Việc nói NA vì quyền lợi bản thân/giai cấp mà gây đổ máu cho cả dân tộc là hoàn toàn đúng, nhưng nếu nói ông ta bán nước thì chưa chắc.
Bởi NA không hề cắt đến 1 tấc đất cũng như không hề để người Xiêm hay người Pháp thao túng Kinh tế - xã hội - chính trị Việt Nam. Chính sách bế quan toả cảng cũng là một biện pháp (dù sai lầm) đặt để bảo vệ đất nước khỏi sự dòm ngó của người Pháp.
Nguyễn Huệ có vẻ không đánh giá cao người phương Tây, kết quả là triều Tây Sơn bị Nguyễn Ánh mượn tay người Pháp lật đổ, Nguyễn Ánh chắc chắn phải thấy rõ sự nguy hiểm của quốc gia phương Tây này nên mới đặt ra chính sách để ngăn cản.
Còn việc Gia Long có ngồi vào ngai vàng làm vua bù nhìn hay không thì chúng ta đều biết : Việt Nam đọ sức với Xiêm La trong nửa thế kỉ, cấm đạo Thiên Chúa, bế quan tỏa cảng chống thương nhân Pháp.
Và khi NA đã làm nên sự nghiệp như vậy, nói trắng ra là cướp đoạt xương máu của người khác, ở đây là xương máu của chính người Việt, để mà xây cho mình 1 cái ngai vàng thì ông ta không ngu chút nào mà ngược lại rất xảo quyệt.
Có thể nói N/A mưu mô, tàn ác, nhưng không thể nói là ông ta ngu.
Còn về việc phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam thời đó.
Bạn nên nhớ "TƯ BẢN" không phải đơn giản là tiền hay vốn. Cho dù địa chủ có cướp đoạt được của nhân dân bao nhiêu tiền của, cho dù họ có giàu đến đâu đi nữa thì số tài sản đó vẫn không phải là TƯ BẢn.
TƯ BẢN là số tiền/tài sản được dùng để đầu tư vào sản xuất (không nhất thiết là công nghiệp, tư bản nông nghiệp và tư bản ngân hàng ngày nay râtphổ biến, nhưng công nghiệp là biểu hiện rõ nhất) và từ đó sinh ra lợi nhuận và quan trọng hơn, sinh ra TƯ BẢN (có nghĩa là 1 phần tiền lời lại được sử dụng để đầu tư tiếp).
Thời bấy giờ, tài sản mà địa chủ tập trung được chủ yếu dùng để chi trả cho lối sống sa hoa của họ cũng như chi trả cho quân lính (để gây chiến hoặc bảo vệ họ trước những cuộc nổi dậy của nông dân).
Việt Nam lúc đó hầu như chẳng ai có ý nghĩ đầu tư để mở rộng sản xuất hết. Nền kinh tế vẫn hoàn toàn là tự cung tự cấp.
Nói tóm lại, giai cấp địa chủ/phong kiến có thể
tập trung được trong tay một lượng tài sản lớn, nhưng số người biết biến số tài sản đó thành TƯ BẢN thì chỉ đếm trên đầu ngón tay. Như vậy thì làm sao có thể chuyển cả một nền kinh tế của một quốc gia từ phong kiến lên TBCN. VIệc đó phải mất hàng trăm năm.
Vấn đề thứ hai nữa là về lực lượng sản xuất.
Đừng nghĩ kinh tế tư bản chủ nghĩa phải là một nền kinh tế công nghiệp hiện đại tập trung nhiều công nhân làm thuê.
Điều này là sai lầm.
Một trong những đặc điểm nổi bật nhất để phân biệt nền sx TBCN và PK chính là mức độ tập trung nhân công và phân công giai đoạn. Có thể không đến mức hiện đại, sử dụng nhiều máy móc nhưng nhất thiết phải có sự tập trung một mức độ công nhân nào đó.
Vì sao nó lại là điểm đặc trưng ?
Vì như vậy mới dẫn đến việc sản xuất hàng loạt được.
Vì sao cần sản xuất hàng loạt ?
Hồi nãy tui đã nói, một số vốn muốn được coi là TƯ BẢn thì nhất thiết phải có khả năng sinh lời và quan trọng nhất là tái sinh.
Nếu không sản xuất hàng loạt thì số hàng sinh ra chỉ có khả năng chi trả cho nhân công, chi phí sản xuất (không cần tính trường hợp lỗ). Không thể đáp ứng được cái yêu cầu "sinh ra tư bản" được.
