không đến nỗi nghiệt ngã lắm, ít ra là đối với Vô Hình. Với bộ trang phục len màu tím nhạt (hơi lấm tấm màu cháy xém ở găng và mũ) và một cái chăn bông dày, hắn không còn lo cô bé Bell bị rét run cầm cập mỗi khi cơn gió đông tinh nghịch thổi lùa vào những khe hở của tấm vách (mặc dù đã được Vô Hình đóng ván lại). Hắn cũng không lo lắng lắm về việc sống sót qua mùa đông, vì cũng đã mua đủ lương thực và kiếm đủ tiền dự phòng qua việc ‘cầm nhầm’ đồ của thiên hạ.
Thế vấn đề của Vô Hình nằm ở đâu khi mà nhiều người vô gia cư ngòai kia phải chống chọi với giá rét chỉ với ổ bánh mì cũ cầm hơi, đắp mềm một lớp dày những tờ báo mỏng manh và túi thì không có lấy một đồng xu cạo gió? Vấn đề đó không thuộc về hắn, mà là ở… cô bé Bell, cái cô bé đang ngồi thu lu ở một góc phòng, mắt muốn díp lại nhưng vẫn mở căng đôi mắt ánh tím thóang vẻ mỏi mệt ra, dõi theo từng nhất cử nhất động của hắn.
Kể từ cái ngày Vô Hình chơi trò ‘tự thiêu’ bàn tay và cô bé tự mình phá vỡ cái ảo tưởng về người cha đã mất, gã không rõ có nhặt nhầm cô bé nào khác có ngọai hình giống Bell hay không. Đôi gò má xanh xao hóp vô chút đỉnh, trông cô gầy hẳn đi, không phải do thiếu ăn mà là do thiếu ngủ. Gần nửa tuần nay, cô cứ lặng thinh quan sát gã và ngủ rất ít, và nếu có ngủ thì chỉ là những giấc mơ chập chờn, đứt đọan. Cái vẻ nói cười, họat bát của cô có lẽ cũng đã chìm đâu đó trong những giấc mơ như thế này
Nếu cô giật mình tỉnh giấc mà không thấy Vô Hình đâu, cô sẽ bắt đầu hốt hỏang dậm những bước chân nhỏ nhắn trên cái hành lang gỗ cũ kêu kẽo kẹt, lao đi tìm gã. Để rồi, khi thấy gã đang bận rộn trong nhà bếp chuẩn bị bữa tối, cô ôm chầm gã và vùi mặt vào áo khóac để giấu những giọt nước mắt chực ứa ra. Có lẽ cô sợ gã bỏ cô lại một mình, Vô Hình nghĩ thế, cho nên dạo này hắn cũng chỉ quanh quẩn ở nhà cho cô bé an tâm.
Nhưng, hắn lại nghĩ khi lặng lẽ gọt khoai, cứ đà này thì cô bé sẽ ốm mất thôi. Và hắn thở dài khi nghĩ mình đã tự tạo ra một vết thương tâm hồn khác cho cô bé với cái trò ‘tự thiêu’ kia. Nếu đến cuối tuần này mà cô bé vẫn thế, thì việc làm phiền bác sĩ Siegwelt Orsebész là điều không tránh khỏi
*
**
Thật ra thì có lẽ không chỉ có một mình cô bé Bell trăn trở. Có lẽ cuộc đời tuy không có sự công bằng nhưng lại có sự cân bằng, nên đã khiến Vô Hình trở trăn chung… cho vui.
Những lúc hiếm hoi trong màn đêm tĩnh lặng, khi mà tai gã có thể nghe nhịp thở phập phồng lên xuống của cô bé (nhịp sinh học của cô lại bị rối lọan sau đêm ấy), mắt gã mở thao láo như muốn nhìn xuyên qua bóng tối của căn hộ tồi tàn này. Biết đâu, trong cái bóng tối đen thăm thẳm được hắt sáng chút đỉnh bởi ánh trăng kia, sẽ hiện ra một cánh cửa giống như cánh cửa mà hắn đã gặp trong giấc mơ. Cánh cửa của kí ức.