Nước ta đến nay thì 70% vẫn là nông dân, vậy hỏi cách đây 200 tỉ lệ này là bao nhiêu ? Tui đoán là không dưới 95%.
Vậy lấy đâu ra lượng công nhân để tập trung cho công nghiệp/tiểu thủ công nghiệp để đưa hai nền sản xuất này thành sản xuất hàng loạt.
Còn về nông nghiệp, thậm chí các nước Âu Mỹ cũng phải từ thế kỉ 19 trở lại đây mới có sự xuất hiện của sản xuất hàng loạt trong nông nghiệp.
Lúc đó, mỗi người nông dân (hay là một nhóm nông dân) tự cày cấy trên mảnh ruộng của địa chủ giao rồi đến cuối mùa thì nộp sưu thuế cho địa chủ. Hầu như chẳng có sự tổ chức, phân công lao động nào hết.
Còn về thương mại, cho đến lúc người Pháp chiếm VN, chắc ai cũng biết tư tưởng sau đây vẫn giữ một ảnh hưởng rất lớn trong xã hội VN : "sĩ nông công thương"
Thương nghiệp được xếp chót thì làm sao mà có thể phát triển.
Công nhận vào cuối thế kỉ 18 đầu 19 chắc chắn lúc đó đã phải có những thương gia người Việt Nam, và số lượng chắc chắn phải đông đảo hơn cách đó mấy trăm năm. Nhưng số lượng thương gia cũng như số vốn của họ không lớn đến mức có thể tạo thành (hoặc tập trung thành) những công ty thương mại đủ mạnh để có thể tái sản xuất TƯ BẢN.
Bởi vì nếu có thì họ đã tậo trung rồi, bất chấp sự ngăn cấm hay không của giới phong kiến.
Đó là vấn đề chính trị.
Bạn nên nhớ không có một chính phủ nào lại tạo điều kiện cho các thế lực chống đối phát triển.
Do vậy sự phát triển của thế lực tư sản trong thời đại quân chủ phải là một quá trình tự nhiên chứ không thể được thúc đẩy bởi một chính phủ phong kiến. Chính phủ phong kiến, nếu muốn tồn tại, thì chắc chắn phải ngăn cản sự phát triển của tư sản. Điều này thể hiện rõ trong lịch sử châu Âu.
Vì sao mà nước Anh không chuyển qua chế độ tư bản một cách nhẹ nhàng mà phải tiến hành cách mạng ? Nước Pháp cũng vậy.
Nếu như bạn nói VN cuối thế kỉ 18, đầu 19 đã sẵng sàng bước qua giai đoạn TBCN thì cách mạng đã nổ rồi, bất chấp Gia Long có ngăn cản hay không, có thể không thành công ngay, nhưng phải có.
Một thực tế là trong suốt thời gian từ giữa thế kỉ 18 (tức là bắt đầu thời đại Tây Sơn) cho đến giữa thế kỉ 19 (VN bắt đầu bị xâm chiếm bởi Pháp) không có bất cứ một cuộc nổi dậy (không cần dùng đến từ cách mạng) nào mang màu sắc tư sản. Tất cả chỉ là những cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại sự áp bức của giai cấp phong kiến.
Việc không có một cuộc khởi nghĩa tư sản nào (tức là chính trị) chứng tỏ lực lượng tư sản còn rất yếu kém, do đó nền sản xuất TB (kinh tế) ở VN lúc đó còn rất yếu, có thể là trong giai đoạn bắt đầu hình thành, chế độ xã hội phong kiến vẫn giữ vị trí thống trị ở Việt Nam.
Quang Trung có thể thực hiện một số chính sách để thúc đẩy xã hội, kinh tế, nhưng chắc chắn cũng không thoát ra khỏi chế độ phong kiến. Có thể chúng sẽ thúc đẩy mầm móng tư bản phát triển nhanh hơn một chút, nhưng nếu không có can thiệp bên ngoài thì chắc chắn đến năm 1858 Việt Nam vẫn là một nước phong kiến.
(Nhật tiến hành cải cách là do tác động bên ngoài trước, sau mới đến tâm nguyện của Nhật Hoàng và thân dân)
Tóm lại cho mấy đoạn dài dòng ở trên thì ý tui là : về đối nội, kinh tế, chính trị và xã hội, nước VN thời đó chẳng có khả năng nào phát triển một nền sản xuất tư bản thực sự