Không có quá khứ, không thân thích, không có cả hình thù lẫn một cái tên, đó là hắn khi phát hiện mình tỉnh dậy trong một căn nhà hoang cũ kĩ, lại có gì đó rất quen nhưng hắn không sao nhớ được. Nhưng hắn không phải người lo nghĩ nhiều về chuyện kí ức bí mất và dễ dàng thích nghi với việc có một lỗ hổng to tướng trong quá khứ của mình. Cứ thế, hắn chắc cũng đã trải qua hơn chục năm sống trôi dạt từ nơi này sang nơi nọ, cho đến khi đến định cư ở cái thành phố mang tên Old Flower này khỏang trăm năm trở về trước. Những con người mà đã từng quen biết và giúp đỡ hắn có lẽ giờ đã ngậm cười nơi chín suối hết cả rồi.
Thế mà, chỉ trong vài ngày quen biết cô bé Bell, đã vài lần kí ức của hắn đến rồi lại vụt ra đi, như thể mời gọi, như thể quyến. Như bị bùa mê, cái niềm khao khát tìm lại quá khứ tưởng chừng đã biến mất lại trở dậy. Hắn muốn biết hắn là ai, là cái gì, từ đâu ra, nhưng không hiểu sao, cái hắn muốn biết, muốn nhớ nhiều nhất lại là cô bé tóc nâu dẻ mang nét vương giả bí ẩn kia.
Nhắc đến kí ức, hắn lục lại trong đầu xem mình còn nhớ gì nữa không, và kinh hòang nhận ra một điều: mình đang quên dần những kí ức đã chứng kiến trong ‘cánh cửa kí ức’ kia. Những đọan kí ức này có thể ví như những con tàu cập bến không neo buộc gì cả, và tất khắc sóng biển thời gian sẽ lặng lẽ đưa chúng đi. Gã sẽ lại quên, quên đi những gì gã đã nhớ được về cái thân phận của mình, về cô bé bí ẩn kia.
Phải ghi lại! Đúng thế, nếu đầu óc gã không làm được cái việc lưu giữ ấy, những trang giấy và một cây bút là thích hợp nhất. Phải ghi chép lại những gì gã còn nhớ ngay bây giờ, trước khi chúng lại trôi đi quá xa, quá tầm với của gã.
Lặng lẽ đặt cái mền mỏng tang chắp vá của mình xuống, cố gắng nhẹ nhàng hết sức để không đánh thức cô bé Bell đang say nồng giấc ngủ hiếm hoi của mình, gã rón rén bước tới tủ đồ âm tường đã sút hết một bên cửa, và lôi ra một cái hộp. Lờ mờ dưới ánh trăng, xấp giấy cũ vàng ám mùi mốc meo hiện ra cùng một vài mẩu bút chì ngắn cũn. Đây là thứ gã nhặt được khi đi tham quan căn nhà trọ cũ kì này, và phát hiện nó để trên sàn nhà, ở bên dưới một dây thừng thòng lọng buộc trên xà nhà. Thế là gã đem cất vào tủ phòng hờ khi cần, còn dây thừng kia thì gã lấy buộc đồ. Giờ là lúc xài đến nó.
Gã đem xấp giấy đặt dưới ánh trăng để thấy đường viết, đầu óc tập trung vào những kí ức còn sót lại. Hầu hết các kí ức đã phai mờ đến nỗi gã không còn nhớ chính xác chúng nói về cái gì. Lạ thay, có một cảnh gã lại nhớ rõ nhất, nhưng cũng là kí ức làm gã đau đớn nhất.
Thế là, gã cầm bút chì lên và bắt đầu hí hóay những đường nét trên mẫu giấy to bảng cũ kĩ. Gã không có nghĩ ngợi gì hơn là việc thể hiện ký ức trên trang giấy. Tiếng lọat sọat khẽ vang trong không gian yên ắng dưới cửa sổ hiu hắt ánh trăng, và gã quá tập trung đến nỗi không để ý cô bé Bell đã vài lần cựa mình. Gã lại quên mất là tai cô bé rất thính, nhưng có vẻ do quá mệt mỏi nên cô không màng mở mắt lên liếc một cái.
Gần cả tiếng đồng hồ sau, Vô Hình đặt bút xuống và thở dốc. Vẫn chưa có can đảm nhìn lại ‘tác phẩm’ của mình, gã tự đánh lạc hướng bản thân bằng cách kéo lại tấm chăn bông dày của cô bé, lúc này đã bị cô hất văng qua một bên. Ngủ không chăn giữa trời lạnh thế này dễ bị cảm lắm.
Việc gì đến rồi lại đến, Vô Hình rung rung cầm tờ giấy cũ mèm mà mình đã bỏ nhiều thời gian lẫn công sức ra ghi chú lại. Thật tình gã cũng không hiểu mình ghi gì mà mất công dữ vậy.
Và gã trố mắt ra. Cái gã đang cầm không phải là một trang nhật ký, cũng không phải một bảng ghi chú, mà là một…
-“Anh cũng có tài trong lãnh vực nghệ thuật đấy chứ, chàng vệ sĩ à”, tiếng cô gái tóc màu hạt dẻ trầm trồ
Gã giật mình quay lưng lại. Không có ai cả, ngọai trừ cô bé Bell thở phập phồng dưới ánh trăng hắt qua cửa sổ với khung gờ bám tuyết.
*
**
Cuộc đời luôn lắm những điều bất ngờ giành cho những người đóng vai chính trong chính cuộc đời của họ. Lần trước có ai đó nói gì đó về dân vô gia cư sống đắp giấy báo run rẩy chống chọi sự khắc nghiệt của mùa đông với cái bụng lép kẹp, thì bây giờ Vô Hình và cô bé Bell cũng… nhập ngũ họ luôn. Chính xác hơn là buộc phải làm thế
Các sự kiện diễn ra chớp nhóang khiến Vô Hình không thể tin được là mới hai ngày trước, hắn còn đang hí hóay bút chì, còn cô bé thì ngủ chập chờn bên cạnh; còn bây giờ, hắn phải cuốn gói khỏi căn nhà trọ cũ kĩ, mục nát nổi tiếng bị ma ám với giá cho thuê rẻ mạt.
Chả là thành phố Old Flower vào mùa đông này không hiểu vì sao xuất hiện lắm chuột. Phải nói là rất nhiều chuột, đến nỗi gần như nhà nào cũng có vài con sống chui rúc trong những lỗ tường, phi thân trên những nóc tủ, thoăn thoắt leo dây điện. Nói chung là ở đâu cũng có chuột viếng mâm cơm, gặm thảm trải sàn. Chỉ có nhà ai may phước nuôi mèo thì may ra thóat được ‘kiếp nạn’ này.
Thế thì liên quan gì đến hắn và căn nhà trọ hắn ở? Chính phủ nhận cả đống đơn cằn nhằn từ người dân về nạn chuột, và thế là họ phải thuê những tiểu đội diệt chuột lội tuyết lùng sùng từng ổ chuột để triệt hạ sạch. Nhưng thế vẫn chưa đủ, họ còn khoanh vùng luôn những kiến trúc cũ nát mà họ cho là có ổ chuột bên dưới, tiện tay giật sập luôn vì lý do “mĩ quan thành phố”. Ngôi nhà trọ của Vô Hình cũng vô phước thành mục tiêu.
Cho dù ai có đầu óc cũng biết những ngôi nhà cũ kĩ vắng người ở thế này đào đâu ra đồ ăn để có ‘ổ chuột’, thế nhưng lệnh của chính phủ thì ai cũng phải nghe theo. Vô Hình thì không muốn nghe theo, cho nên ông chủ nhà trọ - một ông già bận đồ đen nhỏ thó, cáu kỉnh - lắng nghe giùm. Mở cửa cái rầm khiến Bell giật mình nép sau lưng gã, mắt kinh hãi ngó ông già này khòm lưng đủng đỉnh đi vào trong, thông báo một câu xanh rờn với chất giọng khò khè nghẹt mũi:
-“Mai người ta đến giật sập nơi này”
Sau câu nói đó, ngày hôm sau, Vô Hình thấy mình tay phải nắm tay cô bé Bell, tay trái nắm một túi hành lý lỉnh kỉnh nồi niêu xoong chảo. Gã ngóai nhìn cánh cửa mục nát của căn nhà trọ cũ kĩ với giá thuê phòng rẻ mạt mà gã là khách trọ duy nhất, rồi thở dài kéo tay cô bé đi. Ít ra ông chủ nhà cũng trả lại cho hắn nửa tháng tiền trọ.
Nhiều người nếu đột nhiên lâm vào cảnh ‘mất nhà’ thế này chắc sẽ rối trí mà nghĩ quẫn, nhưng không phải trường hợp của Vô Hình. Nhưng hắn sẽ không đi thuê một căn hộ khác, vừa bị cắt cổ vừa bị hỏi giấy tờ lôi thôi. Hắn biết chỗ mình phải đi
‘Dân vô gia cư, bốn bể là nhà’, hắn từng nghe một ai đó hát lè nhè bên chai rượu của mình như thế. Từng có kinh nghiệm lang bạt nên gã không lo lắng lắm về nhà ở, chỉ cần đủ ấm và có ăn là sống khỏe. Bất giác, gã ngó cô bé ủ rũ nhấc đôi ủng đi tuyết nặng nề, lết thết đi theo sau gã, lòng tự hỏi liệu cô có thích nghi với kiếp sống không nhà này không.
Đầu hắn chợt lóe lên một ý tưởng. Có lẽ đủ để cô bé cười trở lại
*
**
Những con đường phố của Old Flower trông giống hệt mọi khi, vẫn những mái nhà rủ những thạch nhũ băng chực chờ rơi xuống, vẫn những bông tuyết lơ thơ theo chiều gió, vẫn lớp tuyết mịn dày phủ kín đường đi. Hai dáng ngươi một cao một bé ấy in những bước chân trên một trong những con đường như thế và hướng ra phía ngọai ô gần sông Everest.
Sông Everest, nơi có cảnh quang đẹp đón hướng mặt trời mọc với những hàng cây thông xanh rì tỏa bóng mát, vốn là một nơi lý tưởng để tổ chức những buổi picnic cùng gia đình hoặc cho những tay câu cá nghiệp dư thử sức. Ít ai biết được cái con sông chưa bị bàn tay con người làm hoen ố cũng là nguồn sống cho bao thế hệ dân vô gia cư sống cách đó chỉ khỏang vài cây số, bởi dòng nước trong lành nơi đây cung cấp cho họ cả nước uống lẫn những thứ tài nguyên có thể ‘ăn được’.
Và, nơi đây cũng là nơi giới cảnh sát rất ngán vì đây là ngọai ô có địa hình đồi núi lẫn tình hình địa bàn phức tạp, lại xa tiện nghi thành phố, nên chỉ thi thỏang họ mới chịu leo xe đi tuần một hai tiếng cho có lệ. Vô Hình cũng không có cảm tình với cảnh sát lắm, có lẽ do nghề của hắn, nên dọn về đây là có lý nhất. Nhưng đó không phải là lý do duy nhất hắn chọn nơi này.
Nơi ở của dân vô gia cư nhìn từ xa tưởng thuộc của một đại đội nào đó, với hằng hà xa số những lều bạt phủ tuyết làm bằng đủ thứ vật liệu tái chế: vải có, giấy báo có, thùng carton cũng có luôn. Dân sống ở đây cũng được gọi vui là ‘lính đánh thuê’, vì ai thuê gì họ làm nấy, miễn là có tiền và không trái với lương tâm. Những ai không đủ sức đi làm thuê nhưng có chút năng khiếu có thể tự sáng tạo ra những mặt hàng độc đáo, như cái ông cụ đeo đang khắc gỗ ở rìa khu trại kia kìa.
Ông cụ này cũng già lắm rồi, tóc bạc phơ, áo quần cũng lôi thôi vá chằng vá chịt, vác một bao lúa mì trên vai thôi cũng đủ để cụ sụm luôn. Nhưng nếu nói về tay nghề điêu khắc thì không ai hơn cụ cả. Những cây muỗng kiểng gỗ với họa tiết sắc xảo, những hình mộc trừ tà với hoa văn độc đáo… đều được hình thành dưới tay cụ. Mà tại sao hắn lại biết rành thế?
Tại vì hắn biết ông cụ. Và…
-“Phải anh đó không, Xác ướp?”, ông ta đẩy cái kính lão cong gọng lên, ngước mắt nhìn cái mặt quấn băng của Vô Hình với vẻ kinh ngạc.
Tiếng kêu của ông cũ khiến những người vô gia cư ngồi gần đó cũng quay lại ngó, và ai cũng há hốc miệng khi thấy hắn. Một số người bỏ dở cả công việc đang làm mà chạy lại tay bắt mặt mừng. Ai cũng ăn mặc luộm thuộm, khá rách ruới với những cái áo ấm sút chỉ te tua, hoặc lủng lỗ chỗ.
-“Trời trời, anh trốn đi đâu biệt tích cả năm nay”, giọng một cô gái cảm thán
-“Tưởng anh chết đâu rồi chứ”, tiếng ai đó cười ha hả
…Phải, mọi người ở đây ai cũng biết hắn. Quen khá thân là đằng khác.
-“Ủa, cô bé này là ai thế?”, sự chú ý của mọi người chuyển từ Vô Hình sang cô bé Bell, đang sờ sợ nép mình vào trong áo khóac của hắn, cố giấu mình khỏi những ánh mắt hiếu kì.
-“Cô bé là Bell”, hắn trả lời ngắn gọn, “Từ nay sẽ sống cùng với mọi người”
Đám đông lại gần để ngắm nghía cô bé kĩ hơn, và vài người bắt đầu lên tiếng bắt chuyện:
-“Dễ thương quá đi!”, có tiếng vỗ tay trầm trồ
-“Cháu mấy tuổi rồi hả cháu?”, một người trung niên râu phún phín mặc cái áo jacket sút một ống tay áo, đặt hai bàn tay chai sần lên đầu gối, cúi xuống hỏi với vụ cười thật tươi
Những lời khen chân tình, những câu hỏi dồn dập đầy sự quan tâm ấy lại khiến cô cảm thấy sợ hãi và trốn hẳn vào áo khóac của gã, nhắm tịt cả mắt lại. Đôi bàn tay nhỏ nhắn của cô giận giật gấu áo, ra hiệu dẫn cô đi đến chỗ khác tránh xa đám đông
Nhưng Vô Hình không kéo cô bé đi khỏi họ, cũng không lên tiếng giùm cô.
Gã nhẹ nhàng gỡ cô bé ra, đẩy nhẹ lưng cô, và sau đó chỉ đứng lặng thinh quan sát cô bé bối rối ngơ ngác giữa những ngươi vô gia cư. Những con người nghèo khổ này có thể hơi vồ vập chút đỉnh, nhưng gã biết họ là những con người tốt bụng.
Đã đến lúc cho cô bé thấy thế giới này không chỉ gói gọn trong sự hiện diện của gã, hay của cha cô.
-“Nhìn xem con bướm thóat kén đẹp chưa kìa”, tiếng của cô bé tóc dẻ nâu ngân nga tập tành triết lý, “Nếu con bướm kia không tự mình phá vỏ, thì nó chỉ mãi mãi là một cái kén xấu xí. Anh nghĩ sao nào?”
Gã ngóai đầu lại, và sau lưng chỉ là một cái cây thông cổ thụ với lá kim xanh rì cao chót vót, đứng hiên ngang thách thức cả mùa đông.
[/spoil]